tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20539418
01.10.2013
Tư liệu
Nhóm Trúc lâm thất hiền

“Trúc lâm thất hiền” là bảy nhà văn nhà thơ Trung Quốc sống thời kỳ cuối Ngụy đầu Tấn thế kỷ thứ III, gồm Nguyễn Tịch (Ruan Ji), Kê Khang (Ji Kang), Lưu Linh (Liu Ling), Sơn Đào (Shan Tao), Hướng Tú (Xiang Xiu), Vương Nhung (Wang Rong), Nguyễn Hàm (Ruan Xian). Trước chính sách tàn bạo của họ Tư Mã (Si Ma), bảy người này lui về ở ẩn trong rừng trúc, đánh đàn, uống rượu, ngâm thơ, bàn triết học Lão Trang, nói chuyện huyền viễn để bày tỏ thái độ chống đối chế dộ đen tối đương thời.


Do Lưu Linh đã được giới thiệu ngay từ đầu sách, ở phần phụ lục này tôi xin cung cấp cho quý vị tư liệu sáu thành viên còn lại trong nhóm “Trúc lâm thất hiền” để quý vị tiện tham khảo.


 


NGUYỄN TỊCH (210 – 263)


Nguyễn Tịch tên chữ là Tự Tông, người đất Trấn Lưu, con của Nguyễn Vũ – một trong Kiến An Thất tử.


Nguyễn Tịch có dung mạo khác thường, chí khí rộng mở, tự nhiên, tự mình làm chủ, tính thích phóng túng tự do, vui buồn không lộ ra mặt. Ông thường đóng cửa ngồi nhà đọc sách, có khi hàng tháng không bước chân ra ngoài, lại có khi trèo lên núi ngao du sơn thủy hàng mấy ngày quên cả trở về.


Nguyễn Tịch đọc rất nhiều sách mà thích nhất là sách Đạo Đức Kinh của Lão Tử và Nam Hoa Kinh của Trang Tử.


Nguyễn Tịch thích uống rượu, biết thổi sáo, giỏi đàn cầm, đương khi đắc ý chợt quên hình hài mà siêu thần nhập hóa. Người đời cho rằng ông có tính cuồng si hay máu điên.


Cũng vì có cái cuồng danh đó mà Tư Mã Chiêu đem lòng ngưỡng mộ, muốn kết thân với Nguyễn Tịch, nhưng ông không chịu nên cố ý say sưa luôn sáu mươi ngày đêm để khỏi gặp Tư Mã Chiêu.


Bề ngoài của Nguyễn Tịch trông rất phóng đãng, nhưng bên trong rất thuần chính. Sở dĩ ông làm ra vẻ mình là kẻ phóng đãng là nhằm để tránh tai họa, bảo vệ lấy thân mà thôi.


Nguyễn Tịch nhìn thấy triều đình càng lúc càng suy yếu, quan lại chuyên quyền, dua nịnh nên rất đau lòng. Ông đã giãi bày tâm sự của mình qua tác phẩm Vịnh hoài – tập thơ bất hủ gồm 82 bài thi –  một kiệt tác của thời bấy giờ. Tấm lòng của ông bao la, tầm mắt rộng lớn mà không gặp được người đồng khí tương cầu nên đã phát tiết bi thương trong thơ văn đến độ mãnh liệt.


Nguyễn Tịch có viết sách Đạt trang luận, trong đó ông xác định triết lý tự nhiên, luôn luôn nhận biết được cái lý đồng nhất trong cái khác biệt.


Nguyễn Tịch có cặp mắt rất đặc biệt, khi vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt xanh, còn không vừa lòng ai thì nhìn với đôi mắt trắng. Khi mẹ Nguyễn Tịch mất, ông Kê Hỷ mang đồ lễ đến viếng, họ Nguyễn tiếp nhìn với đôi mắt trắng dã. Hỷ ra về mà bụng không vui. Em của Kê Hỷ là Kê Khang  nghe biết chuyện đó, mới mang rượu và cắp đàn đến thì Nguyễn Tịch lấy làm vừa ý lắm, tiếp Kê Khang với đôi mắt xanh.


Năm thứ tư đời Cảnh Nguyên, tức năm 263, Nguyễn Tịch mất, hưởng dương 54 tuổi. Kê Khang thường ca tụng Nguyễn Tịch rằng: Nguyễn Tự Tông, miệng không bàn lỗi của người. Mỗi khi ta muốn bắt chước làm như thế nhưng không sao làm được. Bản tính ông hơn hẳn nhiều người, ngay cả với sự vật cũng không muốn làm thương tổn. Ông chỉ có mỗi khiếm khuyết là uống rượu quá mức mà thôi.


 


2. KÊ KHANG (223 -  263)


Kê Khang tự là Thúc Dạ, người ở Tiêu Quận, sớm mồ côi, có kỳ tài. Ông có thân hình cao lớn, oai phong, thiên chất tự nhiên, tính tình điềm đạm, ít ham muốn, khoan dung giản dị. Ông tự học thành tài, sở trường về triết học Lão Trang (Lao Zhuang). Kê Khang viết được hai bộ sách: Thích tứ luận và Thanh vô ai lạc luận. Trong hai cuốn sách này, ông lấy chủ nghĩa tự nhiên để bài bác học thuyết của Nho giáo.


Kê Khang quan niệm nhân cách của người quân tử có được không phải lấy lễ giáo bên ngoài mà uốn nắn con người, đẽo gọt thiên nhiên. Ông cũng chống lại tất cả các suy luận về phải trái, đúng sai. Ông chỉ cốt làm sao noi theo Tánh mà sống, vì tự nhiên chính là đạo lý.


Sách Thế thuyết có kể chuyện rằng: “Chung Hội (225 – 264) – làm quan, làm tướng, có viết sách – lấy làm tiếc vì chưa có dịp gặp Kê Khang, cho nên có một ngày kia ông cùng với vài người thân tín đến thăm Kê Khang.


Sở thích của Kê Khang là rèn đồ kim khí. Chung Hội đến thì thấy Kê Khang đang rèn sắt dưới gốc cây lớn. Hướng Tú thì giúp Kê Khang thụt bễ, còn ông thì vẫn tiếp tục đập sắt như không hề để ý đến khách. Chung Hội bị bẽ mặt, đứng nhìn một lát rồi định bỏ đi. Kê Khang hỏi:


- Đã nghe gì mà tới? Đã thấy gì mà đi?


Chung Hội đáp:


- Tới vì nghe cái đã nghe, đi vì thấy cái đã thấy”.


Người đời Tấn rất thích vẻ đẹp về thể chất cũng như tinh thần của Kê Khang. Người ta so sánh ông với núi ngọc hoặc cây tùng. Có lẽ vì vậy mà Chung Hội mới nói đã nghe và đã thấy.


Trước kia, có một hôm Kê Khang đi chơi ở đất Lạc Tây, trọ ở Hoa Dương đình, đêm ngồi gảy đàn, chợt có một người khách đến tự xưng là người thời cổ, rồi cùng Kê Khang bàn luận về âm luật, lời lẽ rành rọt thấu đáo lắm. Nhân đó ông khách truyền cho Kê Khang khúc nhạc  Quảng lăng tán, dặn Kê Khang không được truyền lại cho ai khác.


Kê Khang sở trường về tản văn, tác phẩm của ông nhuốm màu sắc Lão Trang rất đậm, nhưng tâm tình phẫn nộ, lại thường tỏ ý bất bình với những điều chướng tai gai mắt. Kê Khang là người cương trực, quá thanh cao nên cuối cùng ông bị Tư Mã Chiêu lôi ra hành hình ở phía chợ đông. Người xưa kể: trước khi bị hành hình, Kê Khang quay nhìn bóng mặt trời rồi cầm đàn gảy, nói rằng:


- Trước kia khúc Quảng lăng tán này có người tên Viên Hiếu Nê thường theo ta để học nhưng ta không truyền được, nay khúc Quảng lăng tán này từ nay coi như đã mất.


Kê Khang mất năm ông được bốn mươi tuổi.


Các nhà phê bình văn học đều cho rằng thơ của Nguyễn Tịch và của Kê Khang ý tứ rất khác nhau. Thơ của Nguyễn Tịch thì ý tứ thâm thúy, của Kê Khang thì khí vận tuấn thanh. Tài hoa của Nguyễn Tịch thì như mùa xuân thơm ngát, còn tâm tình của Kê Khang như mùa thu trong trẻo. Tuy nhiên cái khác của hai ông là: một người thì dùng cái cuồng để làm kế bảo toàn tấm thân, đó là Nguyễn Tịch, còn người kia – tức Kê Khang – lại bị cái cuồng mà phải sát thân.


 


3. SƠN ĐÀO (205 – 283)


Sơn Đào tự là Cự Nguyên, người huyện Hoài, đất Hà Nội, đời nhà Tấn (nay thuộc tỉnh Hồ Nam). Từ nhỏ, tính tình Sơn Đào rất chất phác nhưng học thức hơn người, được nhiều học giả danh tiếng trong vùng nể trọng, nhưng ở tuổi bốn mươi ông vẫn chỉ là một viên quan nhỏ giữ chức chủ bạ trong quận.


Sơn Đào chơi thân với cả Nguyễn Tịch lẫn Kê Khang.


Vợ Sơn Đào là Hàn thị thấy ba người chơi thân với nhau thì hỏi dò chồng. Sơn Đào đáp:


- Đó là hai người riêng ta có thể chơi thân.


Hàn thị muốn biết rõ hai người bạn đặc biệt này của chồng nên sửa soạn một tiệc rượu để chồng đãi đằng hai bạn, còn mình thì núp trong màn nhìn ra quan sát. Buổi tiệc kéo dài suốt đêm, Hàn thị cũng thức suốt đêm để theo dõi.


Sáng hôm sau, Sơn Đào vào phòng hỏi vợ:


- Nàng nghĩ sao về hai người bạn của ta?


Hàn thị đáp:


- Về tài hoa thì chàng không bằng họ, nhưng về tri thức thì chàng đáng là bạn của họ.


Sơn Đào nói:


- Chính họ cũng cho cái biết của ta là cao hơn.


Về sau Sơn Đào cũng được điều về kinh đô, giữ chức Thượng thư Lại bộ lang. Lúc ấy Ngụy đế là Tào Phương vừa nhỏ tuổi vừa bất tài, triều chính lọt vào tay thái úy Tư Mã Ý và đại tướng Tào Sảng. Hai người này kết bè kết đảng định tiêu diệt phía đối phương mà độc chiếm quyền hành.


Sơn Đào nhìn thế cuộc biết chắc thế nào Tào Sảng cũng phải bại dưới tay Tư Mã Ý vì Tào Sảng lỗ mãng, ngang ngược, kém mưu trí hơn Tư Mã Ý nhiều. Ông không muốn dính vào cuộc tranh giành quyền lực của hai người ấy nên thường ẩn cư, ít giao thiệp với các triều thần.


Mỗi khi cao hứng, Sơn Đào thường mời các danh sĩ như Kê Khang, Nguyễn Tịch, Lưu Linh, Nguyễn Hàm, Hướng Tú, Vương Nhung vào trong rừng trúc rong chơi, uống rượu và bàn lẽ huyền vi của trời đất, gác ngoài tai mọi việc ở đời.


Trong Bảy hiền sĩ rừng trúc thì Kê Khang là người có tiếng tăm và tài hoa nhất, dám khinh miệt cả bọn quyền quý khiến Sơn Đào rất bội phục. Sau này, khi Sơn Đào làm ở bộ Lại có dâng thư tiến cử Kê Khang. Kê Khang chán ghét bọn tham quan ô lại nên không hề có ý muốn ra làm quan, nay biết được Sơn Đào dâng thư tiến cử mình, ông nổi giận đùng đùng liền viết một bức thư “Tuyệt giao Sơn Đào”, mỉa mai Sơn Đào còn ham danh lợi và tuyên bố tuyệt giao với Sơn Đào. Sơn Đào hiểu rất rõ tính ý của Kê Khang nên không hề hờn giận.


Sau này, Kê Khang bị Chung Hội và Lữ Tấn vu oan, Tư Mã Chiêu tin Chung Hội nên giết chết Kê Khang. Con của Kê Khang là Kê Thiệu bơ vơ không nơi nương tựa, được Sơn Đào đem về nuôi, lo lắng chăm sóc như con mình.


Năm 265, con của Tư Mã Chiêu là Tư Mã Viêm tiếm quyền, phế bỏ triều Ngụy của họ Tào, lên làm vua, lập ra nhà Tấn. Lúc này Sơn Đào lại dâng thư tiến cử Kê Thiệu: “Cha có tội không liên quan gì đến con. Kê Thiệu gồm đủ đức tài, xứng đáng được trọng dụng”. Tư Mã Viêm chấp thuận, phong Kê Thiệu chức Bí thư thừa.


Sơn Đào giỏi nhận xét nhân tài. Trong hơn hai mươi năm làm việc ở bộ Lại, ông đã tiến cử cho triều đình nhiều hiền tài. Trong triều có quyền thần Giả Sung, thường kéo bè kết đảng để củng cố thế lực, khen ngợi tên tâm phúc Lục Lượng trước mặt Tư Mã Viêm, rằng Lượng tính tình trung hậu, chí công vô tư nên xin cho họ Lục được cùng với Sơn Đào làm chức Tuyển quan. Tư Mã Viêm đồng ý.


Nhưng Sơn Đào thì phản đối việc này vì biết gã họ Lục chỉ là tên khéo nịnh hót chứ không có thực tài, không xứng đáng với chức Tuyển quan. Ít lâu sau, quả nhiên Lục Lượng nhận hối lộ, bị phát hiện nên bị cách chức. Sau việc này, Tư Mã Viêm càng trọng tư cách của Sơn Đào.


 


4. HƯỚNG TÚ (221 – 300)


Hướng Tú tự là Tử Kỳ, người ở đất Hoài, nay là Hồ Nam, thuở nhỏ đã quen biết Sơn Đào. Hướng Tú rất thông tuệ, hiểu biết rất sâu xa, theo triết học của Lão Trang. Ông cùng với Quách Tượng đã chú giải sách Nam Hoa kinh của Trang Tử, vì lâu nay trải qua nhiều thế hệ của Đạo gia nhưng chưa có ai luận bàn về tôn chỉ và hệ thống hóa sách ấy cả.


Hướng Tú bàn và giải thích thêm những ý nghĩa sâu kín, phát minh thêm ý lạ, làm nổi lên phong trào Huyền học.


Người đương thời đọc sách ấy thì siêu nhiên tâm ngộ, chẳng ai không mãn nguyện.


 


5. VƯƠNG NHUNG (234 – 305)


Vương Nhung có một đứa con vừa mới chết, bạn của Vương Nhung là Sơn Giản đến viếng. Vương Nhung không cầm được nước mắt. Sơn Giản nói:


- Chỉ là đứa bé con, cớ sao lại khóc?


- Thánh nhân thì quên tình, thứ dân thì không biết tới, chỉ như bọn ta mới có nhiều tình.


Sơn Giản tán đồng, rồi cũng khóc theo.


Lời nói của Vương Nhung cắt nghĩa rất rõ tại sao nhiều nhà Huyền học lại rất lưu tâm đến thuyết chủ tình.


Trong nhiều trường hợp, không phải vì sự được mất của bản thân mà họ tỏ ra vui buồn, mà chính là trong cái cảnh tượng chung của cuộc sống hay của trời đất đã khiến tình cảm của họ biến đổi như thế.


 


6. NGUYỄN HÀM


Nguyễn Hàm là cháu gọi Nguyễn Tịch bằng chú. Hai người họ Nguyễn này đều thích uống rượu. Mỗi khi gặp nhau, họ không cần dùng chén mà uống, chỉ ngồi quanh bưng vò mà uống. Có khi mấy con lợn khát nước chạy đến, họ cũng cho chúng cùng uống với họ.


Đấy là tình cảm cốt yếu của hạng người phong lưu, muốn sống với tinh thần nghệ sĩ, với ý thức bình đẳng, không phân biệt giữa họ và vật trong trời đất.


                                         *


Tóm lại, Trúc lâm thất hiền là bảy hiền sĩ nơi rừng trúc, là những nhà văn nhà thơ vừa đi dạo, vừa bàn luận trong một khu rừng trúc nhỏ. Thỉnh thoảng họ dừng lại uống rượu rồi lại tiếp tục đi dạo, bàn luận, làm thơ cho đến lúc say mèm.


Trong khi bàn luận, họ thường chỉ trích Khổng giáo, đề cao Lão Trang. Mỗi người một cách, họ làm dấy lên một trào lưu tư tưởng lãng mạn gọi là Phong lưu, ngụ ý sống tự do theo tự nhiên. Nói cách khác, quan điểm sống của họ thấm đẫm tư tưởng triết học của Lão Trang. Sống phong lưu là sống hòa nhịp với cảm xúc bồng bột hồn nhiên, không chờ tri thức kịp xen vào. Cảm xúc ấy là bản tính của con người đã cảm thông với tạo vật thiên nhiên chứ không phải bản tính nhỏ hẹp hữu hạn tầm thường.


 


Nguồn: Lưu Linh Liệt Truyện. Phóng sự của Thái Thành Đức Phổ. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sau vụ xử Bạc Hy Lai: Tham nhũng có đe dọa tương lai Trung Quốc? - Tư liệu 21.09.2017
Một Việt Nam khác? Vương quốc họ Nguyễn ở thế kỷ 17 và 18 - Li Tana 19.09.2017
Chuyến du lịch Việt Nam của vị Nga Hoàng cuối cùng - Tư liệu sưu tầm 19.09.2017
Franklin Roosevelt – Người duy nhất đắc cử ba nhiệm kỳ tổng thống Mỹ - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Tưởng Giới Thạch – Tổng thống Trung Hoa Dân quốc - Tư liệu sưu tầm 18.09.2017
Mao Trạch Đông trong mắt người Trung Quốc hiện nay - Lý Lỵ & Chương Lập Phàm 18.09.2017
Huyện Kiên Lương: Vững vàng hội nhập và phát triển/ Du lịch đảo ở Kiên Lương - Nhiều tác giả 17.09.2017
Huyện Kiên Lương, tỉnh Kiên Giang - Tư liệu 17.09.2017
Vài ký ức về ba tôi: Bộ trưởng Vũ Trọng Khánh - Vũ Trọng Khải 10.09.2017
Vị Bộ trưởng Bộ Tư pháp đầu tiên - người đặt nền móng cho nền Tư pháp vì công lý - Tư liệu 10.09.2017
xem thêm »