tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18413880
27.10.2013
Nhiều tác giả
Chuyện về Nhà Nho Hồ Sĩ Tạo

Mộ Cụ Hồ Sĩ Tạo sau khi tôn tạo năm 2010.


(1841-1907)


Tự là Tiểu Khê, là một nho sĩ Nghệ An thế kỷ 19. Ông quê làng Lai Nhã, xã Thái Nhã, tổng Võ Liệt, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An, nay là xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.


Theo Gia phả Hồ tộc làng Song Nhã (họ Hồ ở thôn Lai Nhã - xã Thái Nhã - một nhánh của họ Hồ ở Cương Gián, Nghi Xuân, Hà Tĩnh và cũng từ ông tổ họ Hồ ở Quỳnh Đôi, Quỳnh Lưu, Nghệ An mà ra) chép: “Ông Hồ Sĩ Tạo, húy là Thàng, đẹp trai, học giỏi, thông minh, thi Hương đậu Giải nguyên, thi Hội trúng Tam trường. Lúc vào tứ trường phúc hạch thì bị vua đánh hỏng bởi vì đến triều Nguyễn, thời vua Tự Đức, Pháp sang xâm lược nước ta. Vua Tự Đức thì muốn đầu hàng, bèn ra bài thi phỏng vấn thí sinh, ai theo ý vua muốn đầu hàng thì đậu. Còn ai muốn đánh Pháp là trái ý vua. Bài của ông Tạo rất hay, song trái ý vua, cũng như những người yêu nước khác nên bị hỏng. Sau ông được bổ làm quan giáo dục huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tái bổ làm quan Thông phán 6 tháng. Sau đó tái bổ làm quan Tri phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.


 


Tương truyền lúc ông Hồ Sĩ Tạo trên 20 tuổi, tuy con nhà Nho giáo, song rất nghèo và thanh liêm, nên ông phải vừa đi học, vừa tự túc học thêm để trau dồi văn chương. Sử chép ông rất đẹp trai, nhất là hát đối đáp và đàm đạo văn chương. Ông từng ngồi dạy học ở nhà ông Hà Văn Cẩn. Trong gia phả chữ Hán có chép có cô con gái rượu của ông Cẩn là Hà Thị Hy, một người nhan sắc xinh đẹp đã yêu ông Tạo. Khi ông Tạo về nhà xin cha cho hỏi cô Hy làm vợ, thì cụ thân sinh là Hồ Sĩ Tuyển chưa cho lấy, vì chưa đậu đạt thành danh. Do đó, ông Tạo đành ngậm ngùi, không dám xuống làng Mậu Tài dạy học nữa và nói lời từ biệt… Tương truyền khi bà Hy lâm bệnh chết, ông Tạo làm điếu văn, đọc ở mộ, mọi người có mặt ai cũng cảm động và khóc cùng tang quyến”.


 


Ở trang sau trong gia phả, phần “Đôi điều suy diễn” chép tiếp: “Truyền rằng cụ Hồ Sĩ Tạo đi lại với bà Hà Thị Hy ở làng Mậu Tài, Nam Đàn thuở xuân xanh. Khi bà Hy còn mang thai, thì cụ Tuyển chưa cho ông lấy vợ để lên đường chấp kinh thi cử. Cụ Nguyễn Sinh Nhậm chết vợ, vả lại đã già yếu, lấy bà Hy làm vợ kế. Thai này ra đời là cụ Nguyễn Sinh Sắc” (Nguyên văn chữ Hán do ông Hồ Sĩ Thanh dịch, tháng 12/1948).[1][2].


 


Hồ Sỹ Tạo đỗ đầu kỳ thi Hương (Giải nguyên, Cử nhân) năm Tự Đức thứ 21(1868), (cùng khoa thi này Hoàng Cao Khải đậu cuối bảng) và là người đầu tiên giành được thứ hạng này ở tổng Võ Liệt. Sau ông được bổ làm quan giáo dục huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tái bổ làm quan Thông phán 6 tháng. Sau đó tái bổ làm quan Tri phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.Ông nổi tiếng hay chữ, bấy giờ ở xứ Nghệ có câu: “Văn Giao, phú Tạo, thơ Thành” (Văn hay có Nguyễn Văn Giao, phú giỏi có Hồ Sĩ Tạo, thơ đặc sắc có Nguyễn Nguyên Thành).


Ông là thầy học của nhiều nhà khoa bảng xứ Nghệ và là người có công dạy dỗ, giúp đỡ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc trên con đường cử nghiệp.


Tác phẩm


Thơ văn của ông hiện nay con cháu không còn giữ được, bị thất lạc trong cải cách ruộng đất. Ông đã từng cùng em họ là Cử nhân Hồ Sĩ Tuấn đến thăm nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi và lưu lại ở đây đôi câu đối:


      Trâm anh nhất thổ Quỳnh Đôi trụ


      Hương hoả thiên thu Cổ Nguyệt đường


(Hồ Sĩ Hùy tạm dịch: Nhà thờ họ Hồ nghìn thu hương hoả. Cột trụ Quỳnh Đôi một sắc trâm anh)


Ông còn có câu đối mừng thọ cụ Can Bang 80 tuổi. (Cụ ở xã Đại Đồng, tổng Đại Đồng, huyện Thanh Chương, là mẹ Cử nhân Nguyễn Như Cơ (đậu năm 1882) và là em gái Tiến sĩ Nguyễn Hữu Điển (1825- ?) đậu Cử nhân năm 1846, Tam giáp Tiến sĩ năm 1853):


Yên Sơn đan quế liên phương nhật/ Vương Mẫu bàn đào kết thực niên. (Tạm dịch: Bàn đào Vương Mẫu năm năm kết trái/ Đan quế Yên Sơn ngày ngày toả hương).


Lúc làm Tri phủ ở Quảng Trạch, Quảng Bình mắc tội, bị giáng làm Giáo thụ (phụ trách việc học ở phủ), ông có làm câu đối tự thuật:


     Ngã đặc hà vi đa sự tai: thiếu phủ hư danh sĩ, tráng tác hoạn trường nô, gián hữu thất túc ư quốc sự tù, bán thế dĩ thành tam biến kiếp;


     Kim khả dĩ cáo vô tội hĩ: triêu xuất canh điền ông, mộ nhập quán viên tẩu, dạ lai vĩnh toạ thính gia nhi độc, dư sinh tằng vấn kỷ tri âm!


Cụ Nguyễn Văn Huyền dịch:


    Riêng ta sao mà lắm chuyện thay: trẻ là kẻ sĩ hư danh, lớn là đầy tớ quan lớn, giữa chừng lỡ chân quốc sự vào tù, nửa đời từng qua ba bốn kiếp;


   Nay mình đáng nói không tội vậy: sớm làm ông già cày ruộng, chiều thành cụ lão tưới vườn, tối đến nghe lũ gia nhi ngồi học, tuổi chưa từng hỏi mấy tri âm! [3] (Theo Tổng tập Văn học Việt Nam, tập 19, NXB  KHXH).


 


wikipedia


 


   


Lời truyền miệng dân gian về Hồ Chí Minh


 


BBC Việt ngữ: Một trong những nhà sử học nổi tiếng nhất của Việt Nam, ông Trần Quốc Vượng, đã qua đời, thọ 71 tuổi.


 


Tin từ Việt Nam cho biết giáo sư Trần Quốc Vượng đã nằm viện một tháng nay vì căn bệnh ung thư thực quản.


 


Ông qua đời vào lúc 2h55 sáng nay.


 


Tang lễ sẽ được cử hành vào sáng 12-8-2005 ở Nhà tang lễ Bộ Quốc phòng, Hà Nội.


 


Là tác giả của hàng chục đầu sách và nhiều bài viết, từ nhiều thập niên qua, ông được xem là một trong những nhà khảo cổ học và nghiên cứu sử Việt Nam hàng đầu.


 


Nghe phỏng vấn với giáo sư Trần Quốc Vượng năm 2003


 


Một trong những bài viết gần đây của ông, ''Hà Nam quê tôi'', có thể đọc bằng cách bấm vào link bên phải.


 


Một bài viết khác liên quan chủ đề lịch sử khi ra đời năm 1993 đã gây ý kiến trái chiều.


 


Đó là "Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia (kinh nghiệm điền dã)", in trong quyển Trong Cõi (NXB Trăm Hoa, California, 1993). Đây là tập hợp một số tiểu luận của giáo sư Trần Quốc Vượng sau chuyến đi công tác ở Hoa Kỳ.


 


Chủ đề chính của bài là thông qua những kinh nghiệm hỏi chuyện dân gian, người ta có thể biết những điều mà sách vở không nhắc đến.


 


Theo tác giả, "Đây là những lời truyền miệng nhân gian, cho nên cùng lắm, chúng chỉ có thể coi là những giai thoại mà, nếu không khó tính lắm, ta cũng có thể gọi là những giai thoại lịch sử”.


 


"Nói theo kiểu Pháp, những điều tôi cố gắng ghi lại một cách trung thực qua công tác điền dã dưới đây là Thật mà không chắc là Thực”.


 


Dưới đây là trích đoạn phần cuối của tiểu luận của Trần Quốc Vượng:


 


Cũng đã có dăm cuốn sách nói về gia thế cụ Hồ Chí Minh, nhưng câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì chưa từng ai viết.


 


Chỉ là lời truyền miệng dân gian, ở Kim Liên, Nam Đàn, ở một số người gốc Nghệ hiện sống tại Hà Nội và nhiều nơi khác trên mảnh đất Việt Nam. Nếu trong Folklore, có hiện tượng mà các nhà nghiên cứu gọi là "lan truyền" (de transfest folklorique) thì từ lâu câu chuyện này cũng đã lan truyền từ làng Kim Liên ra khắp huyện Nam Đàn rồi khắp tỉnh Nghệ Anh rồi rộng ra hơn nữa... Nhưng phạm vi lan truyền và số người biết câu chuyện này phải nói là hạn hẹp. Vì người ta sợ động chạm đến cụ Hồ. Một cái sợ vô nghĩa (insignifiant) nhưng người ta cứ gán cho nó cái ý nghĩa chính trị giả tạo. Vì như bà Trịnh Khắc Niệm viết trong cuốn tiểu truyện bằng tiếng Anh "Life and Death in Shanghai, đã được phiên dịch ra tiếng Việt, ở xã hội "xã hội chủ nghĩa", cuộc đời của các lãnh tụ cộng sản được coi là "bí mật quốc gia".


 


Nhưng đây không phải là chuyện cụ Hồ, tuy cũng có dính dáng đến cụ Hồ. Mà vì đây là chuyện cụ thân sinh ra cụ Hồ, cụ Nguyễn Sinh Huy, mà cũng là chuyện truyền miệng thôi, nghĩa là thuộc phạm trù giai thoại, Folklore, chứ không thuộc phạm trù lịch sử, như tôi đã nói từ đầu bài này.


 


Người dân Kim Liên đồn rằng Nguyễn Sinh Huy không phải là thuộc dòng máu mủ của họ Nguyễn Sinh làng này. Mà là con của một người khác: ông đồ nho - cử nhân - Hồ Sĩ Tạo.


 


Cử nhân Hồ Sĩ Tạo thuộc dòng họ Hồ nổi tiếng ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An (đây là quê gốc của Hồ Quý Ly, nhân vật lịch sử cuối thế kỷ XIV đầu thế kỷ XV, đây cũng là quê gốc của anh em Tây Sơn thế kỷ XVIII, vốn họ Hồ ở xứ Nghệ, đây cũng là quê hương Hoàng Văn Hoan, người đồng chí thân cận một thời của cụ Hồ Chí Minh, được cụ Hồ giao phụ trách công tác đối ngoại của Đảng Cộng Sản Việt Nam và chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa thời kháng chiến chống Pháp và là Đại sứ Việt Nam đầu tiên ở Cộng Hòa nhân dân Trung Hoa, hiện sống lưu vong ở Trung Hoa, có viết một tài liệu lịch sử làng Quỳnh Đôi, quê ông. Bà vợ nhà văn lớn Đặng Thái Mai - người một thời làm Viện trưởng viện Văn Học - là Hồ Thị Toan, cũng thuộc dòng họ Hồ này ở làng Quỳnh Đôi). Khoảng đầu những năm 60 của thế kỷ trước (thế kỷ XIX) cử nhân Hồ Sĩ Tạo có thời gian ngồi dạy học ở một nhà họ Hà, người làng Sài, cùng một xã Chung Cự, tổng Lâm Thịnh, huyện Nam Đàn, với làng Sen (Kim Liên). Đó là một nhà nghệ nhân dân gian, trong nhà có "phường hát ả đào".


 


Nhà họ Hà có cô con gái tên là Hà Thị Hy, tài hoa, nhan sắc, đàn ngọt, hát hay, múa khéo, đặc biệt là múa Đèn (đội đèn trên đầu, để đèn trên hai cánh tay, vừa hát vừa múa mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài) nên người làng thường gọi là cô Đèn. Người ta thường bảo: má hồng thì mệnh bạc (như Đặng Trần Côn viết mở đầu khúc Chinh Phụ Ngâm "hồng nhan đa truân" - gái má hồng nhiều nỗi truân chuyên. Hay như Nguyễn Du than thở dùm người đẹp tài hoa trong truyện Kiều "chữ tài chữ Mệnh khéo là ghét nhau", "rằng hồng nhan tự thuở xưa, cái điều bạc mệnh có chừa ai đâu"). Vả ở thời ấy, dưới chế độ quân chủ nho giáo, lấy Tứ Dân (Sĩ, Nông, Công, Thương) làm gốc, người ta vẫn xem thường nghề ca xướng và con nhà ca xướng ("xướng ca vô loài"). Cô Đèn Hà Thị Hy tài hoa nhan sắc là thế mà rồi ba mươi tuổi vẫn chưa lấy được chồng. Mà trong nhà thì lại luôn có bậc văn nhân: ông cử Hồ Sĩ Tạo. "Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén" là lẽ thường theo tâm lý dân gian, huống chi là giữa văn nhân - tài tử - giai nhân. "Trai tài gái sắc" mà! Và cô Hà Thị Hy bỗng dưng "không chồng mà chửa". Mà ông cử Tạo thì đã có vợ, có con rồi! Lệ làng ngày trước phạt vạ rất nặng nề, sỉ nhục hạng gái "chửa hoang", hạng "gian phu dâm phụ". Để tránh nỗi nhục cho con gái mình và cho cả ông cử Tạo đang làm "thầy đồ" được hết sức kính trọng trong nhà mình, họ Hà phải bù đầu suy tính...


 


Lúc bấy giờ ở làng Sen cùng xã có ông Nguyễn Sinh Nhậm, dân cày, tuổi cao mà góa vợ (bà vợ trước đã có một con trai - Nguyễn Sinh Thuyết - và người con trai này cũng đã có vợ). Nhà họ Hà bèn cho gọi ông Nguyễn Sinh Nhậm đến điều đình, "cho không" cô Hy làm vợ kế ông này - như một người con gái xướng ca, quá lứa, lỡ thì, lấy ông già góa vợ - mong ém nhém việc cô gái đã "to bụng".


 


Công việc rồi cũng xong. Cô Hy ôm bụng về nhà chồng, có cưới, có cheo cẩn thận. Việc phạt vạ của làng không thể xảy ra. Nhưng cô gái tài hoa nhan sắc thì bao đêm khóc thầm vì bẽ bàng, hờn duyên tủi phận. Và ông lão nông dốt nát tuy được không cô gái đẹp nhưng cũng buồn vì đâu có đẹp đôi, lại cắn răng chịu đựng cái tiếng ăn "của thừa", "người ăn ốc (ông cử Tạo), kẻ đổ vỏ (cụ lão nông Nhậm)". "Miệng tiếng thế gian xì xầm", ai mà bịt miệng nổi dân làng. Mà trước hết là lời "nói ra, nói vào", lời chì chiết của nàng dâu - vợ anh Thuyết - vốn nổi tiếng ngoa ngoắt, lắm điều. Ông Nhậm đành cho con trai và vợ anh ta ra ở riêng, và mình ở riêng với bà vợ kế.


 


Chỉ ít tháng sau, bà vợ kế này đã sinh nở một mụn con trai, được ông đặt tên là Nguyễn Sinh Sắc, lấy họ ông mặc dù ông biết rõ hơn ai hết đó không phải là con ông, con nhà họ Nguyễn Sinh này. Nàng dâu ông càng "tiếng bấc, tiếng chì" hơn trước, vì ngoài việc bố chồng "rước của tội, của nợ", "lấy đĩ làm vợ" thì nay còn nỗi lo": người con trai này - được ông nhận làm con - lớn lên sẽ được quyền chia xẻ cái gia tài vốn cũng chẳng nhiều nhặn gì của một gia đình nông phu thôn dã. Việc ấy xảy ra vào năm Quý Hợi, đời vua Tự Đức thứ 16 (1863).


 


Vì trọng tuổi, lại vì lo phiền, vài năm sau cụ Nhậm qua đời và cũng chỉ ít lâu sau đó, bà Hy cũng mất. Nguyễn Sinh Sắc trở thành đứa trẻ mồ côi. Lên bốn, về ở với người anh gọi là "cùng cha khác mẹ" mà thật ra là "khác cả cha lẫn mẹ", cùng với bà chị dâu ngoa ngoắt, khó tính, lúc nào cũng chỉ muốn tống cổ cái thằng "em hờ" của chồng này đi cho "rảnh nợ".


Không cần nói, ta cũng hiểu Nguyễn Sinh Sắc khổ tâm về tinh thần, khổ cực về vật chất như thế nào trong cái cảnh nhà Nguyễn Sinh như vậy. Ta cảm thấy vô cùng thương xót một đứa trẻ mồ côi sớm chịu cảnh ngang trái của cuộc đời. Bên ngoại thì ông bà đều đã mất, họ Hà chẳng còn ai chịu cưu mang đứa trẻ có số kiếp hẩm hiu này.


 


May có ông tú đồ nho Hoàng Xuân Đường, người làng Chùa (Hoàng Trù) gần đó, xót thương đứa trẻ, dù sao cũng là hòn máu rơi của một nhà nho khác, lại có vẻ sáng dạ, nên đã đón về làm con nuôi, cho ăn học. Và đến khi Nguyễn Sinh Sắc 18 tuổi, ông bà đồ họ Hoàng lại gả cho cô con gái đầu lòng - Hoàng Thị Loan - mới 13 tuổi đầu, cho làm vợ, lại làm cho căn nhà tranh ba gian ở ngay làng Chùa, để vợ chồng Nguyễn Sinh Sắc ở riêng.


 


Ta dễ hiểu vì sao Nguyễn Sinh Sắc gắn bó với họ hàng làng quê bên vợ - làng Chùa - hơn là với làng Sơn "quê nội", quê cha "hờ". Con cái ông, từ người con gái đầu Nguyễn Thị Thanh, qua người con trai đầu Nguyễn Sinh Khiêm (tục gọi ông cả Đạt) đến người con trai thứ Nguyễn Sinh Côn (hay Nguyễn Tất Thành - sau này là Nguyễn Ái Quốc rồi Hồ Chí Minh) đều được sinh ra và bước đầu lớn lên ở làng Chùa bên quê Mẹ hay là quê "ngoại". Khi cụ tú Hoàng (Hoàng Xuân Đường) mất, vợ chồng con cái Nguyễn Sinh Sắc lại về ăn ở chung với bà đồ (tú) Hoàng. Các cháu đều quấn quít quanh bà ngoại.


 


Qua giỗ đầu cụ tú Hoàng, Nguyễn Sinh Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ và đậu cử nhân (1894). Ông được nhận ruộng "học điền", ruộng công của làng Chùa chia cho những người có học (nhằm khuyến khích việc học) để học thêm - chứ không phải nhận ruộng học của làng Sen. Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), ông thi trượt.


 


Nhờ sự vận động gửi gấm của ông Hồ Sĩ Tạo - người cha thực của Nguyễn Sinh Sắc - với các quan lại đồng liêu quen biết ở triều đình Huế, Nguyễn Sinh Sắc được coi như ấm sinh, để được nhận vào học Quốc Tử Giám ở kinh đô Huế. (Ai cũng biết: để được nhận vào học Quốc Tử Giám và làm Giám sinh phải là con cháu của những gia đình có thế lực, gọi là "danh gia tử đệ". Nếu không có sự "can thiệp" của ông Hồ Sĩ Tạo là bậc khoa bảng cao quan thì làm sao Nguyễn Sinh Sắc được nhận? Thế là dù sao Hồ Sĩ Tạo vẫn còn có một "cử chỉ đẹp" với đứa con mà mình không dám nhận). Nguyễn Sinh Sắc - đổi tên là Nguyễn Sinh Huy - đem vợ và hai con trai vào Huế và đi học Quốc Tử Giám. Khoa thi Hội Mậu Tuất (1898), ông lại trượt.


 


Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tý (10-2-1901) bà Hoàng Thị Loan ốm mất ở kinh đô Huế, sau khi sinh đứa con trai út (đứa con trai này ít ngày sau cũng chết). Nguyễn Sinh Côn (Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh ngày nay) trở thành con trai út.


 


Nguyễn Sinh Huy đem hai con trai về làng Chùa gửi mẹ vợ nuôi nấng chăm sóc dùm rồi trở vào Kinh thi Hội. Khoa Tân Sửu (1901) này, ông đậu phó bảng và được "vinh quy bái tổ" về làng.


 


Theo thể thức triều đình, lễ vinh quy này phải diễn ra ở quê nội - dù là quê nội danh nghĩa - tức là làng Sen - Kim Liên. Hội đồng Hương lý và dân xã đã dựng nhà tranh năm gian (chứ không phải nhà ngói) trên một khoảnh đất vườn làng Sen, để đón quan phó bảng tân khoa Nguyễn Sinh Huy về làng.


 


Thế là buộc lòng ông phải về "quê nội". Ông cũng đón hai con trai về ở cùng ông. Lần đầu tiên Nguyễn Sinh Côn - Hồ Chí Minh ngày sau - về ở quê nội nhưng thân ông, lòng ông vẫn hướng về quê ngoại là cái gì "đích thực" và gắn bó với tuổi thơ ông. Ông phó bảng có đến thăm cụ Hồ Sĩ Tạo.


 


Nhưng gia đình ông phó bảng cùng hai con trai cũng không ở lâu tại Kim Liên. Chưa đầy ba năm! Sau khi mẹ vợ mất, ông vào kinh đô Huế nhận chức quan (1904) ở bộ Lễ, đem theo hai con trai vào Huế học. Năm 1907, ông bị đổi đi tri huyện Bình Khê... Rồi sau khi bỏ quan (hay mất quan), khoảng 1910, ông phiêu bạt vô Sài Gòn rồi lục tỉnh Nam Kỳ. Không bao giờ ông về làng Sen trở lại nữa.


 


Ở làng Sen sau này, chỉ có bà Thanh và ông Cả Đạt (Khiêm), cả hai đều không lập gia đình riêng.


Người ta bảo lúc sau khi cụ Hồ Sĩ Tạo đã qua đời, năm nào bà Thanh cũng qua Quỳnh Đôi góp giỗ cụ Hồ Sĩ Tạo. Thế nghĩa là cái "bí mật" về cội nguồn của cụ phó bảng Huy, trong số các con cụ, ít nhất có bà con gái đầu biết. Người ta bảo: ông Cả Đạt cũng biết, tuy không bao giờ ông sang Quỳnh Đôi nhận họ.


 


Còn Nguyễn Sinh Côn - Nguyễn Tất Thành - có biết không? Từ khoảng 11 đến 14 tuổi, ông ở làng Sen, có nhẽ nào không ai nói cho ông biết? Hay là trước đó nữa, khi ông ở làng Chùa quê ngoại gần gụi với làng Sen! Hay là sau đó nữa chả nhẽ không khi nào cụ phó bảng hay bà Thanh hay ông Cả Đạt lại không kể với ông về "bí mật" của gốc tích phụ thân mình?


 


Không có chứng cớ gì về việc ông Nguyễn Tất Thành - Nguyễn Ái Quốc - biết hay không biết chuyện này...


 


Sau này, khi hoạt động cách mạng, ông còn mang nhiều tên khác nữa.


 


Nhưng đến đầu thập kỷ 40 của thế kỷ này, thì người ta thấy ông mang tên Hồ Chí Minh.


 


Sau cách mạng tháng Tám 1945, khi tên tuổi Hồ Chí Minh trở thành công khai thì cũng bắt đầu từ đó dân gian Việt Nam - từ trí thức đến người dân quê - lại âm thầm bàn tán: vì sao Nguyễn Ái Quốc lại đổi tên là Hồ Chí Minh? Và tên này cụ giữ mãi cho tới khi "về với Các Mác, Lê-nin" năm 1969.


 


Cuộc đời thực của Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh - còn quá nhiều dấu hỏi chứ phải đâu riêng gì một cái tên! Và biết làm sao được khi cụ Hồ - tôi nói lại một lần nữa theo cảm thức của người Ấn Độ - đã trở thành "huyền thoại" (myth). Huyền thoại Hồ Chí Minh được hình thành trong vô thức dân gian (popular inconscience) mà Carl Gustav Jung gọi là vô thức tập thể. Nhưng nó cũng có phần được hình thành một cách hữu thức, bởi một số cán bộ gần cận cụ Hồ. Nghĩa là một phần cuộc đời cụ Hồ đã được huyền thoại hóa (mystified).


 


Ngay sau cách mạng tháng Tám, người ta còn in cả cuốn sách (mỏng thôi!) về Sấm Trạng Trình có những câu vận vào cụ Hồ và sự nghiệp cách mạng tháng Tám. Và Sấm Trạng Trình vẫn được vận vào cụ Hồ còn lâu về sau nữa, ở miền Nam Việt Nam và hiện nay ở một số người Việt lưu vong, dù là với hậu ý (arrière-pensée) không ưa gì cụ Hồ.


 


Nhưng đó lại không phải là chủ đề của bài viết này.


 


Trở lại với cái tên Hồ Chí Minh, lời truyền miệng dân gian bảo rằng: Nguyễn Ái Quốc sau cùng đã lấy lại họ Hồ vì cụ biết ông nội đích thực của mình là cụ Hồ Sĩ Tạo, chứ không phải cụ Nguyễn Sinh Nhậm.


 


Và dân làng Sen cũng bảo: Thì cứ xem, lần đầu tiên về thăm quê hương, sau cách mạng, sau mấy chục năm xa quê (15-6-1957), từ thị xã Vinh - tỉnh Nghệ An - cụ Hồ đã về làng Chùa trước, rồi sau mới sang làng Sen "quê nội".


 


Riêng tôi nghĩ, thì cũng phải thôi. Vì như ở trên ta đã thấy, cả một thời thơ ấu của cụ Hồ là gắn bó với quê ngoại làng Chùa, nơi cụ sinh ra và bước đầu lớn lên. Chứ đâu phải làng Sen, là nơi cụ chỉ ở có vài năm, lại là khi đã bắt đầu khôn lớn?


 


Tôi không muốn có bất cứ kết luận "khoa học" gì về bài viết này. Vì nó không phải là một luận văn khoa học. Đây chỉ là việc ghi lại một số lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh hay là cái khổ tâm, hay là cái "mặc cảm" của một số nhà trí thức Nho gia từ đầu thế kỷ XIV (Trương Hán Siêu, Chu Văn An) đến đầu thế kỷ XX (Nguyễn Sinh Huy) đối với làng quê.


 


Còn viết lách, thì bao giờ chẳng là chuyện: "thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý".


 


Trần Quốc Vượng


 


MỘT GÓC KHUẤT TRONG THẾ GIỚI TÌNH CẢM CỦA HỒ SĨ TẠO


 


Trần Minh Siêu


 


Dưới triều đại vua Lê Duy Tông (1705- 1729), ở xã Thanh Quả, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An có quan Hữu sự Toàn Quận công người họ Đậu, hưu trí về quê chiêu tập người bốn phương khai khẩn đất hoang, lập thành xã Thất thôn gồm có: Nã Điền, Thanh Chư, Bàn Thạch, Bảo Đức, Lai Nhã, Mô Vinh.


 


Cùng lúc ấy, theo lời kêu gọi của quan Quận công họ Đậu ở làng Cương Gián, huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh có ông bà Lương, người họ Hồ, hậu duệ của Hồ Tôn Thành đến huyện Thanh Chương tham gia khai phá đất rừng, lập nên thôn Lai Nhã. Đến triều vua Cảnh Thịnh thứ 5 (1798) có Hồ Yên Định là quan Chánh sứ phẩm Thống Chương đại phu đổi xã Thất Thôn, thành Thái Nhã, Thôn Lôi Nhã, Thành Lai Nhã. Thôn Lai Nhã thuộc xã Thái Nhã nên thường gọi là Song Nhã.


 


Người con trai thứ 4 của Hồ Yên Định là Hồ Sỹ Tuyển đậu 3 khoa tú tài nên nhân dân thường gọi là Mền Tuyển.


 


Con trai của Hồ Sỹ Tuyển là Hồ Sỹ Tạo, sinh năm 1841. Gia phả họ Hồ ở Song Nhã chép: “Ông Hồ Sỹ Tạo, húy là Thàng, đẹp trai, học giỏi, thông minh, thi Hương đậu giải Nguyên, thị Hội trúng Tam trường. Lúc vào tứ trường phúc hạch thì bị vua đánh hỏng bởi vì đến triều Nguyễn, thời vua Tự Đức, Pháp sang xâm lược nước ta. Vua Tự Đức thì muốn đầu hàng, bèn ra bài thi phỏng vấn thí sinh, ai theo ý vua muốn đầu hành thì đậu. Còn ai muốn đánh Pháp là trái ý vua. Bài của ông Tạo rất hay, song trái ý vua, cũng như những người yêu nước khác nên bị hỏng. Sau ông được bổ làm quan giáo dục huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Tái bổ làm quan Thông phán 6 tháng. Sau đó tái bổ làm quan Tri phủ Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.


 


Tương truyền lúc ông Hồ Sỹ Tạo trên 20 tuổi, tuy con nhà Nho giáo, song rất nghèo và thanh liêm, nên ông phải vừa đi học, vừa tự túc học thêm để trau dồi văn chương. Sử chép ông rất đẹp trai, nhất là hát đối đáp và đàm đạo văn chương. Ông từng ngồi dạy học ở nhà ông Hà Văn Cẩn. Trong gia phả chữ Hán có chép có cô con gái rượu của ông Cẩn là Hà Thị Hy, một người nhan sắc xinh đẹp đã yêu ông Tạo. Khi ông Tạo về nhà xin cha cho hỏi cô Hy làm vợ, thì ông Tuyển chưa cho lấy, vì chưa đậu đạt thành danh. Do đó, ông Tạo đành ngậm ngùi, không dám xuống làng Mậu Tài dạy học nữa và nói lời từ biệt… Tương truyền khi bà Hy lâm bệnh chết, ông Tạo làm điếu văn, đọc ở mộ, mọi người có mặt ai cũng cảm động và khóc cùng tang quyến”.


 


Ở trang sau trong gia phả, phần “Đôi điều suy diễn” chép tiếp: “Truyền rằng cụ Hồ Sỹ Tạo đi lại với bà Hà Thị Hy ở làng Mậu Tài, Nam Đàn thuở xuân xanh. Khi bà Hy còn mang thai, thì cụ Tuyển chưa cho ông lấy vợ để lên đường chấp kinh thi cử. Cụ Nguyễn Sinh Nhậm chết vợ, lấy bà Hy làm vợ kế. Thai này ra đời là cụ Nguyễn Sinh Sắc” (Nguyên văn chữ Hán do ông Hồ Sỹ Thanh dịch, tháng 12/1948).


 


Sau khi Bác Hồ về cõi vĩnh hằng, tôi được về Khu di tích Kim Liên công tác (cuối 1969), có nghe các cụ già trong làng Sen nói loáng thoáng câu chuyện tình giữa chàng Nho sinh tài hoa giữa Hồ Sỹ Tạo với cô thôn nữ tài sắc nổi tiếng Hà Thị Hy.


 


Mấy năm sau, cụ Võ Thiện Giá (nay đang sống trên 100 tuổi), quê ở làng Hậu Luật, xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, là Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hoạt động cách mạng từ thời kỳ 1930-1931 (Nay nhà ở phường Hưng Bình, thành phố Vinh), rủ tôi cùng đi lên Lai Nhã, xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương để xác minh sự việc, một số cụ già ở Lai Nhã cũng nói là nghe loáng thoáng như một số cụ già ở Làng Sen, Kim Liên. Chúng tôi đến nhà thờ họ Hồ, xin phép được thắp hương và xem gia phả. Nội dung gia phả có đoạn đã chép như trên.


Đầu năm 1991, cụ Võ Thiện Giá ra Hà Nội gặp Thủ tưởng Phạm Văn Đồng trình bày câu chuyện đã nghe được ở làng Sen và Lai Nhã. Sau khi nghe cụ Giá trình bày xong, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cảm ơn cụ Giá rồi nói: Cụ đã làm một việc đúng lúc, đúng chỗ và đúng người. Đúng lúc là thời điểm năm 1991, chứ không phải năm 1990, chúng ta đang kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh của Bác Hồ kính yêu. Đúng chỗ là tại Văn phòng Thủ tướng. Đúng người là tôi (Thủ tướng Phạm Văn Đồng) nghe trực tiếp. Nhưng thôi, không nên nói chuyện này ra, không có lợi cho thời cuộc hiện nay.


 


Trên đây là câu chuyện “Một góc khuất trong thế giới tình cảm của Hồ Sỹ Tạo” mà các cụ già đương thời cũng chỉ nghe loáng thoáng, gia phả họ Hồ ở Lai Nhã, Thanh Khê cũng ghi là “Tương truyền…”.


 


Sau sự kiện Thượng tọa Thích Chân Quang (Hồ Chí Việt) trụ trì ở chùa Phật Quang, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ra Nghệ An nhận họ Hồ (theo thông tin từ nội bộ họ Hồ, số 1/2007) thì câu chuyện trên có một số người lại xôn xao bàn tán.


 


Tôi thiết nghĩ: Hiện nay dùng phương tiện khoa học để xác minh chân lý của câu chuyện “Một góc khuất trong thế giới tình cảm của Hồ Sỹ Tạo” là cực kỳ khó khăn, không biết có làm được không. Tôi thì một lòng, một dạ, hoàn toàn tự hào và vui sướng được nghiên cứu về cuộc đời và sự nghiệp của cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc đã sinh ra và dưỡng dục cho dân tộc Việt Nam một con người vĩ đại: Đó là Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thế giới phong tặng: Anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của thế giới.


 


T.M.S.


http://vonga1.wordpress.com/2012/07/16/mot-goc-khuat-trong-the-gioi-tinh-cam-cua-ho-si-tao-bs/


 


 


 


Chuyện ở sân sau:


Về ông nội và người cha của Chủ tịch Hồ Chí Minh


Trường Lam


 


talawas - Năm 1993, trong tập Trong cõi [1] xuất bản tại Hoa Kì, Giáo sư Trần Quốc Vượng (1934-2005), một trong những sử gia nổi tiếng nhất tại Việt Nam, đã công bố ghi chép của mình từ "Lời truyền miệng dân gian về nỗi bất hạnh của một số nhà trí thức Nho gia!", trong đó phần liên quan đến dòng dõi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gây nhiều dư luận. Theo đó, tiểu sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thêm một phần không được nhắc đến trong sử sách chính thống: Thân sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh vốn là con đẻ nhưng không được thừa nhận của ông cử Hồ Sĩ Tạo, thuộc dòng họ Hồ ở Quỳnh Lưu, Nam Đàn, Nghệ An. Hồ Chủ tịch, nổi tiếng với tên gọi Nguyễn Ái Quốc trong thời kì hoạt động tại nước ngoài, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung [2], tự là Nguyễn Tất Thành, song từ năm 1945 cho đến khi qua đời năm 1969 lại được người Việt Nam và toàn thế giới biết đến với tên là Hồ Chí Minh.


 


Mới đây, một nhà thơ xứ Nghệ đã nhiệt tình dẫn một cộng tác viên talawas từ Vinh về vùng sơn cước, đến xóm Nghĩa Thái, xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn để tìm gặp ông Hồ Sĩ Sênh (bút hiệu Trường Lam, hội viên Hội Văn nghệ Nghệ An), một người cháu mà theo gia phả họ Hồ, gọi cụ Hồ bằng bác. Khi nghe khách bày tỏ nguyện vọng, ông đến tủ sách, lục đưa cho khách xem bản phôtô bài bút ký viết tay của ông, nhan đề “Chuyện ở sân sau”, kể về sự thật cuộc đời của ông Hồ Sĩ Tạo, ông Nguyễn Sinh Sắc và hậu duệ. Bài ký này được viết ở Trại viết văn của Hội Văn nghệ Nghệ An đầu năm 2007. Ông Trường Lam cho biết, trong buổi tổng kết trại viết, người ta đã đánh giá rất tốt bài ký này, đã đọc bài ký cho các trại viên nghe. Nhưng là chuyện “huý kỵ”, nên không có báo nào trong nước dám in. Ông Trường Lam đã đồng ý cho chúng tôi công bố nguyên văn bài ký trên talawas. Chúng tôi chân thành cảm ơn ông Trường Lam và hân hạnh giới thiệu cùng độc giả.


 


* * *


Mọi điều tưởng như đã vĩnh viễn chìm vào bóng đêm của quá khứ mông lung, huyền ảo, có hồn ma bóng quỷ, có những hình nhân vật vờ, thấp thoáng, bỗng rơi vào quên lãng, lặng im…


 


Người ta thở dài, tiếc những sự thật, hoặc giả là những lời đồn đại không thể xác minh, sẽ mãi mãi chôn vùi… Đột nhiên, một ngọn đèn le lói thắp lên, xua đi bao điều huyễn hoặc, mơ hồ.


 


Đầu tháng Bảy nhuận (Bính Tuất), quê tôi trời bỗng ào ạt tuôn mưa. Những tưởng mùa thu này rồi vẫn vời vợi cao xanh, nắng đẹp cứ dịu dàng trôi, ai ngờ lại có tuần mưa gió sụt sùi! Giữa ngày mưa như vậy, tôi nhận được tin: Có một vị sư đạo cao đức trọng từ miền Nam ra, đã tìm đến và thắp hương viếng mộ cụ Cố chúng tôi, một Giải nguyên xứ Nghệ. Cụ là người đầu tiên giành được thứ hạng này ở tổng Võ Liệt (Thanh Chương). Thật là may, ngôi mộ mới được xây lại cách đây chưa lâu. Ông bác của chúng tôi, nguyên Giám đốc Học viện An ninh Khu vực II, sau khi nghỉ hưu đã tìm về lo lắng, sửa sang. (Bác là Hồ Nhã Chương, khi làng quê không tồn tại [3] đã đổi tên là Hồ Thanh Chương, cháu nội cụ Hồ Sĩ Tạo, bắt đầu từ bà thứ tư ở Quảng Trạch, Quảng Bình, hiện trú tại 257A, đường Nguyễn Trãi, phường Cư Trinh, TP Hồ Chí Minh).


 


Vị sư đó là Thượng toạ Thích Chân Quang, sư trụ trì chùa Phật Quang, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Ông xưng danh là Hồ Chí Việt, chắt nội của cụ Giải nguyên, một đứa con lạc loài, nay tìm về với tổ tông. Đội mưa gió, theo sau xe Thượng toạ là bảy xe chở Phật tử, trong đó có hai xe ca… Chuyện đó thật không ngờ!


 


Mãi sau ít lâu tôi mới được biết Thượng toạ cũng đã về thăm nhà bia tưởng niệm Đức nguyên tổ Hồ Hưng Dật tại Quỳnh Lâm, thăm nhà thơ họ Hồ tại Quỳnh Đôi (Quỳnh Lưu). Ghi vào sổ vàng lưu niệm của dòng họ, Thượng toạ đã nói rõ mình là: “đứa con lạc loài” nay mới tìm về với gia tộc… Ngoài ra Thượng toạ còn thắp hương viếng mộ cụ Hà Thị Hy và bà Hoàng Thị Loan…


 


Những điều đột ngột diễn ra khiến tôi không khỏi suy nghĩ về những mối quan hệ huyết thống, dòng tộc đang bền bỉ, âm thầm bén rễ sâu trong tiềm thức con người. Và những kỷ niêm tuổi ấu thơ đã xa lắc xa lơ, đang chìm dần vào bóng tối bỗng nhiên chậm chạp hiện về, hệt như những cuốn phim quay chậm, có quãng mơ hồ, quãng lại hiện rõ như in.


 


* * *


 


Làng Lai Nhã quê tôi nay đã không còn tên trên bản đồ hành chính. Nó bị xoá sổ từ năm 1978 khi người ta tiến hành cuộc cách mệnh “thay trời đổi đất, xếp đặt lại giang sơn”. Ngót ba mươi năm trôi qua bóng dáng làng xưa đâu có dấu ấn gì với thế hệ con cháu bây giờ! Nhưng đối với chúng tôi, những ông già cổ hủ, đêm nó vẫn hiện về trong mơ. Và riêng tôi: một làng Lai Nhã cổ truyền tươi xanh, vẫn nguyên lành bóng dáng êm đềm, hiện hữu đời đời…


 


Từ nửa cuối Hậu Lê, một nhánh họ Hồ Quỳnh Lưu lập làng ở vùng Cương Gián (Nghi Xuân) cảm thấy thiên nhiên quá khốc liệt, đe doạ cuộc sống, phải bỏ đất tìm nơi khác định cư. Một gia đình họ Hồ như vậy theo ông Đậu Quận Công đến vùng Lòi Nhã, xã Thất Thôn dựng nhà sửa cửa, khai phá đất đai, lập thành một trong bảy thôn của Đậu Quận Công (vùng đất ngày trước đã có người thiểu số sinh sống. Bà nội tôi gọi họ là người Mường. Những địa danh còn lại như Bến Mường, Động Mường… nói lên điều đó. Khi người Kinh tiến vào, họ lập tức rút lui đi).


 


Thế hệ sau, họ có con cháu là cụ Hồ Yên Định, làm quan đến hàm tứ phẩm (không qua thi cử) mới đổi thôn thành Lai Nhã, xã Thất Thôn thành Thái Nhã. Con cháu li tổ phải lấy chữ Nhã đệm vào để luôn nhắc nhớ tới quê hương. Khi vua Quang Trung ra Bắc diệt quân Thanh, họ có cụ Hồ Hữu Tiềm đầu quân giết giặc và hi sinh tại Thăng Long (mùng 5 tháng Giêng âm lịch là ngày giỗ). Nhà thờ họ Hồ được cất lên thời đó. Khi giác móng và lấy hướng, ông thầy địa lý người Tàu phán rằng: “Thuỷ đáo từ đường. Hồ gia vi vương”. Ông ta bảo đây là thế đất “Phượng Hoàng ẩm thuỷ”. Thời bấy giờ sông Rộ còn ngoằn nghèo chảy bên phía núi xa, cách nhà thờ chừng non cây số. Biết khi nào nước sông chảy đến cho chim Phượng Hoàng uống?


 


Trước Cách mạng tháng Tám, họ Hồ Lai Nhã cũng mới chỉ vài chục gia đình nhưng đã có bốn cử nhân và khá nhiều tú tài. Có người khá nổi tiếng như cụ Giải nguyên Hồ Sĩ Tạo.


Làng Lai Nhã với con sông Rộ chảy vòng ôm lấy những vườn cây quả mướt xanh như một nét chấm phá thật thơ mộng và dịu dàng. Tôi có ông chú, con cô của bố tôi, làm chủ nhiệm Khoa Sinh vật, kiêm Bí thư Đảng uỷ Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Nội (chú là Phạm Đức Dục, quê xã Thanh Long, Thanh Chương, cháu ngoại cụ Cử Hồ Sĩ Hạp, gọi Thị lang Phạm Hoàn là bác). Chú bị bệnh tâm thần phân liệt, vợ con nhốt vào một xó… Vậy mà khi tôi tới thăm, ông vẫn còn ước ao được về làng Lai Nhã để đi câu cá. Ông kể chuyện cụ Phủ Tạo và ông ngoại là cử nhân Hồ Sĩ Hạp, nhưng lẫn lộn lung tung… (Về làng Lai Nhã, nguyên Thứ trưởng Bộ Giáo dục Nguyễn Hữu Dụng, cháu ngoại cụ Cử Hồ Sĩ Huấn cũng có ấn tượng rất đẹp).


 


Làng tôi có những khu vườn um tùm, rập rạp với vòng ngoài chen đặc song mây, tre nứa và cây cọ cùng những cái tên đặc trưng như: Vườn Cụ Phủ, Cụ Huyện, Cụ Cử, ông Tú, ông đồ… đầy cây ăn quả và bốn mừa líu ríu tiếng chim. Cụ Tạo về hưu đã trồng bốn cây đa ngoài cổng đoài của làng. Có hai cây sau này thành tam quan nhờ một rễ phụ căng ngang, nom rất kỳ thú. Đây là nơi ông Tạo mắc võng nằm vào những trưa hè.


 


Sau này tôi mới biết, nhờ những khu vườn này mà các bậc cha chú có tiền trọ học thành tài, bởi ruộng đất ở đây rất xấu, chưa nắng đã khô, chưa mưa đã lụt, có thu hoạch được là bao!


 


Ôi, những khu vườn trong mơ và làng xưa cũng chỉ còn lại trong mơ, nơi đã bay bỗng tuổi thơ tôi, nơi chúng tôi tha hồ quậy phá: trèo bắt tổ chim, tìm hái những chùm quả chín và cắp sách tới trường…


 


Khoảng mấy năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ trước, nước sông Rộ vòng về, xói lở một góc vườn nhà thờ và nhà thờ họ Hồ Lai Nhã thấp thoáng soi bóng xuống mặt nước sông trong. Chim Phượng Hoàng ơi! Hãy uống nước đi…


 


* * *


 


Cụ Hồ Sĩ Tạo tự Tiểu Khê, sinh năm 1834 (Tổng tập Văn học Việt Nam tập 19 nói cụ Tạo sinh năm 1831. Cụ Cao Xuân Dục, học trò ông Tạo, trong sách Nghệ An khoa bảng nói ông Tạo sinh năm 1841. Chúng tôi theo người già trong họ nói ông Tạo thọ 73 tuổi và bà Hồ Thị Từ, con út ông Tạo nói bà ra đời lúc cha đã 70 tuổi, lên 3 thì cha mất…, mà suy ra), mất năm 1907, là người tài hoa nổi tiếng cả vùng. Theo gia phả nói thì cụ thuộc phe chủ chiến, chủ trương đánh Pháp tới cùng, nên bị vua Tự Đức đánh hỏng (?).


 


Trong cuộc đời làm quan, dạy học, giao du với bạn bè khắp vùng, ông Tạo đã có quan hệ gắn bó với năm người phụ nữ. Theo các cụ trong họ (trong đó có cụ Hồ Sĩ Huề) từng kể với cháu con thì:


 


Người phụ nữ thứ nhất chính là người vợ cả của cụ được gia đình cưới cho ngày còn trẻ. Bà người họ Phan ở xã Xuân Trường (Thanh Chương) và đã cho ông Tạo hai người con trai trưởng thành.


 


Người phụ nữ thứ hai là bà Hà Thị Hy, còn gọi là cô Đèn, quê ở làng Sài, Nam Đàn. Ông Tạo nổi tiếng khẩu khí, đam mê hát phường vải, ứng đối nhanh và giỏi. Bà Hy là người hát hay, giọng tốt và rất đỗi xinh đẹp. Tài tử gặp giai nhân cũng ví như cá gặp nước, rồng gặp mây. Khi họ quen biết nhau, tuy ông Tạo ít tuổi hơn nhưng đã có vợ và đang dạy học trong nhà họ Hà. Vì quá tài hoa nên mãi năm cô Đèn ba mươi vẫn chưa có đám nào lọt vào mắt xanh… Trai làng không với tới nên họ phong toả, hình thành thế bao vây, không cho con trai nơi khác đến. (Theo bác Hồ Thanh Chương, ông Tạo yêu cô Đèn trước khi có vợ. Bà Hy có thai, ông Tạo về xin cha mẹ được cưới, nhưng gia đình không đồng ý vì đã dạm hỏi đám khác. Cụ Hà Văn Cẩn đành ngậm ngùi gả bà Hy cho ông Nhậm, một ông già lụ khụ).


 


Vậy là cái gì phải tới đã tới. Cô Đèn mang thai và ông Nguyễn Sinh Nhậm mồ côi vợ, cheo cô về làm mọn. Năm 1863, bà Hy sinh con trai. Cậu con ông Hồ Sĩ Tạo mang họ Nguyễn Sinh được ông Nhậm đặt tên là Sắc. Nguyễn Sinh Sắc lên 3 tuổi thì ông Nhậm chết. Bà Hy vốn bị người nhà họ Nguyễn Sinh coi là dân “xướng ca vô loài”, nên họ buộc hai mẹ con phải ra sống trong một căn lều ngoài đồng khoai, cạnh làng. Chỉ hơn một năm sau, bà Hy cũng bỏ cậu Sắc mà ra đi. Bà chết trong khổ cực âm thầm và trong sự hắt hủi của gia đình nhà chồng! Con trai làng Sài hối hận, thương người con gái mệnh bạc, đã kéo sang làng Sen làm lễ chôn cất. Chính ông Tạo là người đọc điếu văn.


 


Cậu Sắc đành phải về dựa vào anh cả để khỏi chết đói. Và dần dà, lớn thêm một tí cũng được anh cả cho một buổi chăn trâu, một buổi cắp sách tới trường. Việc cậu Sắc được đi học cũng nhờ phần lớn ở thầy Tú Vương. Thầy xin anh Thuyết cho Sắc đến lớp mà không phải chịu khoản phí nào. Thầy Vương đã xem tướng tay, xem chữ viết và tấm tắc khen là con nhà nòi: “Nòi xướng ca và nòi nhả ngọc phun châu cô Đèn thầy Tạo… Con hãy cố lên, tài hoa lắm, thầy sẽ giúp…”.


 


Rồi một hôm ông họ Hoàng bên làng Chùa sang làng Sen thăm thầy Tú Vương. Học trò được ra chơi. Đôi bạn trò chuyện với nhau rất lâu. Ngoài chuyện thơ phú, văn chương, thi cử… còn có chuyện cậu bé Sắc. Họ bàn với nhau những gì không rõ. Chỉ biết rằng ít lâu sau, ông Tú Hoàng Đường đến nhà Nguyễn Sinh Thuyết xin được nhận chăm nuôi cậu bé Sắc. Vợ chồng Thuyết mừng rơn. Thuyết còn chút tình người, song vợ Thyết từ lâu hậm hực, căm ghét, sợ phải chia gia tài, phải nuôi tốn kém… nên đã đồng ý liền, coi như trút được hết gánh nặng tội nợ… Ông Hoàng Đường vội mang cậu bé Sắc về ngay.


 


Ngày xưa, người hiểu biết cũng thường quan tâm tới nòi giống. Ngày nay lại nói tới nguồn gien và tin theo thuyết di truyền. Nguồn gien quý thường được nuôi dưỡng, giữ gìn. Thấy lúa tốt phải hỏi giống gì, thấy con tốt phải xem cha mẹ chúng…


 


Từ ngày ông Tú Hoàng Đường mang Sắc về, ông trở thành cha nuôi và là thầy giáo của cậu bé. Năm Sắc mười tám tuổi, cậu được ông Đường gả con gái đầu lòng của mình là bà Hoàng Thị Loan, mười ba tuổi, chỉ Ba năm sau bà Loan sinh cô Thanh, bốn năm tiếp sinh cậu Khơm (Khiêm) và vài năm sau nữa lại sinh cậu Côông (Công)…


 


Người phụ nữ thứ ba (của ông Hồ Sĩ Tạo) là bà vợ kế ở quê nhà. Khi bà cả qua đời, gia đình không người chăm lo, ông Tạo đã cưới người vợ thứ. Bà sinh hạ cho ông một con trai rất thông minh, học giỏi, nhưng chỉ đi thi hộ người khác lấy tiền cờ bạc rượu chè, không màng tới tiến thân.


 


Người phụ nữ thứ tư là cô gái quê ở Quảng Trạch, Quảng Bình. Ông nói dối là ông không còn vợ để được cưới bà. Bà con nhà gia thế, nên về sau, khi chuyện vở lỡ, gia đình đã kiện quan về chuyện này. Bà sinh hạ được hai người con trai. Thời gian sau đó, ông Tạo cáo quan về nhà dạy học.


 


Người phụ nữ thứ năm là một cô gái nghèo ở thôn Nam Lĩnh, cùng xã, nơi ông Tạo dạy học những ngày cuối đời. Hàng ngày cô vẫn thường đi bán chổi đong gạo. Khi có một con gái với ông Tạo, người ta gọi là cô Chổi. Lúc này ông Tạo đã bảy mươi tuổi. Ba năm sau, ông Tạo qua đời. Nhà cũng chẳng có gì, con trai cờ bạc, rượu chè phá phách hết, ông chỉ để lại cho con gái một chiếc áo bông cũ, đắp lấy hơi cha!


 


Người con gái út này của ông Tạo là bà Hồ Thị Từ (tên khai sanh là Thuyến). Hoà bình lần thứ nhất, bà vẫn sống khoẻ mạnh. Bà lấy chồng họ Tôn. Ông là bác ruột của giáo sư Tôn Tích Thạch. Và vì không có con trai nên đã coi Thạch là con, cho tới 1955, Thạch qua Liên Xô du học. Hơn 7 năm sau trở về thì ông bà đã qua đời. Ông Tôn Quang Phiệt cũng họ này.


 


Tôi còn nhớ như in mỗi lần bà về quê là đi khắp bà con xóm làng, ăn trầu luôn miệng và nói cười ha hả, rất vui. Bà kể biết bao nhiêu là chuyện, trong đó có chuyện cái huyệt mộ ông Tạo được cải táng. Ông Tạo bị cảm bệnh tại thôn Nam Lĩnh trong xã, con cháu đưa về nhà thì ông qua đời. Ông chết trong lặng lẽ, giữa ngày thời tiết không thuận nên chỉ có xóm giềng biết với nhau. Chỉ khi cải táng (1911) học trò mới làm lễ lớn. Cái huyệt mộ cải táng là do ông Tạo chọn cho mình ngày còn dạy học ở quê vợ, xã Xuân Trường.


Theo bà Từ: Mộ được táng dưới một khối đá ngầm, phải đào hố sâu bên cạnh, khoét ngang rồi đun tiểu sành đựng hài cốt vào, nén đất lại, trên dựng một mộ chí đơn sơ. Bà bảo đó là cái hàm dưới của Miệng Rồng (Chuyện này, khi xây dựng đường điện siêu cao thứ nhất, bác Hồ Nhã Đỉnh, ở Viện Năng lượng, về vùng Nam Đàn giám sát, bác cháu gặp nhau, trò chuyện, bác còn nhắc lại cho nghe lần nữa). Nay bia mộ ông Tạo chỉ là một mảnh đá nhỏ. Phía trên bị đập vỡ chỉ còn lại một chữ thiếu nét và một chữ “Nhã”. Đọc bên phải: “Mậu Thìn Giải nguyên” (ông Hồ Sĩ Tạo đậu Giải nguyên triều Nguyễn, Huế, khoa Mậu Thìn (1868), cùng khoa thi này Hoàng Cao Khải đậu cuối bảng. Theo cụ Hồ Sĩ Huề kể: Có lần ông Tạo ra Hà Nội. Hoàng Cao Khải đã tự tay bưng nước đến để ông Tạo rửa mặt mũi, tay chân. Có lẽ ngoài việc trong vọng, đây còn nhằm mực đích mua chuộc sĩ phu…). Dọc bên trái bia mộ: “Tri phủ Quảng Trạch”. Chính giữa phía dưới: “Hồ Tiểu Khê chi mộ”. Việc cải táng hoàn toàn do học trò ông Tạo tuân theo di huấn của thấy mà làm, rất long trọng, có nhiều vị khoa bảng của hai huyện Thanh Chương, Nam Đàn tới dự (nhưng chắc chắn là không có ông Nguyễn Sinh Sắc. Bởi ông đã vào Kinh nhậm chức theo lệnh vua).


 


Năm người đàn bà gắn bó với một người đàn ông, chuyện thật khó tin. Chắc ông Tạo tài hoa lắm và cũng đa tình lắm mới cuốn hút được như vậy.


 


Sách vở ông Tạo để lại đã bị đốt hết trong Cải cách Ruộng đất. Còn sót một tập thơ nhỏ ở nhà cụ Hồ Sĩ Huề, phó giáo sư Ninh Viết Giao đã mượn, nay chắc còn chỗ ông ấy!


 


* * *


 


Cụ Nguyễn Sinh Sắc đậu cử nhân khoa thi Hương năm Ngọ (1894) tại Trường Nghệ, nhưng trượt khoa thi Hội tiếp theo. Để chuẩn bị cho Sắc vào tiếp khoa thi năm Tuất (1898), ông Tạo suy nghĩ rất nhiều. Các con trong giá thú ở quê chẳng đứa nào nối được chí cha. Thông minh thì cũng có đủ, nhưng lười học, chỉ thích cờ bạc, rượu chè. Duy chỉ có đứa con ngoài giá thú là Nguyễn Sinh Sắc lưu tâm tới việc học hành, không thể để nó bỏ dở sự nghiệp và phụ lòng mong mỏi của bao người. Nghĩ tới đây, ông sai người mài mực, lấy giấy bút viết thư. Ông nhớ tới ông Thượng thư họ Hồ ở An Truyền đã nhận đồng tông với mình. Nhớ tới ông Cao Xuân Dục, một học trò, đang là quan to của triều đình. Đằng nào cũng phải nhờ họ giúp. Xưa nay mình đã nhờ vả họ gì đâu!


 


Vậy là nhờ có bức thư ấy, mà các vị đại thần họ Hồ, họ Cao ra tay giúp đơc để ông Sắc được vào học Trường Quốc Tử Giám. Đó là việc rất dễ nhận biết: Trường Giám là trường của Hoàng gia, quý tộc, con dân làm sao mà vào nổi?


 


Ông Sắc vào Trường Quốc Tử Giám mang cả gia đình đi theo, chỉ trừ cô Thanh ở nhà với bà ngoại, làm phận sự thay cho bố mẹ. Vào Huế, ông đổi tên là Nguyễn Sinh Huy. được sự giúp đỡ cả vật chất lẫn tinh thần của các vị đại thần quen biết ông Tạo, cùng các quan khác người Nghệ Tĩnh. Bà Loan dệt vải nuôi con. Ở chốn Kinh thành, cuộc sống có dễ dàng gì đâu!


 


Khoa thi Mậu Tuất, ông Sắc lại rớt. Bà Loan sinh thêm cậu Xin. Và vì quá kham khổ, lao động quá sức, bà lâm bệnh và qua đời cuối năm Canh Tý (1900). Chỉ ít lâu sau, cậu Xin cũng quy tiên theo mẹ. Ba cha con ông Sắc lại dắt díu nhau về Nghệ.


 


Khoa thi năm Tân Sửu (1901) ông Sắc trúng Phó bảng nhưng không ra làm quan mà xin ở nhà nuôi mẹ già yếu. Thời kỳ này ông lên dạy học ở Thanh Chương. Ông nghĩ mình trước hết phải trọn đạo hiếu với cha mẹ. Nếu không, sao đáng làm người. Giai đoạn đầu ông Sắc dạy học ở nhà thờ họ Lê ở Nguyệt Bổng (nhà thờ này nay vẫn còn ở chân cầu Rộ), sau chuyển sang nhà ông Hàn Kháng, họ Phan ở Võ Liệt - là một họ khoa cử, có người nổi tiếng như tiến sĩ Phan Sĩ Thực - Ngôi nhà này đã bị tịch thu chia cho nông dân trong Cải cách Ruộng đất). Chỗ ở này cách nhà ông Tạo có con sông Rộ nhỏ thó, xắn quần là có thể lội qua. Như các cụ trong dòng họ kể lại thì ông Sắc đã dẫn cậu Công qua chơi với ý định nhận cha, nhưng việc đó chưa kịp làm thì năm 1904 bà đồ An qua đời. Đầu năm 1905, ông Sắc được triệu vào kinh nhậm chức Thừa biện Bộ Lễ do cụ Phan Chu Trinh giao lại. (Việc chưa nhận cha còn có thể do quy ước khắt khe của dòng họ – Ví như cụ Hồ Sĩ Tôn, 2 lần đậu đầu khoa: “Thiên hạ sĩ vọng vã”, “Thiên hạ cống sĩ”, là bố ông nghè Hồ Sĩ Tân. Thời trẻ dạy học ở Hưng Nguyên, có một con trai với cô con dâu nhà họ Bùi. Về sau anh này cùng con mình đều đậu tiến sĩ. Hai cha con về Quỳnh Đôi nhận họ, nhưng vì quy định đó mà không thành. Hai cha con đành đứng ngoài cổng nhà thờ họ, vái lạy rồi quay về. Nên đến nay con cháu vẫn mang họ Bùi…).


 


Cuộc đời làm quan và phiêu bạt của ông Sắc tính từ đây. Năm 1907, ông Sắc được bổ Tri huyện Bình Khê và chỉ bốn năm sau đã vướng vào trọng tội…


 


… Bữa đó, ông Sắc đang ngồi tư lự, mượn chén rượu giải sầu, lòng tràn nỗi niềm thương cảm đối với vợ con. Ông tuy làm quan nhưng nhà vẫn nghèo khổ, mái tranh, vách đất, chẳng chút tài sản nào dư dả để nuôi con… Bỗng có lính bẩm báo:


 


“Thưa quan, mấy gã chống thuế hôm qua lại đến”.


 


Ông lập tức truyền cả bọn vào và giữa lúc ngà ngà say, ông bảo:


 


“Bọn bây phải biết rằng, chỉ có vua mới miễn được thuế. Còn ta chỉ có đồng lương ít ỏi phải bù cho số thuế thiếu kia. Ta đã cho người dò la kỹ rồi: Nhà tụi bây còn giàu hơn cả quan đây. Làm ruộng thì phải đóng thuế, chống lại là cớ làm sao?”


 


Cả đám lập tức nhao nhao nói hỗn, chửi bới, chỉ trích quan tham nhũng, ông Sắc nổi cáu, truyền:


 


“Lôi ra ngoài đánh bọn chúng cho ta”.


 


Bọn lính lôi cả đám ra ngoài đánh đập thỏa sức. Bất đồ một người trong bọn trúng chỗ hiểm, lăn ra chết… Lệnh ông ban quên không hạn chế mấy roi, nên bọn lính đã quá tay. Triều đình triệu ông về Kinh chịu tội. Vua phê: “Trảm!”. May nhờ có các ông Thượng thư họ Hồ, họ Cao và Đào Tấn cùng rập đầu xin vua tha chết. Cả ba ông đều tâu vua: “Nguyễn Sinh Huy làm quan thanh liêm, xử án công minh, bốc thuốc chữa bệnh người rất tận tâm… Việc xảy ra chỉ là do sơ suất và bọn lính đã quá tay…”.


 


Vua cũng biết Nguyễn Sinh Huy là quan thanh liêm, không hề có tư túi gì, nên sau một lúc suy nghĩ đành giảm xuống “Trảm giam hậu!” (giam chờ chém sau) và phạt đánh 100 roi. May nhờ có Thượng thư Bộ binh Đào Tấn lo lót cho bọn lính nên được nhẹ đòn và ông Huy thoát chết. “Tam thập lục kế, tẩu vi thượng sách”. Nhân buổi lộn xộn chưa quyết, nhờ có người ngầm giúp, ông Huy chuồn thẳng! Các cụ già quê tôi, người thì bảo ông cải trang làm phu xe theo đoàn khách thương chở hàng vô Nam, kẻ lại bảo ông xuống một thuyền buôn dông thẳng vào Gia Định. Mỗi người một phách, nhưng cũng chẳng sao. Điều cơ bản là ông Huy đã thoát khỏi cái lưỡi dao thái thịt người đang lơ lửng trên đầu và có thể hạ xuống bất ký lúc nào…


 


* * *


 


Cậu Công gặp lại cha ở một địa điểm kín ở Gia Định, trong một buổi, trước khi cậu xuống tàu đi xa. Dặn dò con xong ông Huy lặn sâu vào giữa vùng Đồng Tháp Mười, chẳng để lại dấu vết nào với người đời, rằng mình đã từng là một Phó bảng thứ thiệt, là ông Huyện Bình Khê…


 


Ngày ấy Đồng Tháp Mười còn rậm rì năn lác, đường bộ chưa có là bao. Giao thông chủ yếu là nhờ vào những chiếc xuồng tam bản tự tạo của đồng bào sống ở miệt sình lầy. Ông Nguyễn Sinh Huy lặn lội đến vùng Cao Lãnh ngày nay thì dừng lại, ở nhờ một ngôi chùa. Nơi đây ông giấu biệt tông tích của mình, tự xưng là Cụ Vương, hành nghề bốc thuốc chữa bệnh.


 


Nhà Phật vốn chủ trương “cứu nhân độ thế”, các sư cũng luôn làm nhiệm vụ bốc thuốc chữa bệnh cho dân. Bấy giờ làm gì có bệnh viện hay hiệu thuốc ở những vùng sâu, xa như thế. Thấy Cụ Vương giỏi y thuật, lại sống độc thân nên các sư rất mừng, lưu cụ ở luôn tại chùa để giúp đỡ bao nông dân nghèo khó đang hàng ngày vất vả kiếm sống và cũng vất vả chống lại tật bệnh, ốm đau. Phong trào chống thuế ở miền Trung đang nổi lên rần rần, nên nhà vua cũng làm ngơ luôn cái án của ông Tri huyện Bình Khê. Vậy là ông Nguyễn Sinh Huy được triều đình “bỏ quên”.


 


Chẳng bao lâu, cái tiếng của vị thầy thuốc giỏi, lại nhân từ, sẵn sàng chữa bệnh không công cho người nghèo, theo những chiếc xuồng nhỏ, len lỏi trên sông nước, trên kênh rạch lan truyền đi khắp vùng. Người ở xa chở con bệnh tới để chữa trị hoặc mua thuốc mang về. Người gần mời cụ ngồi xuồng tới nhà bắt mạch điều trị. Nhà nghèo cụ miễn luôn mọi khoản. Đức độ của cụ hoà vào nước Đồng Tháp Mười, thấm sâu vào đất đai, tạo nên vựa lúa bạt ngàn hôm nay…


 


Có lần chữa trị dài dài, cứu được mấy mạng người trong một gia đình, giúp họ thoát khỏi dịch bệnh, ông già Mai Nhuận trả ơn bằng cách gả cô con gái út của mình cho ông Vương.


 


“Không dám…”, Ông Vương cười. Chữa bệnh cứu người là công việc hàng ngày, tôi đã nguyện theo đuổi suốt đời, đâu dám mong có ân huệ đền đáp. Cô nhà đây còn nhỏ tuổi hơn cả con trai út của tôi. Nhận lời cụ chẳng hoá ra tôi là thằng khốn nạn hay sao?


 


“Chúng tôi không quan tâm tới việc thiên hạ dư luận, chỉ cần cụ nhận lời và nuôi cháu là nhất định gia đình sẽ có ngày mở mày mở mặt. Nó đến với cụ cũng đã sung sướng cho bản thân nó. Công việc nấu nướng, chợ búa… giúp cụ chuẩn bị thuốc men, so với việc đồng áng khác nhau một trời một vực, việc gì nó chẳng làm được. Cụ đừng lo…”.


 


Năm ấy, ông Sắc đã ngoại lục tuần. Cô gái họ Mai mới ngoài hai mươi, nhỏ hơn cậu Công.


 


Ít lâu sau cuộc tình duyên muộn mằn ấy, cậu Vương Chí Nghĩa chào đời (1927). Ông Vương Chí Nghĩa là bố của Vương Chí Hùng và Vương Chí Việt cùng năm người con gái khác. Theo Thượng toạ Thích Chân Quang, khai sinh lấy họ Vương, nhưng trong tiềm thức, trong gia phả là họ Hồ. Cụ Vương dặn như vậy. Lấy họ Vương là để che mắt kẻ thù. Việc rời Đồng Tháp lên Tây Nguyên cũng là vậy. Phải tránh sự khủng bố, truy bắt, bảo vệ mình và mở ra con đường kiếm sống lâu dài. Thượng toạ Thích Chân Quang sinh ở Tây Nguyên tháng 12.1959. Tốt nghiệp đại học Khoa tiếng Anh, xuất gia năm 1980 cùng chị gái là Hồ Thị Minh Nguyệt, hơn ông hai tuổi.


 


(Ngày làm lễ Nhập hồn Tượng cho vua Hồ Quý Ly và nữ sĩ Hồ Xuân Hương tại nhà thờ họ Hồ Quỳnh Đôi, Thượng toạ Thích Chân Quang cười nói với tôi: “Em viết việc tìm họ của anh đơn giản và dễ dàng quá! Thật ra là bọn anh phải dằn vặt, đau khổ, đi xác minh cẩn thận, có thu âm, ghi hình đầy đủ, người ta mới công nhận. Những người trông coi Khu di tích cụ Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp cứ một mực bảo ông Sắc không có vợ lẽ ở đây! Anh sẽ ghi lại cụ thể chuyện này gửi em sau. Báo để em biết, anh đã đến thăm chú Hồ Thanh Chương, tình cảm của chú cháu là vô cùng nồng ấm”. Thượng toạ đã đối chiếu gia phả và gọi tôi là em, mặc dù tôi nhiều tuổi hơn).


 


* * *


 


Việc lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc lấy họ Hồ làm họ mới của mình có gì giống với con cháu cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc ở Đồng Tháp nhận mình là dòng dõi họ Hồ không? Điều đó chắc chắn chúng ta đã vĩnh viễn không còn được biết. Trong mịt mờ quá khứ xa xăm, trăm ngàn mối quan hệ chằng chịt, đan xen, không ghi âm, chụp ảnh, không quay phim, ghi chép… làm sao lần mò ra được?


 


Cuốn Ngục trung nhật ký của Bác với 132 bài thơ (từ số 1 đến 133, nhưng bài số 100 chỉ có tên bài đề “Liễu Châu ngục” mà không có thơ), mở đầu bằng bài “Khai quyển”, kết thúc là bài “Kết luận” (Nay sách in mới, bài “Kết luận” được thay bằng bài “Mới ra tù tập leo núi”, một bài Bác ghi bên lề tờ Nhật báo Quảng Tây, không phải làm ở trong tù). Bài “Kết luận”, Bác viết:


 


Hạnh ngộ anh minh hầu chủ nhiệm


Như kim hựu thị tự do nhân


“Ngục trung nhật ký” tòng kim chí


Thâm tạ hầu công tái tạ ân.


 


 


(Tạm dịch: May mắn được gặp Chủ nhiệm họ Hầu sáng suốt. Mà nay tôi lại là người tự do, “Ngục trung nhật ký” từ nay chấm dứt. Cảm tạ sâu sắc ơn tái tạo của ông Hầu).


 


Hầu công mà Bác nhắc ở đây là ông Hầu Chí Minh, thiếu tướng, Chủ nhiệm Chính trị Quân khu Hoa Nam của Quốc dân Đảng, người rất mực mến phục Bác, đã can thiệp tích cực để Bác được thả ra, trở về lãnh đạo Cách mạng Việt Nam. Điều đó cũng chứng minh rằng, nơi nào trên trái đất này cũng có người tốt!


 


Cái tên mới của Bác, ta có thể đoán mò một cách không chắc chắn rằng, Bác lấy tên người đã dũng cảm cứu mình để làm kỷ niệm. Tên ông là “Sáng Suốt” và việc làm của ông dành cho Bác cũng rất sáng suốt. Còn cái họ thì xin chịu. Liệu có sự dặn dò nào của cụ Phó bảng từ một ngày rất xa, khi hai cha con còn sống bên nhau không?


 


Bác đi bôn ba thế giới “tìm đường cứu nước”, trải qua một vòng trái đất và mãi hơn 50 năm sau mới về lại quê nhà. Ý định nhận cha, nhận họ của cụ Phó bảng ngày dạy học ở nhà ông Hàn Kháng… cũng chưa thực hiện được. Vào Huế làm quan rồi trốn mãi vào miệt sình lầy Đồng Tháp, cụ không có điều kiện trở về. Ông Hồ Chí Nghĩa cũng vậy, không thể về bởi binh lửa liên miên và đất nước chia cắt. Chỉ mãi hôm nay Thượng toạ Thích Chân Quang mới hoàn thành việc đó.


 


Từ ngày cụ Phó bảng đi làm quan đến ngày Thượng toạ Thích Chân Quang tìm về, thời gian dài hơn thế kỷ. Chúng tôi lấy làm tiếc, nhà thờ họ Hồ Lai Nhã đâu còn ở chốn xưa! Ngày di dân, lòng tôi như vừa chịu một trận động đất mạnh 9 độ richte. Dân quân cả huyện ào ào đến dỡ làng kéo đi, hệt như chạy loạn. Hàng chục chiếc máy ủi màu đỏ son gầm gừ húc cây cối đổ ngổn ngang, san phẳng mọi vườn tược mà không có pháp luật nào giải thích, không một xu đền bù giải toả!... Cha con, anh em, họ hàng phải chia lìa nhau. Người bốc được thăm ở cuối rừng, kẻ bốc được thăm nằm đầu xã, cách nhau ba bốn cây số là chuyện bình thường. Mối quan hệ tộc họ từ ngàn xưa bị rạn vỡ. Nhà thờ họ vốn có vườn riêng đầy cây trái, nay đột nhiên không có đất đứng, phải hốt vào trong hẻm núi sâu, nơi bác tộc trưởng bắt được thăm, phong cảnh thật u ám, thê lương. Thật tiếc, trong thời khắc bối rối ấy, con cháu ở quê cũng không dám đấu tranh đòi cho nhà thờ họ một chỗ xứng đáng! Con cháu đi xa muốn tranh thủ về thăm quê cũng khó khăn. Vùng chân Trường Sơn mưa nhiều hơn nơi khác, đường sá không một tấc nhựa, lầy lội, nhớp nháp bởi thứ đất mến người, lại trèo đèo lội suối quanh co, khúc khuỷu. Anh em bà con nghèo túng hơn, về vài ngày là không thể đi thăm hết được, mà có về cũng vất vả lắm! Thôi đánh chịu lỗi với Tổ Tiên!


 


Thượng toạ Thích Chân Quang về đúng những ngày mưa tháng Bảy. Sau khi dâng hương viếng mộ cụ Hồ Sĩ Tạo xong, mấy chú cháu trong họ, những người đi đón bàn nhau: Xin Thượng toạ hoãn việc về thăm nhà thờ họ Hồ Thanh Khê lại, vì đường quá xấu, xe không vào được. Nếu đi lỡ gặp tai nạn, thật là không nên… Và Thượng toạ đã đồng ý.


 


Chúng tôi chép toàn là chuyện ở sân sau. Người ta nói: Đời là một sân khấu lớn với hàng ngàn vở diễn, bi có, hài có… ồn ào và sôi động trải ra. Đó là ở sân trước. Sân sau khác hơn. Nó âm thầm, lặng lẽ… Nhưng có lẽ xin được dừng lại ở đây. Dã sử vốn có chỗ dị đồng với chính sử là thế! Cũng với khoảng thời gian chưa xa, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đã có buổi trò chuyện thân mật với một số con cháu họ Hồ. Chắc rằng mọi chuyện vẫn chưa phải đã hết. Còn có những điều sâu kín, dài dài, chưa thể nói ra, nhưng cũng rất con người, đang ở sân sau…


 


Mong ông bà, chú bác, anh em… cùng hương hồn Liệt Tổ Liệt Tông tha thứ cho.


 


Mùa xuân Đinh Hợi (2007)


 


Hồ Sĩ Sênh


Xóm Nghĩa Thai, xã Nam Nghĩa, huyện Nam Đàn, Nghệ An. ĐT: 0383 785248.


© 2007 talawas


______


[1] Trăm Hoa xuất bản, California 1993, 288 trang (các chú thích trong bài đều của talawas)


[2] Các cách ghi âm khác: Nguyễn Sinh Côông, Nguyễn Sinh Côn, Nguyễn Sinh Công


[3] Do dời làng lên núi để làm kinh tế


 


 


Về bài kí “Chuyện sân sau”


Hồ Sĩ Sênh


29.3.2008


 


talawas - Bài kí “Chuyện ở sân sau: Về người cha và ông nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh” của ông Trường Lam Hồ Sĩ Sênh được talawas chọn đăng, sau khi toà soạn được biết rõ bối cảnh của bài viết và tác giả. Chúng tôi đánh giá bài kí này là một nỗ lực nghiêm túc và chân thành nhằm tìm hiểu thêm về những chi tiết có thể còn chưa sáng tỏ trong tiểu sử của cố Chủ tịch Hồ Chí Minh, một trong những nhân vật lịch sử quan trọng của Việt Nam mà thân thế còn những mảng chưa được chính thức công khai trước công luận. Về một số phản hồi sau bài kí này, chúng tôi xin giới thiệu sau đây ý kiến của ông Trường Lam Hồ Sĩ Sênh.


Nam Đàn, 01/ 11/ 2007


Thân ái cùng độc giả talawas,


Bài kí “Chuyện ở sân sau: Về người cha và ông nội của Chủ tịch Hồ Chí Minh” được giới thiệu trên talawas chưa lâu thì tôi đã nhận được nhiều cú điện thoại của bạn bè gần xa nhắn về. Qua điện thoại, tôi thấy có một số bạn đọc qua loa nên hiểu sai vấn đề.


Vì vậy tôi xin trình bày lại một số ý sau:


1.Tôi là con cháu họ Hồ, từ bé đã được nghe kể khá nhiều chuyện của họ tộc và một số nhân vật liên quan, nhưng khi tất cả đang chìm vào dĩ vãng, không còn được ai nhắc đến thì thượng toạ Thích Chân Quang tìm về... Những gì tôi viết hoàn toàn nghiêm túc và đúng đắn.


2.Có người hỏi căn cứ vào đâu mà nói ông Nguyễn Sinh Sắc là con ông Hồ Sĩ Tạo? Thưa, thượng toạ Thích Chân Quang đã ghi vào sổ vàng lưu niệm tại nhà thờ đại tộc Hồ ở Quỳnh Đôi: Ông là con cụ Hồ Chí Nghĩa, cháu nội cụ Nguyễn Sinh Sắc, chắt cụ Hồ Sĩ Tạo... Bút tích này đã có ở thị trường băng đĩa và nội san họ Hồ in ở Vinh đã chụp lại rõ ràng.


Đầu tháng Bảy Đinh Hợi này, thượng toạ lại ghi vào sổ vàng lưu niệm tại nhà thờ họ Hồ Thanh Khê, nhà thờ cụ Hồ Sĩ Tạo lần nữa... Trước tôi chỉ nghe kể nên không thể viết, nhà văn Sơn Tùng cũng dừng lại... không thể viết ra cụ thể.


Nay tôi ghi lại thì có gì là quan trọng?


3.Tôi là con rể làng Sen, bà mẹ vợ người họ Nguyễn Sinh. Ông bà sinh sau thời điểm Bác rời Bến Nhà Rồng, chỉ cách nhà Bác 300m, và đã qua đời. Nhưng mấy chục năm qua không phải không được nghe kể đôi điều về gia đình Bác, huống nữa nhà văn Sơn Tùng đã viết nhiều trong Búp sen xanh.


4.Có người nói tôi nói xấu Bác Hồ? Thưa rằng: Bác là vĩ nhân, là cha già dân tộc, người sáng lập Đảng, mặt trận, nhà nước, quân đội, là người cầm lái xuất sắc nhất con thuyền cách mạng Việt Nam. Kẻ thù trước đây cũng không nói xấu được, huống chi tôi? Trước Bác tôi đâu dám nhận quàng làm người họ tộc? Mà chỉ nêu hai điểm:


Về họ: Tôi nói điều này đã vĩnh viễn không còn được biết, chẳng có sự dặn dò nào của cụ Phó bảng.


Về tên: Tôi đoán mò rằng Bác lấy tên người đã dũng cảm cứu mình ra khỏi nhà tù... để làm kỉ niệm và chỉ có vậy thôi!


 


5.Về thượng toạ Thích Chân Quang: ông là nhà sư đức cao vọng trọng, là người truyền giảng đạo Phật trên nhiều vùng đất nước, luôn gắn đạo với đời và mong cuộc đời ngày một tốt hơn. Người như vậy làm sao có sự khuất tất? Thanh Khê chúng tôi là vùng nghèo, miền núi đi lại khó khăn vậy mà thượng toạ vẫn tìm về dâng hương ở nhà thờ họ và nhà thờ cụ Giải nguyên Hồ Sĩ Tạo. Con cháu trong họ rất trân trọng và quý mến cái tâm của thượng toạ.


 


6.Kí của tôi là dã sử, nó có chỗ khác với chính sử. Dã sử chỉ để tham khảo mà thôi!


7.Những bạn đọc góp ý, khen ngợi, bổ sung... tôi xin trân trọng ghi nhận. Tôi là một “phó thường dân”, ai gọi tôi bằng gì cũng được, tôi không hề nhận một xu nào của ai... Nhưng những kẻ gọi vị giáo sư sử học tên tuổi, đáng kính là “thằng này, thằng nọ, đồ này đồ nọ”... “nhận đôla rồi bịa đặt..”, thì tôi coi là thiếu giáo dục, là vô học và xin được miễn tranh cãi và trả lời.


 


8.Bài kí của tôi chỉ giới thiệu duy nhất trên talawas. Những báo và những ai không có sự đồng ý của tôi đã trích đăng, nhào nặn, bóp méo, thêm thắt... kí tên tôi để phục vụ cho những mưu đồ đen tối và mục đích chính trị bẩn thỉu, tôi cực lực phản đối.


Tôi viết sự thật không chứa đựng một ý đồ nào. Vì uy tín của tờ báo, tôi kính đề nghị talawas phát biểu chính kiến của mình.


Lần nữa xin chân thành. Cảm ơn bạn đọc


Trường Lam Hồ Sĩ Sênh


 


© 2008 talawas


 


TÔI ĐI TÌM MỘ CỤ HỒ SĨ TẠO


Phạm Xuân Cần


Bác Hồ Thanh Chương, nguyên là đại tá, Hiệu trưởng Trường Đại học An ninh nhân dân, ở thành phố Hồ Chí Minh, quê làng Lai Nhã, xã Thanh Khê, huyện Thanh Chương. Bác là cháu nội cụ cử nhân Hồ Sĩ Tạo, đồng thời cũng là em đồng hao của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh. Bác cho biết, bác quê ở Thanh Chương, nên sau mới đổi tên từ Hồ Giả Chương thành Hồ Thanh Chương. Tuy nhiên, bác không sinh ra và lớn lên ở Thanh Chương, mà sinh ra và lớn lên ở Quảng Trạch, Quảng Bình, nơi cụ Hồ Sĩ Tạo trước đây đã từng làm tri phủ. (Hai con trai của bác Chương được đặt tên là Quảng và Bình). Đã hàng chục năm bác Chương không về quê, nhưng vẫn canh cánh bên lòng chuyện chưa tìm được mộ ông nội.


 


Bác cho biết ông nội bác sau khi thôi chức Tri phủ Quảng Trạch, thì về quê dạy học ở Thanh Trường, Thanh Chương (Nay gọi là xã Xuân Tường). Nơi cụ mở trường dạy học về sau được gọi là Cồn Trường. Tại đây cụ gá nghĩa với một người phụ nữ, thường gọi là bà Chổi. Có lẽ do bà thường đi bán chổi kiếm ăn. Đó là người đàn bà thứ năm của bậc tài hoa và đào hoa Hồ Sĩ Tạo. Theo bác Chương, sau khi mất, cụ Hồ Sĩ Tạo không được chôn cất ngay, mà học trò của cụ còn để đến ba tháng sau mới làm lễ. (Điều này hơi khác với những gì mà ông Trường Lam Hồ Sĩ Sênh đã viết trong bài ký nổi tiếng “Chuyện ở sân sau”).


 


Đầu năm 1998, sau khi nghỉ hưu, bác Hồ Thanh Chương từ thành phố HCM ra Vinh, cùng anh em chúng tôi là những học trò của bác đi tìm mộ cụ Hồ Sĩ Tạo. Đó cũng là chuyến về quê đầu tiên sau hơn hai mươi năm của bác.


 


Về quê, bác Chương chỉ có một nguồn tin duy nhất do bà cô cho biết: mộ cụ Hồ Sĩ Tạo ở xã Thanh Trường, huyện Thanh Chương. Mộ có một tấm bia đá nhỏ, bị sứt góc phía bên trái. Bà còn cho biết ở xã này có một ông già họ Mai biết nơi đặt ngôi mộ.


 


Xuất phát từ Vinh từ sáng sớm, việc đầu tiên của chúng tôi là tìm ông già họ Mai. Gần trưa thì mới tìm được ông cụ họ Mai. Qua một vài câu chuyện, tôi đã hơi nghi ngại, vì ông cụ đã bắt đầu lẫn. Ông kể chuyện đi chiến dịch Điện Biên phủ gặp Bác Hồ, nói chuyện đồng hương với Bác, mà quả thật tôi cũng không biết thực hư ra sao. Nhưng dù sao ông cụ cũng là điểm tựa duy nhất lúc này, vì vậy vẫn phải mời cụ lên xe ra “hiện trường”. Đến nơi ông cụ khoát tay chỉ một vùng đồi rộng lớn và nói: “ở đây”. Đây là vùng đồi chắc là đã chia cho từng hộ gia đình, nên được ngăn cách bằng những hàng rào bằng tre, hoặc những loại cây có gai. Nhìn khắp nơi tôi không hề thấy dấu hiệu gì là có mồ mả cả. Ban đầu chúng tôi còn theo ông cụ, luồn hết đồi này sang đồi khác, nhưng càng đi càng thấy mông lung, nên sau tôi bàn với bác Chương, chia ra mỗi người một khu vực để tìm. Thế nhưng, càng tìm càng mất hút, nhìn chỗ nào cũng tưởng như là có ngôi mộ, nhưng đến gần thì không thấy có dấu hiệu gì.


 


Đã quá trưa, đói và mệt, lại bị gai cào, ông cụ và cả bác Chương nữa cũng không biết đang tìm ở đâu, tôi ngồi xuống nghỉ một chốc cho lại sức. Đang nghỉ, tự nhiên thấy một bé trai độ chín mười tuổi cũng đang lò dò tìm kiếm gì đó trong vườn đồi. Tôi gọi cháu đến và hỏi: “Cháu ở đây có biết chỗ nào có ngôi mộ không?”. Cháu bé trả lời ngay: “Đằng bụi tre này có cái bia chú ạ”. Nói rồi nó tất tả đi trước chỉ cho tôi đến chỗ có tấm bia. Tấm bia quay lưng vào một lùm tre, xung quanh cây cối rậm rì. Có lẽ đã hàng chục năm không người chăm sóc, ngôi mộ không còn nhô lên nữa. Nó chỉ còn là một tấm bia đá nhỏ cắm giữa cây dại, phía sau là lùm tre đã bắt đầu lấn ra cả phía tấm bia. Tôi gần như quỳ ngay xuống tấm bia khi nhìn thấy nó. Đây rồi, bị sứt góc phía bên trái! Mấy chữ Hán trên bia hãy còn rõ. Tôi bứt vội mấy lá cây xát lên bia và đọc được chữ “Hồ”, chữ “Tiểu”, dưới đó là một chữ gì đó rậm rì, có bộ thủy, cuối cùng chữ “chi mộ” thì quen rồi, biết ngay. Tôi còn đọc được chữ “Quảng”, chữ “Phủ” phía bên phải. Sao lại là “Hồ Tiểu” nhỉ, ông là Hồ Sĩ Tạo kia mà, chữ Sĩ và chữ Tạo thì tôi biết. Nghĩ thế, nhưng tôi vẫn tin chắc là mộ cụ Hồ Sĩ Tạo. Tôi khum tay gọi bác Chương vang động cả vùng đồi.


 


Mãi hàng chục phút sau bác Chương mới bươn đến, mặt mũi đỏ bừng, mồ hôi, mồ kê nhễ nhại. Ông quỳ ngay xuống trước tấm bia. “Đây thật rồi! Đây thật rồi!”. Tôi hỏi: “Nhưng tại sao lại là Hồ Tiểu hả bác?”. Bác Chương nói ngay: “Hồ Tiểu Khê! Hồ Tiểu Khê! Tiểu Khê là tên hiệu của ông nội mình. Tiểu Khê nghĩa là dòng suối nhỏ”. Thế thì chính xác rồi. Tôi vào một gia đình có nhà gần đó mượn một con dao. Hai thầy trò cùng chặt cành, phát quang, dọn sạch khu vực quanh tấm bia. Sau đó, đem hương mang theo, thắp hương cắm lên mộ. Hai thầy trò đứng nghiêm trước mộ phần của cụ, nghẹn ngào, không nói được lời nào. Bác Chương chắc xúc động lắm. Nguyện ước cả đời đã đạt được. Để chắc chắn hơn, tôi cẩn thận chép lại từng chữ Hán trên tấm bia. Tối hôm đó cha tôi đã dịch nội dung tấm bia. Dòng trên cùng là chữ Lai Nhã thôn. Bên trái là “Mậu Thìn giải nguyên’, bên phải là “Quảng Trạch tri phủ”, chính giữa là “Hồ Tiểu Khê chi mộ”. Có nghĩa: Mộ của Hồ Tiếu Khê, người làng Lai Nhã, đậu giải nguyên năm Mậu thìn, làm tri phủ Quảng Trạch.


 


Xong nghi lễ, hai thầy trò vào gia đình có khu vườn đồi. Bác Chương cám ơn gia đình, gửi lại cho họ một ít tiền, nhờ chăm sóc, hương khói cho phần mộ trong lúc chưa tôn tạo lại được. Ông chủ nhà cho biết cách đó chừng tám chín, năm, tức là khoảng năm 1989, 1990 gì đó cũng đã có một vài người, nói là cán bộ văn hóa về tìm ngôi mộ. Gia đình cũng biết ngôi mộ này chắc là của một nhân vật quan trọng, nên cũng có ý thức giữ gìn.


 


Có một chút ân hận nhỏ, là mải lo chuyện, tôi quên mất đứa trẻ đã chỉ cho mình ngôi mộ, khi hỏi ông chủ nhà thì ông cũng lắc đầu “không biết đứa mô”. Ông già họ Mai cũng vậy. Xong việc, tôi lại bươn khắp vùng đồi, vừa gọi vừa tìm ông, nhưng mãi vẫn không thấy. Tin chắc không có gì bất trắc, thầy trò chúng tôi đành lên xe, không quên ghé qua nhà ông gửi cho gia đình một ít tiền, thay lời cám ơn.


 


Chiều hôm đó bác Chương mới về đến Thanh Khê, sau hơn hai mươi năm. Họ hàng đón ông mừng mừng tủi tủi. Tiếp chuyện với chúng tôi là ông Hồ Sĩ Dũng, gọi bác Chương bằng bác. Ông Dũng người trông khắc khổ, nhưng tỏ ra khá hiểu biết về lịch sử và văn hóa. Sau khi nghe kể lại quá trình tìm mộ, ông tỏ ra tiếc rẻ. “Nếu bác về quê trước thì chắc không vất vả như vậy, vì ở quê vẫn có một số người biết ngôi mộ này”. Ông cũng kể nhiều giai thoại về cụ Hồ Sĩ Tạo. Ông cho biết, cụ Hồ Sĩ Tạo có một tập thơ, tựa là “Tiểu Khê thi tập”, gồm trên dưới một trăm bài thơ. Những năm 60, 70 có đoàn sưu tầm văn hóa dân gian của tỉnh về đã mượn tập thơ đó, nay chắc Phó giáo sư Ninh Viết Giao đang giữ. Ngay hôm sau về Vinh, tôi đã nhờ người đưa bác Chương lên gặp PGS Ninh Viết Giao. Hai người nói chuyện rất tâm đắc về Hồ Sĩ Tạo. Nhưng về tập thơ, ông Giao cho biết ông cũng nghe nói vậy, chứ chưa hề nhìn thấy nó. Nếu có thì chắc chắn ông đã tìm cách giới thiệu rồi. Gần đây nhà nghiên cứu Trần Minh Siêu, tác giả nhiều công trình nghiên cứu về gia đình Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nói cụ Hồ Sỹ Tạo có một tập nhật ký tìm họ, nói về việc tìm lai lịch họ Hồ, không biết nay thất lạc ở đâu.


 


Sau chuyến đi tìm mộ, bác Chương còn về nhiều lần nữa. Ngôi mộ đã được sửa sang lại khang trang hơn và đã được con cháu lui tới chăm sóc. Năm 2010, ngôi mộ đã được đầu tư tôn tạo lại hết sức khang trang. Hôm trở lại đây dự lễ khánh thành ngôi mộ, tôi hầu như không nhận ra nơi mười hai năm về trước mình đã có một chuyến đi vất vả mà đầy ý nghĩa. Buổi lễ khánh thành được tổ chức thật trọng thể và nghiêm trang. Ban liên lạc họ Hồ toàn quốc, cùng với con cháu khắp trong Nam ngoài Bắc về dự. Trong các đoàn lên dâng hương, tôi nghe giới thiệu cả đoàn đại biểu họ Hà. Tôi được bác Hồ Thanh Chương trịnh trọng giới thiệu là “một ân nhân của họ Hồ ta”. Tự nhiên nước mắt cứ thế tuôn trào. Hôm đó, bác Chương cũng thay mặt con cháu nói mấy câu cám ơn. Một vị được giới thiệu là trưởng ban sử của dòng họ lên nói vanh vách về lịch sử họ Hồ và Hồ Sĩ Tạo. Ông không ngần ngại trình bày hết sức rõ ràng, thuyết phục về những gì gọi là giai thoại, là thâm cung bí sử quanh nhân vật Hồ Sĩ Tạo.


 


Lại nhớ, buổi chiều của năm 1998 ở Thanh Khê. Khi bước vào nhà thờ họ thắp hương, tôi, bác Chương và mấy người cùng đi sửng sốt trước bức phả hệ được vẽ trên tấm vải trắng, treo trang trọng giữa nhà thờ. Trên đó, dưới cái tên Hồ Sĩ Tạo có một mũi tên chỉ xuống. Dưới mũi tên là những cái tên quen thuộc. Bác Chương nghiêm sắc mặt: “Không được! Không được!”. “Chi mà không được bác?”, ông Hồ Sỹ Dũng nói. “Không được là không đươc. Đã rõ ràng chi mô!”. “Bác hay thật. Có chi nữa mà không rõ ràng?” “Không được”. Bất giác, tôi cũng nói theo bác Chương: “Không được. Không được…”.


 


PXC.


 


Hai bài thơ của cụ Hồ Sĩ Tạo


(nguyên văn chữ Hán)


 


Vịnh Hà Nội


 


Gió bụi nhiều nay tới cố kinh


Sớm ra nhìn lại xót xa tình


Cá hồ xao động ba triều biến


Long Đỗ trơ vơ mấy dặm tình.


Bảng lảng núi Nùng mây phủ kín


Khóc than dòng Nhị nước trôi nhanh


Anh hùng, hào kiệt đi đâu cả


Ai giúp non sông rửa bất bình?


               Vũ Minh Anh dịch


Đề đền thờ ba vị trung liệt


 


Khói bụi mờ mịt trên thành Rồng


Dưới thành máu đỏ nhuốm đầy sông


Thành trả, Nguyễn nguyên soái không về


Thành mất, mất luôn Hoàng Tướng công


Đời tựa bóng câu qua cửa vách


Nghìn năm chính khí vút trời biếc


Nhà Tống ba trăm năm cương thường


Dồn vào một vai Văn Thiên Tường


Cần chết mà chết, chết bất hủ


Đến nay sử xanh còn lừng hương.


Hoan Châu, hậu sinh Hồ Sĩ Tạo


Kính thuật văn này một lời điếu


Mây non Tản soi bóng sông Hồng


Rờ rỡ tinh trung vầng nhật chiếu.


               Nguyễn Văn Huyền dịch


Nguồn: In trong Tổng tập Văn học Việt Nam tập 19. NXB Khoa học Xã hội.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
Chợ Cũ Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa 19.03.2017
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot - Tư liệu 19.03.2017
Người Trung Quốc viết về nạn diệt chủng của Khmer Đỏ - Nguyễn Hải Hoành 19.03.2017
Đọc “Pol Pot: Mổ xẻ một cơn ác mộng” - Trần Hữu Dũng (Hoa Kỳ) 19.03.2017
xem thêm »