tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20192443
19.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (9)

6. TÁC PHẨM


Hà Tông Quyền cùng Trương Đăng Quế được cử biên tập sách Ngự chế tiễu bình lưỡng kỳ nghịch phỉ phương lược. Khi sách làm xong cho khắc in 153 quyển (142 quyển chính biên, 8 quyển phụ biên, 2 quyển thơ, 1 quyển mục lục).


Năm 1835, Minh Mệnh năm thứ 16, sung Trương Đăng Quế làm Tổng tài Thực lục sở (cơ quan viết sử). Tả phó Đô ngự sử viện Đô sát Phan Bá Đạt làm phó Tổng tài.


Tác phẩm của ông hiện còn lưu lại:


1. Thiệu Trị văn quy (Quy tắc làm văn thời Thiệu Trị)


Ngoài ra, ông còn sáng tác thơ văn, bút ký...


Theo Giáo sư Trần Nghĩa, nguyên viện trưởng viện Nghiên cứu Hán Nôm, thì tác phẩm của Trương Đăng Quế còn lại tại kho lưu trữ của Viện Hán Nôm gồm:


2. Quảng Khê văn tập ký hiệu A.3045


3. Trương Quảng Khê văn tập - VH. 1142.


4. Trương Quảng Khê tiên sinh tập A. 777.


5. Sứ trình vạn lý tập A. 2769.


6. Duyệt Giáp Thìn khoa Điện thí văn VH. 78.


7. Về Diệu Liên thi tập VH. 685.


8. Nhật Bản kiến văn tiểu lục A.1164.


Ông còn tham gia chủ trì hoặc biên tập các sách:


9. Đại Nam liệt truyện tiền biên VHv. 172


10. Đại Nam thực lục tiền biên.   VHv. 1320/1-4


11. Đại Nam thực lục chính biên             A. 2772/1-67


12. Hoàng Nguyễn thực lục tiền biên VHv. 140.


13. Hoàng Nguyễn thực lục hậu chính biên          VHv. 141


 


TỔNG LUẬN VỀ TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ.


TỪ MỘT CUỘC ĐỜI KỲ LẠ


Nếu triều Nguyễn quá nặng về vấn đề lý lịch thì chắc chắn đã không có nhân vật Trương Đăng Quế. Nhà Nguyễn sẽ mất đi một đại thần trụ cột, một Binh bộ thượng thư tài năng, một Thái sư đầu triều tận tụy, một nhà kinh tế lỗi lạc, một nhà lãnh đạo tài kiêm văn võ trong công cuộc trấn Tây, bình Nam, định Bắc, vươn ra biển Đông mà sự nghiệp lẫy lừng của ông còn tác động đến tận ngày nay, chưa nói ảnh hưởng còn lâu dài về sau này nữa. Ông cũng là người có sách lược chống Pháp, có thể nói là thực tế hơn hết. Văn học Việt Nam cũng sẽ không có các tác phẩm kinh điển như Đại Nam thực lục tiền biên, Đại Nam liệt truyện... và thi phẩm Trương Quảng Khê Tiên sinh tập. Nói chung, đó sẽ là một tổn thất to lớn về mọi mặt của đất nước vì Trương Đăng Quế xuất thân từ một gia đình quan chức lớn triều Tây Sơn, kẻ thù của triều Nguyễn.


Vậy mà, trong cái chế độ phong kiến ấy, Trương Đăng Quế đã hiên ngang bước vào lịch sử, với những công nghiệp phi thường. Chúng tôi cho rằng đây chính là nét kỳ lạ và độc đáo nhất của cuộc đời ông, một đặc điểm mãi còn mang tính thời sự, mặc dù sự việc diễn ra đã gần hai trăm năm qua.


Trương Đăng Quế là con trai của Trương Đăng Phác, Tri phủ Quảng Ngãi, dưới thời Tây Sơn, một chức vụ tương đương chức tỉnh trưởng của thời sau này. Chú của ông là Đô đốc Trương Đăng Đồ và thím ông là nữ Đô đốc Huỳnh Thị Cúc, đều là tướng lĩnh Tây Sơn, đã tử tiết khi đánh nhau với quân Nguyễn Ánh tại thành Sơn Tây.


Như vậy, đối với triều Nguyễn thời Gia Long, ông là người có lý lịch hết sức đen tối, một thành phần nguy hiểm, và lẽ ra không thể được nhận bất cứ chức vụ nào trong bộ máy nhà nước Gia Long, một triều đình từng tỏ ra thù hận Tây Sơn cực độ, và đã có một cuộc báo thù kinh thiên động địa mà lịch sử còn ghi nhớ.


Thế nhưng, từ một cậu bé mồ côi, được anh chị nuôi cho ăn học, ông cũng đã được đi thi, và đỗ cử nhân khoa thi Hương năm 1819, niên hiệu Gia Long thứ 17, sau đó được bổ nhiệm vào một chức vụ nhỏ ở bộ Lễ. Từ đây, ông bắt đầu sự nghiệp và lần lượt trải qua các chức vụ từ thấp đến cao.


Chỉ một năm sau khi vào triều, năm 1920, Minh Mệnh nguyên niên, với sự chứng minh được chân tài thực học của mình, ông được bổ nhiệm làm Đông Cung bạn độc, tức là người cùng đọc sách và giảng giải nghĩa lý trong sách cho các hoàng tử, trong đó có Hoàng thái tử Miên Tông, sau này là vua Thiệu Trị. Năm đó ông 27 tuổi.


Năm 1830, niên hiệu Minh Mệnh thứ 11, Trương Đăng Quế 37 tuổi, được cử làm Tả thị lang bộ Công, rồi chuyển qua làm Tả thị lang bộ Lễ, làm việc ở Nội các. Sau đó ông được cử làm Tả tham tri bộ Hộ.


Năm 1832, ông được thăng chức thượng thư bộ Binh, lãnh ấn Đô sát viện, chính thức bước vào hàng ngũ quan lại cao cấp của triều đình. Năm đó ông mới 39 tuổi, và mới ra làm quan được13 năm.


Năm 1834, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15, vua quyết định thành lập Cơ mật viện, phụ trách các vấn đề quân quốc trọng sự. Cơ mật viện có năm thành viên gồm Vua và bốn vị đại thần: Binh bộ Thượng thư Trương Đăng Quế, Lại bộ Thượng thư Nguyễn Kim Bảng, Tả Phó Đô ngự sử Đô sát viện Phan Bá Đạt và Đại Lý tự khanh bộ Hình Phan Thanh Giản. Với tư cách là thành viên Cơ mật viện, Trương Đăng Quế đã trở thành một trong tứ trụ triều đình


Năm 1836, Trương Đăng Quế được thăng Hiệp Biện Đại học sĩ, Tòng Nhất phẩm. Sau đó kiêm nhiệm bộ Lễ, bộ Công, rồi kiêm quản Khâm thiên giám. Ông trở thành nhân vật hàng đầu Nội các khi mới 43 tuổi, khi chỉ trải qua 17 năm làm quan.


Năm 1840, Trương Đăng Quế là người duy nhất được Vua Minh Mệnh thác cô, phò tá Hoàng thái Tử Miên Tông lên ngôi. Sau khi vua Minh Mệnh băng hà, ông trở thành phụ chính đại thần triều vua Thiệu Trị.


Năm 1841, Thiệu Trị nguyên niên, phụ chính đại thần Trương Đăng Quế được phong Văn Minh điện Đại học sĩ, Binh bộ Thượng thư sung Cơ mật viện.


Năm 1847, trước khi băng hà, vua Thiệu Trị đã uỷ thác cho tứ trụ đại thần Trương Đăng Quế, Nguyễn Tri Phương, Vũ Văn Giải và Lâm Duy Thiếp cùng phò tá Tự Đức lên ngôi.


Năm 1847, Tự Đức nguyên niên, Trương Đăng Quế được thăng Cần Cánh điện đại học sĩ, tước Tuy Thạnh quận công. Cần biết thêm một điều: nhà Nguyễn có quy định không phong chức thừa tướng, cũng không phong vương cho người ngoài hoàng tộc, cho nên những phẩm hàm mà Trương Đăng Quế được phong là cực phẩm, chỉ đứng sau vua.


Con đường hoạn lộ của ông rất thênh thang, đã khiến người ta phải đặt ra dấu hỏi, phải chăng triều đình nhà Nguyễn, hoặc là không quan tâm đến vấn đề lý lịch của các quan, hoặc là đã bị bịt mắt, không hề biết đến cái Iý lịch man khai, hết sức “đen tối” của ông?


Câu hỏi này đã có câu trả lời. Thực ra, như mọi triều đại phong kiến khác, triều đình nhà Nguyễn rất quan tâm đến vấn đề lý lịch của các quan lại. Bộ Lễ là cơ quan điều tra, sưu tầm, nghiên cứu lý lịch ba đời của các quan, dĩ nhiên nắm rõ hoàn toàn nhân thân Trương Đăng Quế. Bằng chứng là vào năm 1838, với mục đích tưởng thưởng các công trạng to lớn của Trương Đăng Quế vì công lao Kinh lược Nam Kỳ và dẹp loạn ở Thanh Hoá, vua Minh Mệnh muốn sắc phong cho tổ tiên của Hiệp Biện Đại học sĩ Trương Đăng Quế. Khi đình thần thảo luận, thì bộ Lễ đã đưa ra vấn đề lý lịch ba đời của ông. Theo hồ sơ giám sát của bộ Lễ, cha và chú của Trương Đăng Quế làm quan to cho Tây Sơn, ông nội của Trương Đăng Quế từng được vua Tây Sơn phong tặng chức tước, nhờ công lao của các con mình. Vậy mà nay lại đặt ra vấn đề phong tước của triều Nguyễn cho những kẻ từng nhận chức tước của “ngụy”, thì quả là một sự kiện lớn, một ngoại lệ, một việc chưa từng xảy ra.


Thử xem, triều đình đã giải quyết thế nào?


Tất nhiên, có thể hủy bỏ hoàn toàn việc phong tặng. Nhưng làm vậy thì rõ ràng là chưa chiếu cố đến những công trạng lớn lao mà Trương Đăng Quế đã đóng góp cho đất nước và chưa thể hiện được mong muốn của Hoàng thượng. Song nếu cứ nhắm mắt tấn phong, thì chắc chắn là sẽ vấp phải sự đàn hặc của Ngự sử đài.


Bộ Lại đã đề xuất một cách dè dặt, cố đẩy quả bóng quyết định về phía nhà vua: “Hai đời cha và ông nội của Trương Đăng Quế đã nhận tước phong của ngụy, nhưng ông nội của Trương Đăng Quế, thì chưa từng làm quan cho ngụy, vậy có được phong hay không, xin tâu rõ và chờ Chỉ của Hoàng Thượng”.


Vua Minh Mệnh cũng tỏ ra lúng túng không kém, đành yêu cầu bộ Lại bàn kỹ với bộ Lễ, tham khảo luật lệ cổ của các vương triều trước đây, kể cả luật lệ Trung Quốc là nhà Minh, nhà Thanh, rồi đề xuất giải pháp hợp lý. Sau khi nghiên cứu, có lẽ đã tìm ra một vài trường hợp tương tự trong lịch sử cổ kim, bộ Lễ và bộ Lại thống nhất đề xuất phong tặng phẩm tước cho ông nội của Trương Đăng Quế. Đề xuất này được vua Minh Mệnh chuẩn y.


Điều này có một ý nghĩa đặc biệt. Nó chứng tỏ là mặc dù mang trên mình một lý lịch hết sức “đen tối”, nhưng bằng sự dứt khoát tư tưởng, một lòng một dạ ra sức phục vụ đất nước, cộng với tài năng đặc biệt, Trương Đăng Quế đã hoàn toàn chinh phục cả triều đình, nhất là đã chinh phục được vua Minh Mệnh.


Triều đại Minh Mệnh có lẽ là triều đại cường thịnh nhất của đất nước ta. Lúc đó biên giới Việt Nam mở rộng toàn cõi Đông Dương, bao gồm cả Ai Lao và Chân Lạp. Hoàng đế Minh Mệnh là một vị vua anh minh, mẫn tiệp và hết sức cương nghị. Vậy mà vị hoàng đế này đã phải khâm phục và yêu quý tài năng, đức độ cùng các cống hiến to lớn của Trương Đăng Quế. Vậy tài năng, đức độ và cống hiến của Trương Đăng Quế đã được thể hiện ra sao? Chúng tôi sẽ trở lại đề tài này trong phần nói về sự nghiệp lẫy lừng của Trương Đăng Quế.


 Cuộc đời ông, với những trường đoạn đầy biến ảo, không khác gì chuyện hoang đường. Mới năm trước, còn là một thư sinh mồ côi, nghèo khổ, mang trên mình cái lý lịch “chết người” đối với triều đại mới, năm sau ông đã được ra vào nơi cung cấm, trở thành Đông Cung bạn độc. Rồi từng bước thăng tiến theo thời gian, ông trở thành một vị quan lớn đầu triều, phẩm hàm ngang các bậc vương gia, quyền uy vang dậy khắp tám cõi. Được hai đời Tiên Đế kế tục nhau uỷ thác con côi, ông là vị phụ chính đại thần được vua Tự Đức tôn làm Trọng phụ.


VỚI NGHI ÁN TÀY ĐÌNH


Điều kỳ lạ tiếp theo của cuộc đời Trương Đăng Quế, chính là lúc quyền uy, danh vọng của ông đang ở tột đỉnh, thì ông lại nhất quyết từ giã triều đình. Điều gì đã khiến cho một con người lúc nào cũng coi việc phục vụ đất nước, phục vụ cái vương triều mà mình đã suốt đời cúc cung tận tụy, để đi đến quyết đình, muốn rũ áo từ quan, trở về với vùng quê nghèo khổ? Mà đó không phải là một ý muốn nhất thời, hoặc một kiểu hợm mình để được níu kéo. Ngược lại, nó thể hiện một ý chí mãnh liệt, được lặp đi lặp lại nhiều lần: Trong mười ba năm sau cùng của hoạn lộ, ông đã có đến sáu lần dâng sớ xin về hưu.


Muốn hiểu được phần nào tâm sự của ông, phải theo dõi quá trình lên ngôi của vua Tự Đức. Vua Tự Đức huý là Hồng Nhậm, vốn không phải là con trưởng. Con trưởng của vua Thiệu Trị chính là hoàng tử Hồng Bảo, bị vua cha Thiệu Trị chê là người phẩm hạnh kém cỏi, đam mê trụy lạc, không đủ tư cách làm vua. Khi lâm chung, vua Thiệu Trị thác cô cho tứ trụ đại thần mà đứng đầu là Trương Đăng Quế, phò tá Hồng Nhậm lên ngôi. Việc phế trưởng lập thứ ở bất cứ vương triều nào, cũng đều gây ra những hậu quả nhất định. Không được nối ngôi, Hồng Bảo tỏ ra căm giận, cùng phe cánh tiến hành bạo loạn lật đổ. Hậu quả tất yếu là nồi da xáo thịt, vô cùng thảm khốc. Cuộc binh biến thất bại, toàn bộ những kẻ âm mưu đều bị gia hình. Như vậy Trương Đăng Quế chính là người đứng mũi chịu sào về mọi diễn biến của tấn bi kịch cung đình thời Tự Đức. Phải chăng trong thâm tâm, ông cũng đã hết sức đau lòng, khi phải cáng đáng cái vai trò lịch sử hết sức cay đắng: vừa phải bảo vệ ngai vàng và sự ổn định cho Hồng Nhậm theo lời thác cô của Tiên Đế, vừa phải tiêu diệt chính những người thân của vua. Và chính trong bối cảnh đó, những lời đồn đại trong dân gian về nhân thân của vua Tự Đức, đã được phe chống đối tung ra. Luận điểm chính của những tin đồn này như sau:


1. Vua Tự Đức không phải là con của vua Thiệu Trị, mà là con riêng của Trương Đăng Quế, do tư thông với Thái hậu Từ Dũ sinh ra.


2. Cũng còn có một lời đồn đại khác, cho rằng Trương Đăng Quế đã dùng thủ đoạn tráo ấu chúa, đưa con ruột của mình là Trương Quang Đản vào cung thế chỗ cho hoàng nhi Hồng Nhậm, khi vợ ông và thái hậu Từ Dũ sinh con cùng ngày.


Cả hai luận điểm này, đều đã được tác giả Quốc Thái bác bỏ một cách hùng hồn trong bài báo: Vua Tự Đức là con ai? Luận điểm của tác giả Quốc Thái là rất thuyết phục:


- Trương Đăng Quế không thể nào tư thông với một vương phi trước thời điểm vua Tự Đức sinh ra năm 1829, vì một lẽ rất đơn giản: Trước năm 1829, Trương Đăng Quế chỉ giữ một chức quan nhỏ, năm 1830 mới được gia phong làm Tả thị lang bộ Công, cũng chỉ là một quan chức trung bình. Một viên quan nhỏ thì không thể nào lại đóng vai quyền thần, vào ra cung cấm như vào ra chính nhà mình để tư thông với một vương phi mới mười sáu tuổi, trong một cung đình mà kỷ cương chặt chẽ như cung đình của hoàng triều Minh Mệnh.


 - Việc tráo đổi ấu chúa thì càng hoang đường một cách lố bịch: Vua Tự Đức sinh năm 1829, Trương Quang Đán sinh năm 1833, điều này có nghĩa là khi vua Tự Đức ra đời, Trương Quang Đán chưa có mặt trên cõi đời.


Mặt khác, ta có thể thấy được thủ đoạn và ý đồ chính trị của các tin đồn trên kia. Đó là dùng một mũi tên có thể bắn trúng hai con chim. Thứ nhất, hạ bệ uy tín chính trị của vua Tự Đức đối với bàn dân thiên hạ. Một người không phải giọt máu của vương triều, mà chỉ là sản phẩm của một cuộc thông dâm hèn hạ, hoặc tráo đổi gian xảo, thì không thể nào đủ tư cách làm vua, mà chỉ là một kẻ tiếm vị, chà đạp lên đạo lý, trở thành kẻ thù chung của thiên hạ.


 - Thứ hai, triệt hạ chỗ dựa về tinh thần của cả triều đình, khi kẻ trọng thần đứng đầu trăm quan, được Tiên Đế thác cô, lại dính líu vào một vụ án buôn vua bẩn thỉu.


 Ở đây chúng ta sẽ xem xét vấn đề ở những khía cạnh khác với tác giả Quốc Thái. Đó là xem xét nhân cách những người liên quan.


- Nhân cách của một bà Hoàng thái hậu.


Theo chính sử Hoàng Triều Đại Nam thực lục, đức Hoàng thái hậu Từ Dũ, nhũ danh Phạm Thị Hằng là con gái của quan Lễ bộ thượng thư, Cần Chánh điện Đại học sĩ Phạm Đăng Hưng, là một người phụ nữ khiêm cung, có đức hạnh, chăm lo việc quản lý nội cung vô cùng chu đáo và dạy con rất nghiêm. Con bà, vua Tự Đức, cũng là một người con cực kỳ hiếu kính. Chính sử còn ghi lại, mặc dù đã lên ngôi, nhưng khi vua Tự Đức phạm lỗi, đi săn bắn trong rừng gặp nước lụt, không kịp về trong ngày giỗ Tiên Đế Thiệu Trị, đã biết lỗi nên dâng roi cho Thái hậu, và xin nằm xuống chịu đòn. Hàng trăm năm sau, người dân Việt vẫn còn ngưỡng mộ đức độ của bà, thể hiện bằng các công trình văn hoá xã hội mang tên Từ Dũ. Việc cố tình gán ghép một người phụ nữ có nhân cách cao như vậy vào tội lăng loàn, thông dâm, ngoại tình, chỉ làm lộ ra thêm những động cơ đê hèn của kẻ gán ghép mà thôi.


- Nhân cách của một vi đại thần đầu triều.


Bên Trung Quốc, đã từng có một câu chuyện buôn vua xảy ra dưới thời chiến quốc, được ghi lại tỉ mỉ dưới ngòi bút Tư Mã Thiên.


Đối chiếu hai con người Lã Bất Vi và Trương Đăng Quế, ta thấy rõ hai nhân cách gần như hoàn toàn trái ngược. Lã Bất Vi xuất thân là một con buôn, tìm cách đưa dòng máu của mình trở thành kẻ nối dõi Tần Vương, để đạt ngôi Tể tướng, với mục đích mưu cầu sự giàu sang sung sướng cho bản thân mình. Lã Bất Vi đã cố sống cố chết bám lấy vương triều Tần để thụ hưởng giàu sang và quyền lực, cho đến khi bị chính con ruột của mình giết chết bởi những hành vi đồi bại của mình.


Còn Trương Đăng Quế thì sao? Xuất thân từ một người học trò mồ côi, nghèo khổ, lý lịch có vấn đề, chỉ bằng chân tài thực học ông đã bước vào hoạn lộ. Cũng chính từ tài năng bẩm sinh kết hợp với sự cúc cung tận tụy của mình, ông có được sự tin phục của cả ba đời vua, và hai lần được Tiên Đế thác cô. Sự trọng thị mà vua Tự Đức dành cho ông là hoàn toàn dễ hiểu và vô cùng xứng đáng. Thế nhưng trên đỉnh cao quyền lực và sự vàng son ấy, ông lại nhất quyết rời bỏ triều đình. Đó là điều mà những người cỡ Lã Bất Vi không thể nào làm được.


Từ năm 1850 đến năm 1863, ông đã sáu lần dâng sớ xin về hưu, năm lần sớ của ông bị vua và triều đình bác bỏ. Nỗi đau đến từ những tranh chấp cung đình có thể chỉ là một phần trong tâm sự của ông. Ông muốn rời bỏ triều đình cũng còn vì một nỗi đau khác, nỗi đau cuối đời của một nhà chính trị và quân sự, nhìn thấy cái cơ đồ mà mình đã đem hết tinh lực cả đời vun đắp, lại sắp sửa rơi vào tay ngoại bang.


Lá sớ thứ sáu dâng vua năm ông đã bảy mươi mốt tuổi, vừa qua tuổi cổ lai hy, được vua miễn cưỡng chấp thuận. Đó cũng là thời điểm mà quân Pháp vừa thôn tính ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, và triều đình phải ký hoà ước Nhâm Tuất, công nhận quyền cai trị của thực dân Pháp. Tháng ba năm 1863, ông từ giã kinh đô, quay lại miền quê xứ Quảng, vẫn với căn nhà tranh, như bốn mươi ba năm trước, ngày ông cất bước lên đường.


Chỉ hơn một năm sau đó, Bình Tây Đại Nguyên soái Trương Định, người bạn chiến đấu chống Pháp cùng chí hướng, mà ông từng ám trợ khi còn ở triều đình, đã sa cơ tuẫn tiết. Bảy tháng sau, ông cũng từ trần trong gian nhà tranh vách đất của tổ phụ năm xưa.


Vua Tự Đức ra lệnh bãi triều ba ngày - một hình thức quốc tang thời đó - và thực hiện di chiếu của Tiên đế, khi mãn tang, đưa ông vào thờ ở Thế Miếu.


Tác giả Ưng Trình đã viết về Trương Đăng Quế như sau:


“Tiên sinh làm Tể tướng hai mươi năm. Cung hàm đến chức Thái sư. Tước phong đến Quận công. Điện hàm đến Cần Chánh. Thế mà ngày về hưu, tại làng chỉ có một nóc nhà tranh. Trước cửa nhà, tiên sinh để một cặp câu đối:


“Cố quận tự liên vô biệt nghiệp,


Thử sinh nguyên dĩ hứa vi thần”


Dịch:   “Quê nhà không có cơ đồ sẵn,


Giúp nước đâu màng chút lợi riêng.”


Đó chính là nhân cách cao vời của Trương Đăng Quế.


Người xưa thường nói “Khi đậy nắp quan tàì, mới có thể luận định về một con ngưới” (Cái quan định luận). Nhân cách của ông tỏa sáng, nên sự ra đi của ông đã tạo ra bao xúc động lòng người, nhất là trong lòng kẻ sĩ. Vua Tự Đức từng có câu thơ tỏ lòng ngưỡng mộ đối với các danh sĩ đương thời:


“Văn như Siêu, Quát, vô tiền Hán


Thi đáo Tùng, Tuy, thất thịnh Đường”.


Một trong bốn đại danh sĩ đó chính là Tuy Lý Vương, tác giả bài văn bia “Thần Đạo Bi”, khắc trên bia mộ của Trương Đăng Quế, tại làng Mỹ Khê, Quảng Ngãi, trong đó có câu:


“Cầu chi thiên cổ, duyệt sở hãn kiến”


Nghĩa là: “Tìm cả nghìn xưa, cũng không thấy có người được như vậy”.


Phải chăng đó chính là sự đánh giá đúng mực về cuộc đời kỳ lạ của Trương Đăng Quế?


ĐẾN SỰ NGHIỆP LẪY LỪNG


Trương Đăng Quế đã chứng tỏ là một người tài kiêm văn võ trong công cuộc trấn Tây, bình Nam, định Bắc, vươn ra biển Đông mà sự nghiệp lẫy lừng của ông còn tác động cho đến ngày nay, nếu không nói là còn ảnh hưởng lâu dài về sau này. Ông cũng là người có sách lược chống Pháp có thể gọi là thực tế hơn so với những cùng thời với ông.


Tuy nhiên, trước khi nói đến sự nghiệp của một con người, nhất là khi người đó là một con người đa diện, đã từng giữ những vai trò quan trọng trong một giai đoạn lịch sử của đất nước, chắc chắn ta phải quan tâm đến quan điểm chính trị trước tiên. Bởi lẽ quan điểm chính trị của một con người đóng vai trò quan trọng như Trương Đăng Quế ảnh hưởng quyết định đến sự nghiệp của người ấy và quyết định sự nghiệp của người ấy thường tác động đến cả xã hội thời bấy giờ, nếu chưa muốn nói là tác động đến cả chiều hướng phát triển của đất nước và lịch sử.


QUAN ĐIỂM CHÍNH TRỊ CỦA TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ.


Xuyên suốt cuộc đời làm quan của Trương Đăng Quế, trải qua ba đời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, dấu ấn về ông để lại là vô cùng rõ nét. Dấu ấn này sở dĩ có được, mặc dù ông mang trên mình một lý lịch không thích hợp với triều đình mới, là nhờ ông đã có một quan điểm và lập trường chính trị dứt khoát ngay từ buổi đầu bước chân vào chốn quan trường.


Trước sau, suốt đời ông một lòng một dạ phụng sự triều đình nhà Nguyễn: Đây là điểm mấu chốt và cực kỳ quan trọng đối với sự nghiệp chính trị của ông. Là con của một viên quan tri phủ triều Tây Sơn, cháu của một tướng lĩnh Tây Sơn, đã tử tiết vì triều đình cũ, song tư tưởng chính trị của ông rất dứt khoát. Ông không hề tỏ ra tiếc nuối hay mong muốn phục hồi triều đại cũ, và nói theo ngôn ngữ thời thượng, ông là người đã cương quyết mà ngày nay thuật ngữ chính trị gọi là “khép lại quá khứ, hướng tới tương lai”. Sử liệu và cả thơ văn của ông để lại đều không có một bằng chứng nào cho thấy ông từng mơ màng về cái chế độ mà cha và chú ông đã hết lòng phụng sự. Ông luôn chứng tỏ sự dứt khoát của một con người lúc nào cũng một lòng một dạ với triều đình mới, và đặc biệt ông luôn nặng lòng với những người dân thấp cổ bé miệng, ngay cả những người thuộc dân tộc ít người. Về phương diện này, ông có thể đại biểu cho tầng lớp Nho học, đã thấm nhuần tư tưởng Mạnh Tử: “dân vi quý, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. Dòng tư tưởng này cho rằng đất nước là của nhân dân, chứ không phải của riêng triều đại nào, do đó phục vụ triều đại nào không quan trọng bằng việc phục vụ ai và phục vụ thế nào. Mặt khác,ông cũng đã ý thức rất rõ về sự kết thúc vĩnh viễn vai trò lịch sử của nhà Tây Sơn, một triều đại từng có những khoảnh khắc rực rỡ hào quang với những chiến công lừng lẫy, song lại dung chứa nhiều nhược điểm nội tại hết sức trầm trọng. Ông muốn làm một kẻ sĩ thức thời, như đã từng thấm nhuần tư tưởng Nho gia: “Thức thời thế dĩ vi tuấn kiệt”.


Chính nhờ sự dứt khoát tư tưởng như thế, cộng với một năng lực đặc biệt không chỉ về phương diện văn chương, mà trong quá trình làm quan của ông, từ một chức quan nhỏ (Hành tẩu bộ Lễ), chỉ trong vòng hơn mười năm, ông đã tạo được sự chú ý của vua Minh Mệnh, để được để bạt vào Nội các, rồi trở thành Thượng thư bộ Binh. Ở cương vị mới này, ông đã có điều kiện để đóng góp về các mặt chính trị, quân sự, kinh tế và văn hoá. Thành tích xuất sắc trên cả hai phương diện văn trị và võ công, đã biến ông thành cánh tay đắc lực của hoàng đế Minh Mệnh, và là chỗ dựa của cả hai triều vua kế tục Minh Mệnh là Thiệu Trị và Tự Đức.


Công cuộc trấn Tây, bình Nam, định Bắc,vươn ra biển Đông của Trương Đăng Quế cụ thể như sau:


TRẤN TÂY: DẸP LOẠN CỨU DÂN, VẠCH SÁCH LƯỢC TRẤN TÂY THÀNH.


Về chính trị, triều đại Minh Mệnh được coi là thời cực thịnh của nhà Nguyễn, thế đứng chính trị đã trở nên vững chắc và biên giới quốc gia mở rộng hết cõi Đông Dương. Tuy nhiên, thời gian trị vì của Minh Mệnh cũng ghi dấu nhiều biến loạn nhất. Trong các biến loạn dưới thời Minh Mệnh, thì những biến cố nghiêm trọng đều xảy ra đúng vào giai đoạn Trương Đăng Quế được cử làm Thượng thư bộ Binh, sung Cơ mật viện đại thần, tức là đang chấp chưởng binh quyền để đối phó với thù trong giặc ngoài và cũng là nhân vật chính chịu trách nhiệm trước vua và triều đình về sự an nguy của đất nước.


Năm1832, Trương Đăng Quế được gia phong Thượng Thư Bộ Binh, kiêm lãnh ấn Đô Sát viện, thì cũng chính năm đó, Lê Văn Khôi nổi lên chiếm thành Phiên An (tức Gia Định thành), giết Bố chính Bạch Xuân Nguyên, và đem quân đánh chiếm các vùng phụ cận, quyết tâm lập riêng một cõi biên thùy, chống lại triều đình nhà Nguyễn. Lê Văn Khôi đã tranh thủ được sự ủng hộ của các thừa sai Thiên Chuá giáo và một số luợng lớn giáo dân, nên thanh thế mỗi ngày một trở nên hùng mạnh. Trong khi đó, ở phía Tây Thanh Hoá, dư đảng của Lê Duy Lương, mà sau này là Lê Duy Hiển vẫn ngấm ngầm liên kết với các châu huyện miền núi âm mưu nổi dậy. Mặt khác, quân Xiêm nắm được tình hình nội bộ của nước ta, biết chắc triều đình Huế đang bối rối trong việc đối phó với Lê Văn Khôi, đã đem quân đánh chiếm Nam Vang, thách thức uy quyền Đại Việt. Vua Chân Lạp phải chạy sang cầu cứu nước ta.


Là Thượng thư bộ Binh, tức bộ trưởng Quốc phòng ngày nay, Trương Đăng Quế đã chứng tỏ khả năng vận trù quyết sách, ngồi trong tướng phủ, điều binh ngoài ngàn dặm để ứng phó với các biến loạn, vãn hồi kỷ cương trật tự cho đất nước. Dưới sự cắt đặt của triều đình, do Thượng thư bộ Binh cầm trịch, các tướng lãnh Nguyễn Xuân, Phạm Hữu Tâm tập trung đối phó với Lê Văn Khôi. Trương Minh Giảng, Lê Đại Cương được giao giải quyết vấn đề Chân Lạp. Cả hai tập đoàn quân này đã hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc. Quân Xiêm bị đuổi chạy khỏi đất Chân Lạp, vua Chân Lạp tiếp tục thần phục nước ta. Đến năm 1835, sau ba năm làm chủ thành Phiên An, loạn đảng Lê Văn Khôi đã hoàn toàn bị dẹp tan.


Từ sau việc quân Xiêm thừa cơ hội triều đình Huế bận đối phó với Lê Văn Khôi, tập kích Nam Vang với hy vọng tranh giành quyền cai trị của Đại Việt, Trương Đăng Quế đã vạch ra sách lược bình Tây, còn gọi là thế trận Trấn tây thành.


Ông ra lệnh thành lập ba căn cứ quân sự mà thành phần chủ chốt là biền binh Việt ở Nam Vang, Battambang và Tây Ninh, để phòng thủ và cứu ứng lẫn nhau. Các vị trí khác đi sâu vào lãnh thổ Chân Lạp như Tonlesap, Banon, Lovea, Kamport, Poipet thì ông cho quân Việt Nam kết hợp với quân đội Chân Lạp để thành lập các đơn vị trú phòng. Đồng thời, ông ra lệnh tăng cường vũ trang cho các đơn vị quân đội Chân Lạp. Ông chủ trương xây dựng Hà Tiên, Châu Đốc và An Giang thành khu hậu cần, với việc cắt đặt Tổng đốc An Giang, Hà Tiên chịu trách nhiệm chính trong việc tiếp ứng cho quân Việt đóng ở Chân Lạp. Mặt khác, ông tìm cách thanh lọc hàng ngũ vua quan Chân Lạp, người nào trung thành với Đại Việt khi quân Xiêm tấn chiếm thì được trọng thưởng. Những kẻ thân Xiêm thì bị sa thải và trừng phạt. Yêu cầu vua Chân Lạp tuyệt giao với Xiêm. Đích thân Trương Đăng Quế đã lặn lội khắp Nam Kỳ lục tỉnh và Chân Lạp để nắm vững tình hình. Phan Thanh Giản từng tỏ ra khâm phục về những hiểu biết sắc sảo của Trương Đăng Quế đối với vùng đất Chân Lạp và thủy Chân Lạp tức Nam Kỳ lục tỉnh:


“Vả lại, tiên sinh từng trải, nắm vững vùng đất lục tỉnh Nam Kỳ như lòng bàn tay, nhìn xa trông rộng, xác định những nơi hiểm yếu, tâu xin cho xây dựng thành trì ở Tây Ninh. là điều mà tôi tuy là người gốc Nam Bộ, thật tình cũng chưa từng nghĩ đến”. (Phan Thanh Giản -Tựa Trương Quảng Khê Tiên sinh tập, tr.18).


Khi kinh lý Nam Vang, ông đã lưu lại bài thơ viết từ lầu Trấn Tây, với hai câu kết nói lên ý chí hào hùng:


Đăng lâm trực dục cùng du mục


Vạn lý giang sơn nhất vọng thu


Dịch nghiã:


Lên cao đưa mắt nhìn toàn cõi


Vạn lý thu về nước Việt đây.


BÌNH NAM: VÀO NAM KINH LƯỢC, BÌNH ỔN DÂN SINH Ở LỤC TỈNH NAM KỲ


Vùng thủy Chân Lạp, từ khi trở thành lục tỉnh Nam Kỳ, thuộc về giang sơn Đại Việt, việc cai trị vẫn chưa đi vào nề nếp. Ruộng đất vẫn chưa có địa bạ, do đó tình trạng tự do lấn chiếm, khai thác trở nên bừa bãi, cường hào ác bá nổi lên khắp nơi. Ý thức được nguy cơ dẫn tới hỗn loạn, năm 1836, vua Minh Mệnh cử Binh bộ Thượng thư Trương Đăng Quế và Lại bộ Thượng thư Nguyễn Kim Bảng làm Kinh lược sứ sáu tỉnh Nam Kỳ.Tuy nhiên, Nguyễn Kim Bảng khi vào đến Nam Kỳ đã lâm trọng bệnh và qua đời bốn tháng sau đó, Trấn tây đại tướng quânTrương Minh Giảng được đề cử thay thế. Nhiệm vụ trọng tâm của đoàn Kinh lược là hoàn thành việc đo đạc để thành lập sổ địa bạ và đinh bạ cho vùng lục tỉnh.


Đây là một công tác vô cùng khó khăn, bởi lẽ ruộng đất lục tỉnh Nam Kỳ hết sức rộng lớn và dân tình thì phức tạp mọi mặt. Chế độ tự do khai hoang đã sản sinh một tầng lớp cường hào, theo kiểu mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé, tha hồ lấn chiếm ruộng đất và ức hiếp dân đen. Chúng cấu kết với một số quan lại kém phẩm chất để tha hồ chiếm đoạt vơ vét. Như vậy việc Kinh lược không chỉ đơn thuần giải quyết nhiệm vụ vua giao là hoàn thành sổ địa bạ và sổ đinh cho vùng đất rộng lớn này, mà còn phải kết hợp giải quyết nhiều nhiệm vụ chính trị phức tạp.


Về mặt kỹ thuật, việc đo đạc ruộng đất cần đến toán pháp. Thế nhưng cái học từ chương đã sản sinh một tầng lớp thư lại chỉ sính văn chương. Để có thể hoàn thành nhiệm vụ, đoàn Kinh lược của Trương Đăng Quế đã phải mở các lớp tập huấn về toán pháp và kỹ thuật đo đạc.


Một khối lượng công việc khổng lồ như thế, với những phương tiện di chuyển thô sơ chỉ có đi bộ, đi ngựa hoặc thuyền, vậy mà chỉ mất có 5 tháng, đoàn Kinh lược đã hoàn thành nhiệm vụ, đo đạc và thiết kế xong địa bạ và đinh bạ cho 6 tỉnh Nam Kỳ. Nếu liên hệ với việc cấp sổ đỏ cho người dân ngày nay đã kéo dài từ thập niên này qua thập niên khác, chúng ta không thể nào không thán phục cái kỳ tích về địa chính vô tiền khoáng hậu của đoàn Kinh lược Trương Đăng Quế, thực hiện tại Nam Kỳ lục tỉnh từ tháng 2 đến tháng 7 năm 1836. Chính người Pháp sau này, khi cai trị Nam Kỳ cũng tỏ ra kinh ngạc về mức độ chính xác của sổ địa bạ được lập bởi đoàn Kinh lược Trương Đăng Quế, đã chính thức đưa vào sử dụng.


Nhờ sự thành công của chuyến Kinh lược thần tốc này, triều đình đã giải quyết được một số vấn đề gốc rễ:


- Ruộng đất đã có cương vực, địa giới rõ ràng, kẻ mạnh không thể bá chiếm, kẻ yếu được chính quyền bảo hộ quyền tư hữu. Thuế má phân minh, giải quyết được việc bao chiếm ruộng đất rồi trốn thuế. Nhờ vậy tuy mức thuế đã được khoan giảm, mà tổng thu của triều đình lại tăng đến ba lần so với trước đây.


- Loại trừ được những quan lại tham ô biến chất, câu kết với bọn cường hào để bá chiếm những đất đai mà người dân đã bỏ công khai hoang. Người nông dân nghèo thấp cổ bé miệng đã được nhà nước và pháp luật bảo vệ quyền tư hữu, phấn khởi dốc sức khai hoang, khiến cho diện tích trồng trọt mỗi ngày thêm gia tăng với tốc độ nhanh chóng.


- Phổ biến chính sách khuyến nông, đặt ra luật lệ thưởng phạt phân minh đối với quan lại địa phương theo mức tăng giảm ruộng đất canh tác. Nhờ đó diện tích sản xuất tăng nhanh và bền vững, giải quyết được vấn đề lương thực cho cả nước.


Một đóng góp quan trọng nữa là nhờ thành công của đoàn Kinh lược Trương Đăng Quế mà lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta đã hoàn thành được bản địa đồ chi tiết rõ ràng nhất, đó là bản “ĐẠI NAM THỐNG NHẤT TOÀN ĐỒ”, một bản địa đồ có ghi rõ hải phận bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.


ĐỊNH BẮC, RA BẮC ĐIỀU BINH,
 BÌNH ĐỊNH TÂY THANH HOÁ.


Dưới sự cắt đặt của Thượng thư bộ Binh, Cơ mật viện Đại thần Trương Đăng Quế, đến cuối năm 1835, các đạo quân phía nam đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bình tây và dẹp yên loạn đảng Lê Văn Khôi.


Duy có mối hiểm họa Lê Duy Hiển ở miền Tây Thanh Hoá vẫn còn là nỗi lo lớn của triều đình. Cuộc khởi loạn phát triển rất mạnh, triều đình đã điều động quan quân tám tỉnh: Thanh Hoá, Hưng Hoá, Ninh Bình, Hà Nam, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, cùng các danh tướng Tạ Quang Cự, Phạm văn Điển, Lê Văn Đức, Hà Duy Phiên mà vẫn không cải thiện được tình hình. Vua Minh Mệnh hết sức lo lắng, mặc dù biết rõ Trương Đăng Quế vừa Kinh lược sáu tỉnh Nam Kỳ mới về, vẫn còn mỏi mệt, vẫn quyết định điều ông làm Kinh lược sứ, với hy vọng là việc trực tiếp điều hành sách lược của ông, sẽ giúp quân triều đình giành lại thế chủ động. Ngày hai mươi hai tháng chạp năm 1836, chỉ còn một tuần lễ nữa là Tết Nguyên Đán, Trương Đăng Quế, với tư cách Thượng thư bộ Binh, Cơ mật viện Đại thần giữ quyền Kinh lược sứ, lại đích thân ra Thanh Hoá, trực tiếp đối đầu cùng quân giặc.


Trương Đăng Quế, một mặt điều động các cánh quân thít chặt vòng vây, một mặt tâu xin với vua mở ra chính sách chiêu an để lôi kéo những người miễn cuỡng hoặc bị thúc ép theo giặc. Khi thấy hàng ngũ giặc đã nao núng vì có nhiều người bỏ trốn, Trương Đăng Quế lệnh cho các cánh quân của Đề đốc Tôn Thất Bật, Lãnh binh Thanh Hoá Nguyễn Văn Kỳ, Phó Kinh lược sứ Nguyễn Văn Giai và Kinh lược Tạ Quang Cự hợp đồng tiến đánh. Giặc tan rã phải rút vào vùng rừng núi hiểm trở.


Trương Đăng Quế lại tâu vua, kết hợp chính sách chiêu an cùng chính sách bình định: quân tướng giặc ra hàng được tha tội, ai hướng dẫn quan quân lùng bắt giặc, sẽ được trọng thưởng, thành lập xã thôn ở vùng thượng du, cử ra lý trưởng, làm sổ đinh sổ điền, dùng người thượng du để cai trị người thượng du, tạo ra thế sâu rễ bền gốc. Vua Minh Mệnh y tấu và ban khen sự nhìn xa trông rộng của Trương Đăng Quế.


Thế là trong vòng ba tháng,Trương Đăng Quế vừa đánh tan quân giặc, vừa thiết lập nền móng cai trị ở một vùng thượng du rộng lớn ở phía tây Thanh Hoá.


VƯƠN RA BIỂN ĐÔNG, XÁC LẬP CHỦ QUYỀN
ĐẠI NAM Ở BIỂN ĐÔNG


Một đóng góp quan trọng nữa là nhờ thành công của đoàn Kinh lược Trương Đăng Quế mà lần đầu tiên trong lịch sử, nước ta đã hoàn thành được bản địa đồ chi tiết rõ ràng nhất, đó là bản “ĐẠI NAM THỐNG NHẤT TOÀN ĐỒ”, một bản địa đồ có ghi rõ hải phận bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và Côn Đảo. Thời bấy giờ Hoàng Sa, Trường Sa là hai quần đảo có rất nhiều đảo nhỏ, chưa có người ở. Còn Côn Đảo thì rất hoang vu, mặc dù đất đai phong phú. Trương Đăng Quế đã công cán bằng thuyền ra tận các đảo, và nhận thức được tầm quan trọng về vị trí xung yếu của các đảo này trên biển Đông, ông tâu xin vua Minh Mệnh, hàng năm đưa quân ra đồn trú tuần tra vùng biển Vạn Lý Trường Sa (tức Trường Sa, Hoàng Sa ngày nay), và trấn giữ Côn Đảo. Nhờ vị trí đẹp, đất đai màu mỡ, Côn Đảo trở thành hòn đảo thu hút di dân và nhanh chóng trở nên trù phú.


Ngày nay, Côn Đảo đã trở thành đảo Ngọc, còn khi tranh chấp về chủ quyền của các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa, Việt Nam đã đưa ra các chứng tích về việc quân đội triều Nguyễn từng đồn trú trên các hòn đảo lớn của hai quần đảo này. Đây là những bằng chứng hết sức thuyết phục, không thể tranh cãi, bởi lẽ sự đồn trú của quân đội Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã trở thành một quá trình liên tục từ thời Minh Mệnh đến thời thuộc Pháp và Mỹ- ngụy.


SÁCH LƯỢC CHỐNG PHÁP THỰC TẾ, TRI KỶ TRI BỈ.


Khi liên quân Pháp-Tây Ban Nha bắt đầu cuộc tấn công trực diện vào Việt Nam, bằng cuộc nổ súng vào thành phố Đà Nẵng năm 1858, thì Trương Đăng Quế đang giữ vai trò gì ở triều đình? Từ năm 1850, ông đã nhiều lần dâng sớ xin nghỉ hưu, song vua Tự Đức cùng đình thần không chấp nhận. Ông vẫn giữ vai trò Thượng thư bộ Binh, Cơ mật viện đại thần đến năm 1855.


Là người phụ trách việc quân, ông thừa biết dã tâm của thực dân Pháp, và đã tiên lượng trước sau gì triều đình cũng phải đối phó với sự xâm lược trực tiếp của bọn Tây dương. Sách lược mà Trương Đăng Quế đưa ra để đối phó với giặc Pháp, ngay từ thời Thiệu Trị, đã rất rõ nét, đó là sách lược vừa đánh vừa đàm. Đây là chiến lược được xây dựng trên cơ sở tri kỷ tri bỉ của Binh pháp Tôn Tử. Ai cũng có thể thấy rõ, xét về tương quan lực lượng, triều đình Huế không phải là địch thủ của thực dân Pháp với trang bị và vũ khí hiện đại. Trong tình hình như thế, khi quân Pháp chưa lộ rõ dã tâm xâm chiếm nước ta, triều đình đã có một đối sách mềm dẻo, đó là nhượng bộ những gì chúng đòi hỏi mà không phương hại đến quốc thể. Chẳng hạn, năm Thiệu Trị thứ 7 (1847), thuyền buôn Pháp đến xin thông thương và truyền đạo Gia Tô. Khi vua hỏi ý triều thần, Trương Đăng Quế và Phan Thanh Giản đồng tâu xin cho phép thông thương, nhưng phải tăng cường phòng bị các nơi hiểm yếu, nhất là ở ven biển, để đề phòng biến cố. Với chiến lược này, triều đình Huế đã có một thời gian yên ổn để lo việc phòng bị. Nếu biết tranh thủ thời cơ, tìm cách canh tân đất nước, tiếp cận với khoa học kỹ thuật phương tây, thì khả năng tránh được sự thôn tính của thực dân Pháp, giống như Nhật Bản đã làm, là điều hoàn toàn có thể.


Khi liên quân Pháp -Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng 1858, và sau đó xâm chiếm ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ, thì Trương Đăng Quế không còn là Thượng thư bộ Binh. Vai trò của ông ở triều đình lúc đó chỉ là vai trò của một lão thần được vua Tự Đức ưu ái giữ lại làm tư vấn. Đối với việc quân Pháp liên kết với quân Chân Lạp để nổi dậy chống Việt Nam năm 1860, ông đề ra sách lược cử Nguyễn Tri Phương tấn công để dẹp yên Chân Lạp, sau đó mới dồn sức đánh Pháp. Vua Tự Đức nghe theo. Tuy nhiên, Nguyễn Tri Phương, với tư cách Tổng thống quân vụ đại thần, đã chần chừ không thực hiện kế hoạch. Sau khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ rơi vào tay quân Pháp, và hoà ước Nhâm Tuất được ký kết, triều đình quyết định thuyên chuyển Trương Định về Phú Yên. Nhân dân ba tỉnh Biên Hoà, Gia Định, Định Tường nổi lên chống Pháp, tôn Trương Định làm Bình Tây Đại Nguyên Soái, mở đầu phong trào chống Pháp ở Nam Bộ. Phó Đô Đốc Hải quân Pháp Bonard đã có một bức thư gửi bộ Ngoại giao Pháp, trong đó hằn học kết án Trương Đăng Quế cầm đầu phe chủ chiến ở triều đình, ngấm ngầm ám trợ Trương Định, cung cấp khí giới quân nhu và cả ấn tín để Bình Tây Đại nguyên soái đánh Pháp. Điều này là có thật và dễ hiểu khi cả hai người, Trương Đăng Quế và Trương Định, đều là những người cùng một quê hương xứ Quảng, hai nhà chỉ cách nhau có một cánh đồng và cùng một ý chí là chống Pháp cứu nước. Chỉ tiếc là cuộc kháng chiến của Trương Định quá ngắn ngủi vì bị phản bội, và ông phải tử tiết năm 1864. Năm tháng sau Trương Đăng Quế cũng vĩnh biệt cõi đời.


 Có lẽ, nỗi đau cuối đời lớn nhất của ông là phải rời bỏ cuộc chơi, trong khi tình hình đất nước đang dần dần đi vào ngõ cụt. Ông đã đến với cuộc đời này, đã cống hiến trọn vẹn tâm lực của mình để phục vụ đất nước và xây dựng triều đình nhà Nguyễn. Khi ông còn đang chấp chưởng binh quyền, thì mặc dù đã hiện diện nguy cơ xâm lược đến từ giặc Pháp, song đất nước vẫn bình yên, uy quyền quốc gia vẫn được tôn trọng, thậm chí bờ cõi còn được mở rộng khắp Đông Dương. Vậy mà ngày ông về hưu, thì một phần lãnh thổ quốc gia đã bị xâm chiếm thô bạo, trong khi triều đình hoàn toàn bất lực. Với tầm nhìn sắc sảo của một nhà chính trị và quân sự lỗi lạc, ông thừa biết điều gì sẽ xảy ra trong một tương lai rất gần. Những người bạn chiến đấu của ông như Trương Định, Nguyễn Tri Phương, Phan Thanh Giản, mỗi người một kiểu, đã, đang và sẽ phải dùng cái chết của mình để đền nợ nước. Ông còn có thể làm gì được cho đất nước và nhân dân của mình trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng, khi mình đã là một người chuẩn bị đi về thế giới bên kia!


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »