tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286143
Tiểu thuyết
21.10.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

10. NGƯỜI THÔN NỮ DƯỚI BÓNG CÂY ĐÀO.


 


Dượng rất hân hạnh có chàng, người cháu bên họ vợ làm giáo viên cấp hai. Và ông vui sướng, vinh dự nhắc chuyện về các anh chàng, những thằng trợ Diễn, thằng thừa Xung với tất cả tự hào. Dưới con mắt ông, chàng phải đồng thời là cháu rể. Cô cháu gái mười lăm tuổi của ông chưa biết gì về vợ chồng. Nhưng chàng đã hai mươi bốn thì có thể gọi là quá lứa thời chiến tranh, ai đẹp mãi bao giờ.


Lại như Nhụy, như Liên, hình ảnh người con gái mười lăm, càng ngày càng lún sâu vào tâm khảm chàng. Và như một phản ứng tương tác, nàng cũng bỗng nhiên vụt lớn lên, tóc dài thêm, da trắng thêm, ngực căng phồng thêm niềm ước vọng. Hai bên tình trong như đã mặt ngoài còn e, đôi khi đi chợ về nhà, lân la điếu thuốc tán đường [1], mặc dù cũng có những lời bàn ra tán vào, nào chàng con nhà địa chủ, nào chênh lệch tuổi tác… nhưng cuối cùng họ chấp nhận nhau.


Ở đời cái gì cũng có số có Karma, với chàng Karma và số, như nhau, đều chỉ cảm thông, không thể nghĩ bàn, chàng lẩm bẩm. Hồi nhỏ mỗi lần cô Mười ba- em gái út của chàng về thăm nhà thờ rồi ra đi, chàng thường buồn miệng hát:


Chiều chiều mượn ngựa ông Đô


         Mượn dù chú Xã đưa cô về Nguồn [2]


Vậy mà rồi ra, mình cũng lại lấy vợ trên Nguồn. Và ông mai, chẳng ai khác hơn là chú Điển Biện, ông Nhưng, tức ông thầy Tuồng (đạo diễn bây giờ) cũng ở nhà chàng. Thời ông nội còn sống, ông hào phóng vui chơi bạn bè, với cả một gánh hát bội trong nhà với đầy đủ đào kép, ông Điển làm thầy tuồng, gọi là ông Nhưng. Ông Điển nay đã già, nhưng có bà con với dượng Tám, vẫn ăn nói lưu loát mà còn kiêm nghề bán thuốc rong cao đơn hoàn tán tự chế. Máu nghệ sĩ còn rơi rớt từ thuở hoa niên xui ông làm nghề này để thỉnh thoảng lại chống gậy lang bạt kỳ hồ, đi khắp nơi.


   Nhất bát thiên gia phạn,


    Cô thân vạn lý du [3]


Bắt chước cái hình ảnh một thiền sư du tăng, một cái bình bát, xin cơm ăn của ngàn nhà. Và mỗi mình cô thân lang thang ngoài vạn dặm.


Ngàn năm một thuở, trai hai mươi bốn, gái mười lăm. Dượng Tám là chủ bên gái, thầy tuồng Điển Biện trong vai ông mối, quả là việc nhơn duyên do trời định đoạt. Có lần mải ham vui duyên mới, dù chưa nắm tay nhau, luôn một tháng chàng không về nhà. Rồi tiếp đến, chàng bị sốt rét, mẹ phải sai anh Bảy chống gậy lên thăm.


Ông thừa Xung, người đọc hết mấy xe sách của cổ nhân Tây cũng như Đông, suốt mấy năm bị đau thấp khớp phải nằm một chỗ đó, giờ chỉ còn mỗi cái quần soọc, nhưng dượng Tám lại được thêm một ông cháu thiên kinh vạn quyển nữa, để củng cố đức Chí tôn của mình, bằng một cuộc nói chuyện suốt hai ngày đêm không mỏi.


Anh Bảy về: theo dượng Tám và ông mai, nhà chàng phải làm đám hỏi vợ ngay cho thằng Hạm. Coi như có cái hàng rào thưa. Đương nhiên là một cách báo tin với các nơi ngấp nghé rằng, đóa hoa đã có chủ để họ không dòm ngó nữa.


Chiều hôm trước, mẹ, anh Ba và bác tộc trưởng Hương bộ Cán cùng xuống ghe ở bến Đình- Thi Phổ. Suốt đêm trong khoang, nghe sóng vỗ mạn thuyền mà nói chuyện tới sáng, cập bến Hóc Đồng thôn Vạn Xuân, Hành Thiện giữa bốn bề rừng núi. Hợp với ông mai đang chờ sẵn ở đó, tất cả làm thành họ nhà trai đàng hoàng thả bộ về nhà cô gái.


Sính lễ chỉ có hai chai rượu Quảng Tường Nguyên[4], cặp trà, bốn tiềm mạch nha đúng chất lượng Cửu phẩm Trần Kỳ do chú Hẳn, người bà con gánh trong đôi xiểng.


Theo dượng Tám[5], cũng chính đức Chí tôn điều hòa mới có cuộc nhân duyên này. Không thế, ai tác hợp cho cả hai đứa cháu, một bên gái kêu ông bằng bác ruột, bên trai gọi vợ ông bằng cô? Mẹ phải ráng hết sức mới chạy được một chỉ vàng, đánh thành hai chiếc nhẫn nhẹ tênh mà lần đầu tiên cho vào ngón tay chàng thấy ngứa ngáy vô cùng.


Từ đó, chàng kêu dượng bằng bác theo phía bà con gần hơn bên vợ và dọn mùng mền chiếu gối sang nhà vợ chưa cưới, ăn cơm ở đó luôn. Người con gái ban đầu còn e thẹn, nhưng lâu ngày lửa gần rơm cũng bén hơi quen dần, nàng đã mạnh dạn mỗi khi chàng tìm cách đón đường ở đầu ngõ để kiếm chuyện gặp gỡ.


Áo quần chàng thay ra, mẹ vợ lấy đi ngâm, nàng nhân lúc vắng vẻ mang đi giặt. Thầy trò chàng hay cùng ca hát, lúa tháng Ba vàng trên cánh đồng Vạn Xuân.


Nhưng tất cả đều không phải êm đềm như vậy. Cuối học kỳ bốn tháng đầu năm, Cước đi họp trên Tỉnh về thông báo là chàng theo chế độ lương phù động, nghĩa là trường nghỉ mùa hai tháng Năm và Sáu, cho học trò ở nhà làm ruộng giúp cha mẹ; thầy giáo không dạy học thì cũng không có lương.


Quyết định ngang xương không báo trước này của cấp trên dồn chàng một tình thế cực kỳ khủng hoảng, cả vật chất lẫn tinh thần. Không có tiền ăn, đời sống bấp bênh, chàng có cảm giác rằng đời mình là một chuỗi dài của những trục trặc, mỗi lần có một dự ước gì đấy thì lại có ngay một trở ngại.


Nắng tháng năm đổ lửa xuống ruộng đồng. Chiều qua, chàng ra giếng rỉ tai nàng là chàng sẽ về Thi Phổ có khi hàng tháng mới lên được. Họ hẹn gặp nhau ở bờ mía trước nhà, nàng gật đầu. Tuy ở cùng nhà, gặp gỡ nhau hàng ngày, nhưng nàng có hai ông anh chăm chỉ cấy cày, chàng là thứ em rể sách vở, luôn ở nhà trên ít có dịp chạm da thịt vào nhau. Trên bờ cỏ ướt đẫm sương đêm, họ ngồi xuống bên nhau. Con trăng sáng rưng rưng kiều diễm lên khỏi đỉnh núi Cánh Dơi. Cánh đồng rộng vừa gặt, đã được tranh thủ cày xới và tỉa đậu, bao nhiêu cây non lên lún phún, thơ thới thánh thiện như bất cứ cõi đời niên thiếu nào. Hương tóc nàng phả vào gió khuya. Chàng vừa cầm lấy bàn tay, nàng đã run rẩy, hổn hển thở và chỉ cần một cái quàng vai kéo nhẹ, nàng đã nhũn người tin cậy ngả vào lồng ngực nóng hổi như đang sốt hâm hấp của chàng. Họ như mê đi trong giây phút choáng váng tinh thần đó. Có con chim đêm nào kêu lên giữa cái tịch tĩnh của núi rừng.


Sau phút ngất ngây, chàng cho nàng biết là sắp nghỉ mùa để học trò ở nhà giúp cha mẹ. Giấu đi cái chi tiết phù động, chàng nói sẽ về thăm mẹ và ở dưới đó hai tháng để lo công việc.


Mười sáu tuổi, nàng đâu biết chuyện đời lắm nỗi, chỉ ứa lệ bùi ngùi là sẽ không được hàng ngày trông thấy nhau. Tuy vậy, để nàng vui, chàng hứa vài ba tuần sẽ một lần lên thăm nàng. Vả vài tháng đâu có lâu la gì!


Chàng trấn an. Họ lại hôn nhau, vừa e thẹn vừa mê man. Kìa! Nàng trăng đang nhìn thấy họ, mắc cỡ, quấn vội một mảnh khăn mây che mặt, vừa tò mò hé mắt nhìn trộm đôi trai gái.


Chàng về quê, nắng hè thiêu đốt cây cỏ trong vườn, tóc mẹ bạc thêm nhiều. Chàng lại phải đi làm lao công, dọn ruộng phụ, cả cho các gia đình trước từng là đầy tớ của nhà chàng. Họ cũng thấy tội nghiệp thương hại chàng là kẻ con nhà lỡ bước sa cơ mà cho chàng làm, để có miếng cơm rau. Với đôi tay trói gà không chặt và cái lưng dài tốn vải, chàng gánh phân tát nước, đêm về nằm nghe rã rời từng thớ thịt. Những lời lẽ văn hoa lãng mạn trong thơ văn ca ngợi sản xuất mà chàng giảng mê man cho học trò, nào luống cày thơm mùi đất mới, nào:


Hỡi cô tát nước bên đàng,


Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi


Các hình ảnh đó đã bay đi đâu hết. Cái lao động vinh quang của chính trị chỉ còn là những nhọc nhằn như chừng tới tắt hơi, mùi mồ hôi khai ngầm, để đổi lấy những bữa ăn độn, độc rau muống luộc chấm mắm nêm.


Dĩ nhiên chàng không phải là một lực điền, ăn chẳng thua ai nhưng sức làm chưa bằng nửa, lòng thương hại của những người nông dân có hạn, và rồi công việc đồng áng cũng hết, nghĩa là cũng không ai mướn nữa.


Trong cơn bí quẫn, càng khủng hoảng hơn là chàng đang thiết tha với việc cưới vợ. Cuối cùng, cái ông giáo nửa Tây, nửa ta, nửa kháng chiến, nửa lãng mạn này nghĩ ra một diệu kế. Chàng gạn nước tro, giặt sạch bộ đồ vải xita nghèo nàn, sửa đôi dép râu, thắng bộ cánh chẳng sang trọng gì hơn ai đó, thưa mẹ là mình đi công tác!


Cuốc bộ hơn mười dặm đất, đến làng Bồ Đề, xã Đức Nhuận, Mộ Đức, quê của đức Tả quân Lê Văn Duyệt, chàng tìm tới một thôn xóm nhỏ trên bãi bồi ven sông Vệ, nơi lúa bắp lên xanh mịt và tiếng kẽo kẹt của bờ xe nước đang êm đềm hát ru với gió nồm tháng Năm thổi ngọt. Trời đã về chiều, dân quê đã tan buổi cày, chàng hỏi nhà người học trò cũ, hơn một năm trước là lớp phó ở trường An Phong, tên Cống, Đặng Văn Cống. Nhưng cái tên văn hoa trong giấy tờ đó không ai biết. Chàng phải tả thật kỹ: Nó răng hô, da đen, người vạm vỡ, hay nói cà lăm, nghe nói mới lấy vợ - thì bà quán bên đường mới dừng tay đếm kẹo cho cậu bé con tới mua, mà ồ lên một tiếng:


Vậy thì thằng Chó Mực rồi. Mẹ nó ba lần có sinh mà không có dưỡng, tới nó phải đặt cái tên thật xấu xí cho dễ nuôi. Ông theo bờ mương này mà vô cái lùm chuối kia, có cây rơm thật to đó.


Cống tiếp ông thầy học chỉ lớn hơn nó vài tuổi thật niềm nở, chạy tới ôm vai bá cổ, cười nói oang oang:


Em tính hỏi đường vào nhà thăm anh[6].


Nó chỉ người con gái quê còn trẻ, đang lui hui trong bếp lửa rơm, tỏa khói mù mịt, ngượng nghịu:


Vợ em đó.


Chàng nói dóc tỉnh bơ:


Thấy là biết rồi. Vậy tao mới ra đây thăm đó.


Chiếc chiếu hoa mới được trải vội ra cái phản gỗ hai tấm bóng loáng, thầy trò cùng rít thuốc lá Trường Xuân thơm, nhắp trà Việt Thắng[7] liên khu, chàng ngầm ghen tị cho cái phong lưu dân dã của Cống. Nó nói vừa được cha mẹ cho ra riêng vài tháng nay, được cấp cho hai công ruộng, một công mía và túp nhà tranh nhỏ này. Nó đùa:


Với hai trái tim đất sét!


Đầu ngõ, hai cây dừa con thấp tè tè mà đã chi chít những trái, đầy vườn cà, cải, bí, ngô rộn rịp. Cuối năm học vừa qua, nó đã cho chàng biết là cha nó sẽ bắt thôi học để ở nhà cưới vợ. Và hồi đó, nó xoắn lấy chàng, bịn rịn mãi, cuối cùng viết vào lưu bút cho chàng:


Giờ đây thầy Nam, trò Bắc


Tuy rằng cách mặt, mà lòng vẫn thương


Tướng mạo không điển trai, vai u thịt bắp, chân tay thô kệch, nhưng nụ cười có duyên và lòng dạ bộc bạch chân thành, chàng rất mến nó. Học khá, to con, chàng cử nó làm lớp phó. Lớp trưởng là Chi, con chú ruột chàng, Đảng viên. Giờ chào cờ, Cống tấn áo bà ba vào quần, đứng theo kiểu bộ đội, dõng dạc hô nghiêm, cả trường tuân theo răm rắp, khiến Cống rất tự hào cho cái khả năng chỉ huy bẩm sinh của mình.


Cha Cống bày tỏ niềm vinh dự cực kỳ khi được con trai báo là có bậc trí thức, thầy học của con trai đích thân tới nhà thăm. Bữa cơm thết phải nói là khá thịnh soạn so với những thiếu thốn gian khổ thời đó, có cả tiết canh, gà luộc và thịt heo hầm. Tất nhiên, theo tục lệ miền Trung, để đãi thượng khách, bao giờ cũng có bánh tráng nướng và rượu đế nếp tự sản tự tiêu. Cha Cống ép chàng uống một vài ly con. Hơi men đã làm cho chủ khách không còn thù lễ nữa mà ăn uống ào ào, chuyện nổ giòn tan, nào chuyện thuế nông nghiệp tận thu nặng đến nỗi cả những phú nông từng tham gia phong trào ba mươi cũng phải bán đi cả bàn thờ mà nộp, chuyện đánh nhau dữ dội ở Tây nguyên, trai làng sôi nổi ra lính mà tin báo tử cũng bay về nườm nượp, tới chuyện Điện Biên Phủ đang ở cao trào chiến thắng.


Đêm hè yên tĩnh, trời đầy sao, trên chiếc chõng bỏ ngoài sân, Cống kể chuyện tại sao nó lại lấy cô gái mười bảy, mới học lớp tư có cái tên Lụa nôm na nầy thay vì Bùi Thị Phù Dung, người bạn cùng lớp, theo nó đẫy đà, khuôn mặt xinh tươi và nước da ửng hồng tuyệt đẹp. Đôi mắt buồn đi trong hồi ức, nó thì thầm rót vào tai chàng chuyện mối tình đầu chất phác, thơ mộng sớm gặp ngang trái khi cô nàng được tiếp tục lên học lớp Bảy ở Lê Khiết, nơi có bao chàng trai con nhà giàu từ Nam Ngãi, Bình Phú tụ về và lẽ dĩ nhiên cái đóa hoa mới nở đó được bao ong bướm rập rình, chỉ cần một khoảng thời gian ngắn ngủi cũng đủ sức xóa đi những kỉ niệm hàng bao năm của hai đứa trên con đường làng đầy lỗ chân trâu hủng hiu giữa ruộng lúa nương ngô này.


Cống tạm gác việc đồng áng, khẩn khoản mời chàng ở lại chơi với nó mấy hôm, cùng ra bờ xe nước[8] tắm sông, bắt cá bống hay ra ruộng lưới rập chim mía. Nó lội bộ đi làng trên xóm dưới, rủ rê bạn đồng học cũ tới. Rồi chúng tranh nhau rước chàng về nhà với những bữa cháo vịt đàng hoàng, những bữa giỗ nhà quê mà nhà trí thức miệt vườn thực sự đang thất nghiệp của chúng ta được mời lên chiếu trên với các cụ thân hào, khăn đóng áo dài đĩnh đạc, thơ văn chữ Hán được rung đùi ngâm đọc ra sang sảng.


Những đêm tối trời, họ đốt đuốc dò dẫm trên ruộng vừa cuốc ải[9] phơi dăm bảy nắng, mới tháo nước cho rệu rã thơm mùi đất mới, bao nhiêu họ hàng nhà ếch theo tiếng gọi vô hình của thiêng liêng tìm đến nhau, quấn quít lấy nhau trong cuộc tình mê mệt, để dễ dàng bị các chàng trai trẻ tóm lấy đem về, lột da, chặt đầu, quết thịt làm món ram nướng[10] mồi rượu. Họ tha hồ nói chuyện trên trời dưới bể. Vị hành khất quí tộc của nhiều nhà nầy tạm quên nỗi lo lắng triền miên là phải làm sao có cái lương mấy chục ký gạo mà ổn định đời sống, cưới vợ. Sau những đêm vui, khi tỉnh ra, nghĩ về hoàn cảnh thực tế, chàng thấy toàn một màu đen tối hãi hùng.


 


11. ĐÌNH CHIẾN 1954


 


Đùng một cái, thằng Cống mang ở đâu về một tờ báo Cứu Quốc của Liên khu loan tin hai bên ký Hiệp định Genève. Thiên hạ bàn tán xôn xao. Chàng bỏ dở cuộc vui với đám môn sinh, vội vã khoác túi vải về nhà, rồi tức tốc đáo nhiệm sở, trường cấp 2 Gò Eo, Nghĩa Hành. Cước cũng đi họp về tới nơi, phổ biến: Đình chiến. Lực lượng Việt minh rút hết qua bên kia sông Bến Hải, giao miền Nam cho bù nhìn, hai năm nữa tổng tuyển cử. Nhưng điều quan trọng nhất làm chàng mừng húm: Cán bộ phù động như chàng đều được truy lãnh hai tháng lương Năm và Sáu.


Trường Gò Eo giải tán, trò nào muốn tiếp tục phải xuống học Lê Khiết ở An Ba, nhưng cũng chỉ tới cuối tháng tư 1955 là chấm dứt. Con một nhà Nho, có chút ít học thức, dù thường đọc báo và hàng tuần phải học tập thời sự nhưng cũng như hàng triệu người Việt khác bấy giờ, chàng không sao hiểu nổi được cái tình hình là, đang khi cả nước cực kỳ phấn chấn bởi chiến thắng Điện Biên Phủ vang dội năm châu, thì đùng một cái lại có chuyện ký kết. Rồi bao cán bộ quyền uy một thời ở nông thôn, hàng rừng súng ống, lưỡi lê, bộc phá đều răm rắp hạ xuống. Rồi đại hạ giá, kẻ bán nhà, người gạ vườn để nộp tiền cho con cái cùng với mình tập kết ra Bắc, bỏ lại đám quần chúng tưng hửng chẳng biết mô tê gì, vẫn hằng răm rắp hô theo các khẩu hiệu và làm cật lực. Giờ đây tất cả ngơ ngác, cả những người vợ chỉ mới cưới vài đêm còn ngất ngây mùi trăng mật.


Phần chàng, truy lãnh được hai phần tạ gạo[11], phần đem về cho mẹ, phần bán đi mua thêm bộ đồ vải và để dành tiêu vặt, chàng cảm thấy mình bỗng nhiên giàu có tột đỉnh. Mẹ mừng vô kể, không phải vì được gạo mà vì khỏi lo thuế nông nghiệp và hy vọng người con trai đã ra đi mịt mù trong khói lửa Kháng chiến khu 4, anh Mười, có thể sẽ trở về.


Chàng được triệu tập theo dự lớp Chỉnh huấn ngắn chỉ ba hôm tại Đức Hiệp về thắng lợi của nhân dân ta đã buộc Pháp phải đầu hàng, ta chỉ tạm thời tập kết hai năm, tổng tuyển cử nhất định thắng lợi trở về. Bữa cơm bế mạc, dù là cựu công chức thời Tây cũng chưa ai từng thưởng thức, ngoài gà, bò, heo còn có chả lụa, nem nướng, bò tái, heo quay, vịt hầm… Nước ngọt vùng bị chiếm lần đầu tiên xuất hiện bên cạnh rượu Ngũ gia bì của Trung Quốc.


Cuối cùng, tất cả đều được bồi dưỡng bằng một cuốn phim về cảnh quan văn minh, phú cường, tiên tiến, lộng lẫy ở Liên Xô và Trung Quốc với những cánh đồng nho bạt ngàn, những công trình kiến trúc vĩ đại, những đoàn thanh niên thiếu nữ ăn mặc đẹp đẽ vui tươi ca hát. Đặc biệt, khán giả cũng được giới thiệu đoạn phim về tướng Pháp De Casterie lủi thủi chui ra khỏi hầm Điện Biên Phủ, giơ tay đầu hàng và mấy anh Vệ quốc đoàn giản dị áo vải, dép râu, chạy vút như mũi tên, hùng dũng lên cắm cờ đỏ Sở chỉ huy quân bại trận. Cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió giữa những triền núi xanh hùng vĩ, đẹp diệu kỳ.


Hôm bế mạc chàng được cử lên thay mặt những người ở lại, nói lên tấm lòng với kẻ ra đi và hứa hẹn sẽ kiên quyết đấu tranh đòi đối phương nghiêm chỉnh thi hành Hiệp định Gienève, với lời hò ta lý tang tình:


Dù ai nói ngả nói nghiêng


Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân


Dù ai rào giậu ngăn sâu


Lòng ta vẫn giữ là dân Cụ Hồ.


Bận cái áo lụa vàng của Phát cho, trông chàng như một thư sinh. Mà thư sinh thật, năm 1954 chàng mới hăm ba, trở lại nhà vợ chưa cưới và trường Gò Eo như một kẻ chiến thắng. Cước đã thu xếp để đi tập kết vì quê Cước ở Tư Nghĩa tả ngạn sông Vệ, Quảng Ngãi, mà theo Hiệp định bên kháng chiến phải rút hết trước tháng 10-1954. Chàng thay mặt Trường bàn giao hai lớp học bằng lá và mấy bộ bàn ghế gỗ tạp đã hư nát cho xã rồi xuống An Ba, trung điểm của đoạn đường Thi Phổ quê cha và Vạn Xuân, nhà vợ, nơi trường Lê Khiết Liên khu 5 còn hoạt động ở phía nam sông Vệ cho đến tháng 5 năm 1955.


Thời gian biến chuyển rất nhanh, nhưng có vẻ ủng hộ chàng trong sự thực hiện niềm mơ ước lớn lao: cưới vợ.


 


12. RỒI BUỔI HĂM LĂM, TA ĐI CƯỚI VỢ


 


Mẹ đang già yếu và chàng sắp sửa ra đi tập kết là hai lý do chánh đáng làm sao để chú Điển Biện nêu ra thuyết phục gia đình cô gái mười sáu chịu làm đám cưới. Lần nữa, bác hương Bộ lại trong bộ áo dài khăn đóng và chòm râu dài đốm bạc oai phong lẫm liệt như Quan Công phó hội mà xuống thuyền nghinh hôn.


Đổ bộ bến Hóc Đồng lần này đám cưới đông đảo, màu sắc hơn, đàn bà áo dài toile de lin sặc sỡ của Trung Quốc vĩ đại và hữu nghị, cùng với đám dù đầm tím, xanh, vàng, đỏ lòe loẹt của địch mới đem vào bán ở thị xã làm thành một bản hòa tấu chẳng mấy nhịp nhàng, vừa mang cái vẻ mộc mạc của một anh giáo hò lơ kháng chiến, vừa pha lẫn cái hơi hớm ngóc đầu dậy của một gia đình địa chủ mới đây còn thất thế trong cải cách ruộng đất. Các ông họ được tắm táp cẩn thận bằng cả rượu tây của anh Sáu, anh Bảy, những người thiện chí Quốc gia vừa chạy ra tỉnh gửi về mừng em trai, lẫn thứ rượu đế lậu do anh xã Lang cất nấu.


Rồi buổi hăm lăm ta đi cưới vợ


Cả xóm ra đường nhìn mặt cô dâu.


Em ruột chàng ngậm ngùi tiễn biệt đời độc thân của anh mình, cuộc đời đã khiến họ trở thành bạn tâm giao hơn là tình huynh đệ. Hộng đã đem hết tâm hồn và đôi bàn tay khéo léo của mình vào việc sáng tạo một cây đèn kéo quân tuyệt khéo, tả cảnh Giang Tả Cầu Hôn trong Tam Quốc, một vưu vật so với thời bấy giờ, treo rực rỡ giữa nhà.


Qua đêm động phòng hoa chúc, chàng hiểu ra rằng, như Darwin dẫn giải, con người trước tiên là loài vật, bằng bản năng sinh tồn mà Thượng đế huyền nhiệm ban cho, nó có thể tự làm, thành thạo nữa là khác, một số việc khỏi phải dạy bảo, từ cóc nhái cho tới chim phượng hoàng, việc truyền giống.


Chàng trai tân với cô gái còn nguyên phong nhụy, không như chàng quá lo lắng, rất mãn nguyện với sự thành công ngoài sức tưởng tượng trên chiếc giường gỗ. Nghe nói đêm hợp cẩn của ông bà nội chàng, của cha mẹ chàng, của hai người anh lớn chàng, đều trải qua trên chiếc giường cũ kỹ này. Khung treo mùng vuông vức thô kệch, mỗi lần có đám cưới là chỉ phải thay một chiếc chiếu hoa mới. Nàng thêu trên áo gối trắng tinh hai con bướm và một nhành hoa, nét chỉ xanh đỏ chỏi nhau, quê mùa nhưng là cố gắng phi thường của bao đêm mơ ước trên những ngón tay chỉ quen làm cỏ lúa.


Quá mệt nhọc vì những nghi lễ lạy tổ tiên cha mẹ hai bên và đường xa mệt nhọc, dọn dẹp, rửa chén bát, người con gái mười sáu chưa đủ tuổi đời để ưu tư cho một cảnh sống chồng vợ mới mẻ đó, đã thiếp đi khi vừa đặt lưng xuống chiếu.


Cây bạch lạp trên bục then cửa cháy bập bùng. Chàng không hiểu sao cuộc đời lao động sáng nắng chiều mưa trên ruộng và sự thiếu thốn của cuộc kháng chiến gian khổ lại có thể giữ lại trên da nàng một màu trong ngọc ngà mịn màng và mái tóc đen dài dịu dàng mươn mướt như thế. Lòng hừng hực ham muốn, nhưng với bản chất nghệ sĩ, cũng có đến hàng giờ, chàng trầm ngâm và say mê ngồi nhìn đôi vú tròn đầy, nở nang căng phồng, nõn nà đang phập phồng trên ngực nàng, nhấp nhô theo nhịp thở mà chàng cho là chỉ có Thượng đế mới có thể tạo ra được những vẻ đẹp mỹ miều hoàn hảo của thần Vệ Nữ.


Chàng cảm ơn ông bà cha mẹ, họ hàng bè bạn thân thương đã sinh ra cả hai, nuôi dưỡng và giúp hình thành mối quan hệ xã hội mà bao vất vả thiếu đói đã được quên đi và giờ đây, chỉ thấy có bóng dáng của hạnh phúc, yên ổn. Bỗng nhiên, trong cơn mơ nàng ú ớ: Mẹ! Mẹ! Và ôm chầm lấy khi chàng vừa nghiêng xuống. Hai thân thể quấn lấy nhau, ban đầu còn run rẩy lo sợ, rồi đau đớn tái tê, nhưng sung sướng ngất ngây, thèm khát vô tận.


Lần đầu tiên trong cuộc đời cả hai, sự tận hưởng nhục cảm một cách tiên thiên, đã giúp họ khám phá ra nhau, tất cả mới mẻ về cái phần thứ hai của chính mình, tan biến vào nhau, làm thành một thể thống nhất, một đơn vị của tế bào xã hội, chấm dứt cuộc sống độc thân, đi dạy học khăn gói gió đưa, rày nay mai đó của chàng.


Tình yêu của chàng, trước đây là nàng Nhụy của mộng mơ, của hoa bướm trăng sao, đầy trắc trở biệt ly, thậm chí cho tới những giai nhân kim cổ, Tristan và Iseult, Chiêu Quân và Dương Quý Phi… Còn bây giờ, là chén cơm thơm mùi gạo mới, là trái ớt cay, là sự giao hợp vật chất âm dương, cụ thể, đắm say, hoan lạc cho tới rên rỉ, ghì xiết.


Đó là ngày mồng tám tháng Ba âm lịch Ất Mùi, cái năm đặc biệt ý nghĩa trong đoạn cuối đời chàng.


Trước đây là cả một quá khứ ham mê Toán học, rồi ghiền Thơ văn, rồi những lý tưởng cao cả. Giờ chàng đắm mình trong hàng đêm nhìn vợ ngủ, tâm hồn như chết lịm đi trước đường cong tuyệt mỹ của bộ ngực trần. Từ đấy, chàng thích ngắm những đôi nhũ hoa mà đấng Tạo hóa từng dày công nắn nót trên ngực những phụ nữ, với tất cả nghệ thuật tạo hình của bàn tay Trời. Chàng cho rằng cùng với khuôn mặt, đôi bầu vú tiêu biểu cho sắc đẹp, nó kích thích tình dục, vốn là đặc trưng của sinh vật, có sinh ra và chết đi, có truyền giống để kế tiếp vĩnh viễn tồn tại. Và chàng đâm ra lêu lổng suốt đời, lêu lổng như một định mệnh.


Mẹ được trả lại mấy miếng ruộng bị truy canh oan ức trước đây nên nhà đã dễ chịu hơn, cô dâu mới không thấy gì thay đổi mấy so với cảnh nhà trung nông của mình.


Mười ngày sau lễ thành hôn, là ngày giỗ ông ngoại chàng. Sau bao năm bị chôn vùi im tiếng, chiêng và trống chầu thờ đức Linh Bao Đoan Túc Tôn Thần, tức ông lớn Thi Phổ được đào lên, phủi sạch đất bụi. Cả họ Phạm sắm sửa tam sanh (dê, bò, heo) tiến cúng.


Họ gần họ xa, cả con cháu những người học trò từ đầu thế kỷ này ở tận các tỉnh xa Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên… cũng mấy ngày đường khăn gói đi bộ tựu về Thi Phổ. Chàng cũng không hiểu áo thụng xanh, cân đai cũ ở đâu mà tái xuất hiện nhanh thế, lại cả một bài văn tế biền ngẫu dõng dạc ngâm nga giữa chốn khói hương nghi ngút. Hai cây hồng lạp lớn đứng thẳng trên các chân đèn đồng to mới chùi sáng loáng, báo hiệu sự trở về của ông ngoại chàng, của những vị thần linh từng bị đuổi ra khỏi các đền đài miếu mạo, thậm chí còn bị chửi mắng trong mười năm qua.


Chàng thật sự nở mày, nở mặt trước người đẹp của mình. Giờ đây, nàng là trọng tâm cuộc đời chàng. Đám giỗ biểu dương thanh thế giòng họ nhà chàng, khiến nàng cũng háo hức mong sớm về thăm mẹ, để khoe cảnh phồn thịnh bên chồng với chòm xóm, cái lý lịch trước đây chàng giấu nhẹm. Mắt nàng đen láy, sáng trong, nụ cười rạng rỡ được các bạn nối khố của chàng nào Giáo, nào Vàng không ngớt hết khen chàng tốt số có vợ trẻ đẹp.


Chàng yên trí có cơ sở ở lại miền Nam. Nhưng chủ trương của lãnh đạo luôn luôn thay đổi.


Một buổi chiều Tĩnh đến chơi. Số mệnh thật kỳ lạ, sao lại Tĩnh, người bạn cùng lớp, kẻ đã ăn cắp đồng hồ mà chàng đã kể trước đây đến nữa nhỉ. Anh ta chào vợ chàng:


Mừng cho chị. Dù chỉ là giáo viên cấp hai, ảnh đã được cấp trên ưu ái cho đi tập kết, đợt cuối tháng Tư này.


Biết chàng vốn ham học, Tĩnh tiếp:


Thế nào ra ngoải [12] cũng sẽ được sang Liên Xô, Trung Quốc du học.


Rồi quay sang chàng, Tĩnh nói:


Cậu tôi, mới ở Việt Bắc về cho biết bây giờ ngoài đó sung sướng lắm, bữa ăn nào cũng như bữa giỗ hết.


Chàng hơi ngạc nhiên thắc mắc không hiểu tại sao cấp trên không kêu mình tới trực tiếp ban ơn mà lại phải qua cái ông bạn này, người chàng không mấy tín nhiệm. Vì vậy, trước đây chàng đã từ chối lời mời vào Đảng của anh ta.


Không giấu được vẻ lạnh nhạt, chàng bảo Tĩnh:


Thật may cho tôi, chỉ dạy cấp hai, lại con nhà địa chủ mà được chiếu cố cho đi tập kết, tôi sẽ thu xếp.


Tĩnh ra về, lòng hoan hỷ, như mới lập thêm được công mới. Vợ chàng mộc mạc:


Ờ, đi thì đi, hai năm nữa sẽ trở về, nào có lâu la gì. Khi đó chắc còn làm ông to hơn nữa.


Giục chồng chuẩn bị lương khô, nàng ra chợ đích tay chọn cho chàng chiếc áo trấn thủ kiểu bộ đội miền Bắc dạo đó đang bày bán rất nhiều. Những đêm kế tiếp, họ thức trắng, khi sung sức quần nhau trên giường, yêu nhau suốt sáng không biết mệt, dữ dội tê điếng ngất ngây mùi trăng mật, khi bàn chuyện nhà, chuyện kẻ ở người đi, lo lắng hãi hùng, không rời nhau nửa bước. Trong thâm tâm, chàng lần lữa không muốn xa nàng, chỉ còn một tuần nữa, phe Quốc gia của Thủ tướng Ngô Đình Diệm tiếp thu phía nam sông Vệ, trong đó có Thi Phổ. Đúng lúc ấy, mẹ phát bệnh đau, không mấy nặng, nhưng nhà không còn ai.


Anh Cả đã ở riêng, anh Sáu, Bảy đã cao chạy xa bay. Để khỏi mắc cỡ với bạn bè, chàng cũng sẵn sàng bị gậy, từ giã mẹ đi bộ vào Quy Nhơn xuống tàu Ba Lan như đã được dặn dò. Mẹ tỏ ý không bằng lòng nhưng chỉ thở dài, ôm ngực ho sù sụ, sau khi cố nhắm mắt ực cho hết chén thuốc đắng mà chàng vừa sắc.


Đang là mùa hè của thời tiết miền Trung mà bầu trời ngày ấy u ám như chia sớt nỗi buồn tử biệt sinh ly: trời mưa, gió hắt hiu, mẹ khóc, vợ chàng khóc, chàng khóc, cùng với Trời. Khóc vẫn khóc, ra đi vẫn phải ra đi. Nàng chạy vào buồng úp mặt xuống gối ngửi chút hơi hướng còn sót lại từ đêm qua. Chàng lê những bước chân nặng trịch và mệt mỏi, ghé chào anh Cả. Anh kiên quyết yêu cầu chàng trở lại với lý do không thể bỏ mặc mẹ trơ trọi nằm bệnh. Quả tim sầu buồn rười rượi muốn níu bước chân, nhưng trí óc vẫn lo sợ người ta cho mình nặng gia đình, không tiến bộ, nên rốt cuộc chàng cũng vào tới Bồng Sơn - Bình Định, cách nhà sáu mươi cây số.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Một câu trong bài văn tế tả vợ người khách trú mẫu mực mà cha chàng hay đọc: hồi còn sống nàng điệu đàng vấn thuốc lá, mua tán đường cho chồng.




[2] Nguồn đây là miền thượng du Quảng Ngãi, thuộc các xã miền tây Nghĩa Hành.




[3] Câu tả nhà sư: Một bình bát, ăn cơm của nghìn nhà. Một mình rong ruổi dạo chơi vạn dặm.




[4] Tên một loại rượu ở Nam - Ngãi thời trước 1945.




[5] Vai trò của tâm linh vẫn rất thiêng liêng.




[6] Hồi kháng chiến, học trò phải kêu thầy bằng anh.




[7] Tên thứ thuốc lá thơm và thứ trà tàu ở Liên khu 5 thời chống Pháp.




[8] Ở Quảng Ngãi hồi xưa, người ta lấy nước sông Trà Khúc và sông Vệ vào ruộng bèn cách ngăn sông lại cho nước dâng cao, chừa một đoạn ngắn cho sức nước chảy mạnh làm quay một bánh xe thật to, mỗi rayon là một cánh quạt mang những chiếc ống múc nước từ sông đổ lên mương.




[9] Gặt xong, cuốc lật đất lên, phơi nắng gọi là ải.




[10] Thịt cuốn bánh tráng chiên, Quảng Ngãi gọi là ram.




[11] Lương bấy giờ trả bằng gạo, mỗi tháng độ 35 kg.




[12] Tiếng địa phương: ngoài. Đây chỉ Hà Nội.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 10.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
xem thêm »