tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18462290
19.09.2013
Tư liệu
Một bài báo trên tờ Nhật Tân: Văn học Chiêm Thành

Trong khi đang đọc lại tuần báo Nhật Tân, tôi thấy một bài báo nói về văn học Chiêm Thành của tác giả Phạm Ngọc Thọ (? - ?), xin giới thiệu với bạn đọc và bạn văn có quan tâm. Nhật Tân, tờ báo ra ngày thứ tư hàng tuần, số 1 ra ngày 2/8/1933, số cuối cùng ra ngày 20/2/1935 (theo Nguyễn Thành: Từ điển thư tịch báo chí Việt Nam, NXB. Văn hóa Thông tin, 2000). Bộ sưu tập Nhật Tân hiện còn tại Thư viện Quốc gia, Hà Nội, chỉ có đến số 76 (23/1/1935); mỗi số 12 trang khổ A2, sau rút xuống 8 trang. Tòa soạn: 15 Hàng Da, Hà Nội. Chủ nhiệm: Đỗ Văn. Quản lý: Phùng Tất Đắc. Tuy có đăng tin tức và bình luận các đề tài thời sự chính trị, song đây chủ yếu là tờ báo xã hội, văn hóa; là nơi đăng tải truyện Hòm đựng người của Nguyễn Triệu Luật (dưới bút danh Phất Văn nữ sĩ), tiểu thuyết Tắt lửa lòng và rất nhiều truyện ngắn Nguyễn Công Hoan, các phóng sự Cạm bẫy người Kỹ nghệ lấy Tây của Vũ Trọng Phụng,…      


Bài báo Văn học Chiêm Thành dưới đây không phải một bài viết kỹ, song lại là bài báo nói đến một đề tài ít được đề cập trên dư luận báo chí văn nghệ đương thời. Tác giả nêu vấn đề nhưng cũng biết rất ít tài liệu về thực trạng một bộ phận văn học đáng được biết đến nhưng lại hầu như chẳng có nguồn nào để biết; một vài tài liệu gián tiếp được nêu ra, chỉ như một gợi ý, một nhắc nhở, song thậm chí đến ngày nay vẫn chưa được làm sáng tỏ.


Lại Nguyên Ân sưu tầm và giới thiệu


VĂN HỌC CHIÊM THÀNH 


          Nếu không có những tòa cổ tháp và những tượng đá là những vết tích còn sót lại để chứng cho một nền kỹ nghệ tinh xảo, thì có lẽ ta không thể biết rõ một tí gì về nước Chiêm Thành đã mất.


          Là vì sử chép một cách mơ hồ. Mà chỉ từ khi nước ta giao chiến với Chiêm Thành thì ta mới bắt đầu chép sử họ. Những người chép sử lúc đó là những vị quan trong triều mà vua giao cho việc ấy. Những người này không chép đúng sự thực, lại thêm bớt vào, cốt để ca tụng những công trận của ta, và nói xấu người Chàm là kẻ thù nghịch mình. Cho nên bây giờ, muốn tìm tòi nghiên cứu đến văn học Chiêm Thành, cũng không biết tìm đâu.


          Từ xưa đến nay, ở nước nào cũng vậy, văn học khi nào cũng đi theo mỹ thuật và kỹ nghệ. Văn học thịnh thì mỹ thuật thịnh, văn học suy thì mỹ thuật cũng suy. Bởi thế, đã có một nền mỹ thuật tinh xảo như ta đã nhận thấy, thì văn học Chiêm Thành ắt hẳn xưa kia cũng sáng sủa phong phú lắm.


           Cứ xem những bia cổ còn sót lại ở các tỉnh Trung Kỳ như Quảng Nam (ở làng Đồng Dương và làng Mỹ Sơn) cùng Khánh Hòa (Nha Trang) thì ta thấy trên mặt bia có khắc một thứ chữ Phạn (Sanscrit). Vì nước Chiêm Thành đã chịu cái ảnh hưởng của văn minh Ấn Độ và theo đạo Phật nên lối chữ Phạn ấy rất thịnh hành về đời bấy giờ.


           Sử có chép rằng họ thường lấy lá cây thay giấy để viết, và họ có 13 tạng (tên bộ kinh nhà Phật) gồm hơn 3600 cuốn, mà chữ đều viết ngang và viết bằng ba cách: cách viết triện, cách viết thảo, và cách viết khải.


          Cũng như nước ta, nước Chiêm Thành lúc đó là một chư hầu của Tàu. Bởi giao tiếp với Tàu, nên về đời nhà Nguyên, nhà Tống, vào khoảng thế kỷ thứ XIII, Hán học rất thịnh hành ở nước họ. Tháng 5 niên hiệu Hồng Vũ thứ 2, nhà Minh có sai sứ sang truyền cho Chiêm Thành dùng khoa cử để chọn người.


           Người Chàm, nhiều người rất thông chữ Hán. Bấy giờ ta còn thấy vài bài thơ chữ Hán của họ lưu lại hay chẳng kém gì thơ của các cụ danh nho của ta ngày xưa.


          Ở bộ sách Minh Thi Tông có chép một bài thơ của  sứ nước Chiêm Thành đi sang cống bên Trung Quốc:


                    Hành tận hà kiều dương liễu biên


                   Phiếm phàm cao quải viễn triều thiên


                   Vị hành tiên thức quy tâm tảo


                   Ứng thị Yên sơn hữu đỗ quyên      


Dịch:           Đi qua đầu cầu sông Hoàng hà, bên hàng dương liễu


                   Cánh buồm treo cao, trời buổi mai xa


                   Chưa đi đã biết lòng về sớm


                   Ấy là chim đỗ quyên ở núi Yên sơn


và một bài đề là: Giang lầu lưu biệt


                   Thanh chương phủ lâu lâu phủ đệ


                   Viễn nhân tống khách thử kinh qua


                   Tây phong Dương Tử giang biên liễu


                   Lạc diệp bất như quy tứ đa


           Dịch


                   Núi xanh che lầu, lầu che bến


                   Người xa đưa khách qua chốn này


                   Gió tây thổi cây liễu bờ sông Dương Tử


                   Lá rụng chẳng nhiều bằng lòng muốn về


           Ở bộ sách Trạc anh đình bút ký có chép một bài thơ của vua Chiêm điếu Thẩm Kính Chi. Thẩm Kính Chi nguyên là một nghĩa sĩ của nhà Tống. Thẩm trốn sang Chàm xin vua Chiêm Thành giúp binh để khôi phục cơ đồ. Nhưng vua Chiêm nghĩ rằng nước nhỏ thế yếu, không giúp được nên không nhận lời. Thẩm lưu lạc mãi ở đấy. Nhà vua lấy lễ quốc tân ưu đãi ông. Sau ông lo buồn mà chết, vua Chiêm làm lễ chôn cất tử tế và điếu ông bài thơ này:


                    Thống khốc giang nam lão cự khanh


                   Xuân phong uẩn lệ vị thương tình


                   Vô đoan thiên thượng biên niên nguyệt


                   Tri sử nhân gian hữu tử sinh


                   Vạn diệp bạch vân già cố quốc


                   Nhất phần hoàng thổ cái hương danh


                   Anh hồn hảo trục đông phong khứ


                   Mạc hướng biên ngung oán bất bình [1]                  


         Dịch:   Khóc thương ông Cự Khanh người Giang Nam


                   Gió xuân lau nước mắt vì thương tình


                   Bỗng đâu trên giời biên năm tháng


                   Nên khiến đời người có thác còn


                   Mây trắng muôn lần che nước cũ


                   Đất vàng một đống lấp danh thơm


                   Hồn thiêng cứ gió đông theo đuổi


                   Chẳng trông bên cạnh lòng căm hờn


           Xem đấy ta cũng có thể biết rằng văn học của Chiêm Thành hồi bấy giờ cũng đã đến cái thời kỳ thịnh vượng lắm, và đó là nhờ có tiếp xúc với văn hóa Ấn Độ, và thâu thái được cái văn hóa Trung Hoa.


Phạm Ngọc Thọ


Nguồn: Nhật Tân, Hà Nội, số 29 (28 Février 1934), tr. 8.


phongdiep.net


____


[1]  Trong bộ Annamcũng có chép bài thơ này. Song tác giả lại cho là của vua Lê Thánh Tôn điếu ông Trần Trọng Huy nhà Tống (nguyên chú). chí lược

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sài Gòn cà phê chó mèo: 'một cún khác đã nghếch chân tè tiếp' - Tư liệu 26.03.2017
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
Chợ Cũ Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa 19.03.2017
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot - Tư liệu 19.03.2017
xem thêm »