tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19011281
17.09.2013
Nhiều tác giả
Mạc Đăng Dung & Dòng họ Mạc ở Việt Nam

Mạc Thái Tổ (chữ Hán: 莫太祖; 1483 ? - 22/8 âm lịch năm 1541), người sáng lập ra nhà Mạc, kéo dài từ năm 1527 đến năm 1592, trong giai đoạn lịch sử của Việt Nam mà người ta gọi là thời kỳ Lê-Mạc phân tranh hay thời kỳ Nam-Bắc triều của Đại Việt.


Nhà Mạc do ông dựng lên không những chỉ phải lo khôi phục sơn hà xã tắc đã suy kiệt từ cuối thời kỳ Lê sơ mà còn phải chống chọi lại với phản ứng rất mãnh liệt của phần lớn các cựu thần nhà Hậu Lê với tư tưởng trung quân của Nho giáo, chẳng hạn Cương mục có viết Đăng Dung sợ lòng người tưởng nhớ nhà Lê cũ, sinh ra biến cố, nên phàm việc đều noi theo chế độ triều Lê, do vậy các sửa đổi của ông về mọi quy chế trong nước là không nhiều.


Ông tên thật là Mạc Đăng Dung (莫登庸), sinh giờ ngọ, ngày 23 tháng 11 năm Quý Mão (1483). Ông là người làng Cổ Trai, huyện Nghi Dương (nay là huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng).


Cho đến nay trong sử sách và giới nghiên cứu tồn tại 3 ý kiến khác nhau về nguồn gốc của Mạc Đăng Dung:


-       Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi thời Trần. Theo Toàn thư và Đại Việt thông sử, Mạc Đăng Dung là người xã Cao Đôi (Đông Cao theo Cương mục), huyện Bình Hà (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, [nơi có nghề gốm Chu Đậu, sau bị tuyệt nghề - TX] huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), tổ tiên ông là Mạc Đĩnh Chi, trạng nguyên triều Trần. Đĩnh Chi sinh ra Cao (Dao theo Cương mục), Cao sinh ra Thúy (Túy theo Cương mục), Thúy sinh ra Tung, dời sang ở xã Lan Khê, huyện Thanh Hà, Hải Dương rồi sinh ra Bình, Bình lại dời sang xã Cổ Trai, huyện Nghi Dương rồi trú tại đó. Bình sinh ra Hịch, Mạc Hịch lấy con gái Đặng XuânĐặng Thị Hiếu người cùng làng Cổ Trai sinh được ba con trai, con trưởng là Đăng Dung, con thứ là Đăng Đốc (Đốc Tín), con út là Đăng Quyết.


-       Mạc Đăng Dung là cháu 7 đời của Mạc Đĩnh Chi mà Mạc Đĩnh Chi lại là cháu 5 đời của trạng nguyên Mạc Hiển Tích thời Lý Nhân Tông (1086), tức là Mạc Đăng Dung là cháu 11 đời của Mạc Hiển Tích. Người theo quan điểm này là Vũ Phương Đề trong Công dư tiệp ký[2]. Sau đó Đặng Đình Lang cũng theo thuyết này và bổ sung rằng gốc gác họ Mạc từ Cơ Chất Khiết - hậu huệ nhà Chu bên Trung Quốc. Sau khi nhà Chu mất, Cơ Chất Khiết làm quan cho nhà Hán, được ban họ Mạc và phong ở Trịnh ấp. Sau này con cháu di cư xuống phía nam rồi tới Đại Việt[3].


-       Mạc Đăng Dung là dòng dõi người tộc Đãn ở ven biển từ Phúc Kiến (Trung Quốc) trở xuống, đã Việt hóa ở phương Nam. Đây là quan điểm của Trần Quốc Vượng cho rằng: gia phả thực của họ Mạc còn chôn trong mộ và họ Mạc là người Đãn man[4].


Trong 3 luồng ý kiến trên, luồng ý kiến thứ nhất được đông đảo các nhà nghiên cứu chấp nhận vì khoảng cách thế thứ từ Mạc Đĩnh Chi tới Mạc Đăng Dung là hợp lý (7 đời trong 200 năm). Thuyết thứ hai được đánh giá là không hợp lý khi nối kết Mạc Đĩnh Chi và Mạc Hiển Tích: các nhà nghiên cứu cho rằng khoảng cách 5 đời trong 220 năm là không hợp lý về thế thứ[5]. Giả thuyết của Đặng Đình Lang đưa ra năm 1959 được xem là đi quá xa và không rõ căn cứ vào đâu[6]. Riêng giáo sư Trần Quốc Vượng phản bác cả 2 ý kiến trên mà cho rằng: Mạc Đăng Dung nhận mình là con cháu Mạc Đĩnh Chi chỉ là "thấy người sang bắt quàng làm họ"[4].


Quyền thần nhà Lê: Mạc Đăng Dung hồi nhỏ làm nghề đánh cá, lớn lên có sức khoẻ, đỗ lực sĩ xuất thân, được sung vào quân túc vệ của nhà Hậu Lê đời Lê Uy Mục.


Năm 1508, Đoan Khánh năm thứ 4, vua Lê Uy Mục giao cho ông làm Thiên vũ vệ đô chỉ huy sứ ty đô chỉ huy sứ. Năm 1511, Hồng Thuận năm thứ 3, vua Lê Tương Dực thăng ông làm Đô chỉ huy sứ tước Vũ Xuyên bá.


Triều Lê suy yếu, các tướng chia bè phái đánh lẫn nhau, bên ngoài nông dân nổi dậy khởi nghĩa, mạnh nhất là lực lượng Trần Cảo. Cảo đánh chiếm kinh thành Thăng Long, các tướng gác mâu thuẫn cùng đánh dẹp. Đến khi Trần Cảo rút đi, các tướng lại chia bè phái đánh nhau. Nguyễn Hoằng Dụ (con Nguyễn Văn Lang) đánh nhau với Trịnh Tuy. Tuy thua chạy về Tây Đô (Thanh Hoá). Trần Chân về phe với Tuy đánh đuổi Hoằng Dụ, nắm lấy quyền trong triều.


Mạc Đăng Dung thấy uy quyền của Chân lớn liền kêt thông gia với Chân, cho con gái Chân lấy con trai cả mình là Mạc Đăng Doanh.


Năm 1518, Lê Chiêu Tông nghe lời gièm pha, sợ quy quyền của Trần Chân nên sai người giết Chân. Thủ hạ của Chân là Nguyễn Kính nổi loạn. Bấy giờ Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương. Chiêu Tông bèn triệu Mạc Đăng Dung và Nguyễn Hoằng Dụ về cứu giá. Hoằng Dụ đánh bị thua chạy về Thanh Hóa rồi chết. Đăng Dung một mình nhân cầm quân dẹp loạn mà nắm hết quyền bính.


Năm 1521, Mạc Đăng Dung chiêu hàng được Nguyễn Kính, dẹp được Trần Cung (con Trần Cảo), quyền thế át cả Chiêu Tông. Chiêu Tông sợ chạy ra ngoài gọi quân Cần vương. Đăng Dung bèn lập em Chiêu Tông là Xuân lên ngôi, tức là Lê Cung Hoàng, tuyên bố phế truất Chiêu Tông.


Vua Chiêu Tông được các tướng Hà Phi Chuẩn, Đàm Thận Huy, Lê Đình Tú về cứu, thanh thế rất lớn. Nhưng sau đó Trịnh Tuy ở Thanh Hóa ra cần vương, các tướng bất hoà. Trịnh Tuy tranh công mang Chiêu Tông vào Thanh Hoá, ra lệnh các đạo bãi binh, từ đó các tướng không theo Chiêu Tông nữa.


Năm 1523, Mạc Đăng Dung nhân phe Chiêu Tông yếu thế, điều quân đánh Thanh Hoá. Năm 1524, Trịnh Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết. Đăng Dung được phong làm Bình chương quân quốc trọng sự thái phó Nhân quốc công. Năm 1525, Mạc Đăng Dung bắt được Chiêu Tông mang về Thăng Long và giết chết năm 1526.


Năm 1527, ông được phong làm An Hưng Vương. Các đối thủ đều bị dẹp yên, không còn ai ngăn trở, tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất Cung Hoàng lên ngôi, lập ra nhà Mạc. Chiếu nhường ngôi của Lê Cung Hoàng cho Mạc Đăng Dung có đoạn viết: "Từ cuối đời Hồng Thuận gặp lúc Quốc gia nhiều nạn, Trịnh trung lập kẻ nghịch lên ngôi, lòng người lìa tan, trời cũng không giúp, lúc ấy thiên hạ đã không phải của nhà Lê vậy. Ta (Cung đế) bạc đức nối ngôi không thể gánh nổi, mệnh trời và lòng người hướng về người có đức. Vậy nay Thái Sư An Hưng Vương Mạc Đăng Dung là người trí đức, tư chất thông minh, đủ tài văn võ, bên ngoài đánh dẹp, bốn phương đều phục, bên trong trị nước thiên hạ yên vui, công đức rất lớn lao, trời người đều qui phục, nay theo lẽ phải nhường ngôi cho..”.


Làm vua: Ông lên làm vua từ ngày 15 tháng 6 âm lịch năm 1527 đến hết năm 1529 với niên hiệu Minh Đức. Sau đó, học theo nhà Trần, nhường ngôi cho con là Mạc Đăng Doanh (tức Mạc Thái Tông) để lui về làm Thái thượng hoàng.


Do thời gian làm vua rất ngắn, không để lại nhiều dấu ấn gì ngoài một số việc như: cho đúc tiền Thông Bảo,truy tôn Mạc Đĩnh Chi là Kiến Thủy Khâm Ninh Văn Hoàng Đế,xây cung điện ở Cổ Trai (nay thuộc Kiến Thụy, Hải Phòng),lấy Hải Dương làm Dương Kinh,tổ chức thi tuyển chọn người có tài (thi Hội năm 1529), cũng như sửa định binh chế, điền chế, lộc chế và đặt các vệ-phủ, các vệ sở trong ngoài, các ty sở thuộc, hiệu ty, tên quan và số lại viên, số người, số lính của các nha môn, nhưng vẫn phỏng theo quan chế triều trước với bổ sung không đáng kể nên người ta biết đến ông phần nhiều như là một người tiếm ngôi, mặc dù trong giai đoạn từ đời Lê Uy Mục đến đời Lê Cung Hoàng thì nhà Hậu Lê đã cực kỳ suy tàn, khởi nghĩa và nổi loạn nổi lên ở nhiều nơi, triều chính thối nát dẫn đến việc các ông vua này phải dựa vào thế lực ngày càng tăng của Mạc Đăng Dung nhằm duy trì quyền lực đã gần như không còn của mình và cuối cùng là việc phải nhường ngôi cho ông.


Năm 1540, Mạc Thái Tông mất, Đăng Dung lập cháu nội là Mạc Phúc Hải lên ngôi, tức là Mạc Hiến Tông.


Quan hệ với nhà Minh: Các bộ chính sử thời phong kiến của Việt Nam như Toàn thư, Cương mục đều viết về hai sự kiện Mạc Đăng Dung cắt đất cho nhà Minh.


Năm 1528. Theo Đại Việt sử ký toàn thư: Năm 1528, cắt đất dâng nhân dân hai châu Quy, Thuận và hai tượng người bằng vàng và bạc cùng châu báu, của lạ, vật lạ. Vua Minh thu nhận.


Trong Cương mục cũng đặt vấn đề nghi ngờ về sự việc năm 1528 mà Toàn thư đã chép. Cũng nên lưu ý rằng Toàn thư là do các quần thần nhà Hậu Lê viết ra nên có thể không chính xác. Các sử gia ngày nay xác định rõ rằng hai châu Quy Hoá và Thuận An đã mất sang tay nhà Tống từ thời nhà Lý, do hai thủ lĩnh Nùng Trí Hội và Nùng Trí Cao nộp cho Tống[7].


Đầu hàng năm 1540. Cũng theo Toàn thư: [năm] 1540... tháng 11, Mạc Đăng Dung... qua trấn Nam Quan... phủ phục trước mạc phủ của quân Minh quỳ gối, cúi đầu dâng tờ biểu đầu hàng, nộp hết sổ sách về đất đai, quân dân và quan chức cả nước... dâng các động Tê Phù, Kim Lặc, Cổ Sâm, Liễu Cát, An Lương, La Phù của châu Vĩnh An trấn Yên Quảng, xin cho nội thuộc vào Khâm Châu... Lại sai bọn... mang biểu đầu hàng sang Yên Kinh (Sử ký) nhưng về việc này có mâu thuẫn với sách Khâm Châu chí của nhà ThanhQuảng Yên sách.


Về sự việc cắt đất này, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Việc cắt đất bị nhiều sử gia về sau lên án gay gắt, nhưng cũng có ý kiến cho rằng ông làm thế là khôn khéo nhất, vì cùng một lúc không thể chia sẻ lực lượng ra để chống lại hai thế lực: nhà Minh ở phía bắc, liên minh Lê - Nguyễn ở phía nam[8][9].


Trên thực tế, điều này (dù có hay không) đã ngăn không cho nhà Minh đem quân vào Đại Việt và kể từ sau khi ông mất thì cháu ông, Mạc Phúc Hải vẫn là người có toàn quyền tối cao điều hành đất nước từ địa phận Ninh Bình ngày nay trở ra.


Đến thế kỷ 19, học giả Nguyễn Văn Siêu, tác giả sách Phương Đình Dư Địa chí, đã thay đổi cách nhìn nhận về vấn đề này. Sau khi khảo cứu các sách địa lý Trung Quốc và Việt Nam, Nguyễn Văn Siêu kết luận[10]: Mấy động Như Tích thuộc châu Vĩnh An mới có từ niên hiệu Thuận Thiên. Nhà Mạc trả lại cho nhà Minh đất cũ đã lấn, không phải là cắt đất để đút lót vậy.


Các sử gia ngày nay có quan điểm thống nhất với Nguyễn Văn Siêu[11].


Tác giả Trần Gia Phụng trong bài viết: "Những cuộc đổi họ lớn trong lịch sử" có đoạn bình luận xác đáng về sự kiện đầu hàng nhà Minh của Mạc Thái Tổ: "Năm 1533,... Lê Trang Tông sai Trịnh Duy Liễu cùng hơn 10 người đi đường biển từ Chiêm Thành theo thuyền buôn Quảng Đông tới Trung Hoa xin thỉnh cầu nhà Minh xuất quân đánh nhà Mạc. Năm 1536 một lần nữa Lê Trang Tông sai Trịnh Viên yêu cầu nhà Minh đánh họ Mạc. Hành động của vua Lê, kêu gọi người nước ngoài về đánh nước mình, trong đó có ý kiến cố vấn của Nguyễn Kim, không bị một sử gia nào lên án. Việc làm nầy đưa đến kết quả cụ thể là nhà Minh cử Cừu Loan làm tổng đốc, Mao Bá Ôn làm tán lý quân vụ đem binh mã sang ải Nam Quan năm 1540. Ngược lại, trong thế yếu, muốn tránh một cuộc chiến mà mình nắm chắc phần thất bại, đồng thời dân Việt sẽ một lần nữa bị đặt dưới ách thống trị trực tiếp của ngoại nhân như thời Mộc Thạnh, Trương Phụ, Mạc Thái Tổ, lúc đó đã lên làm thái thượng hoàng, đành chấp nhận đầu hàng và chấp nhận hy sinh danh dự cá nhân, lên ải Nam Quan (Lạng Sơn) chịu nhục. Nhờ sự nhẫn nhục của Mạc Thái Tổ,... Đại Việt trên danh nghĩa là lệ thuộc Trung Hoa, nhưng trong thực tế vẫn độc lập một phương, vua Mạc vẫn cai trị đất đai từ Lạng Sơn trở xuống, đâu có viên tướng Tàu nào bén mảng sang cai trị. Ai cũng bảo Mạc Đăng Dung đầu hàng nhà Minh vì quyền lợi gia đình họ Mạc, nhưng giả thiết, một giả thiết không bao giờ có thể quay lại được, Mạc Đăng Dung chống cự quân Minh như họ Hồ, nước ta bị tái đô hộ, thì nhân dân ta còn khổ biết bao nhiêu nữa. Đàng này, Mạc Đăng Dung một mình chịu nhục cho trăm họ bình yên. Người ta ưa ca tụng Hàn Tín khi nghèo khổ đã lòn trôn tên bán thịt chợ Hoài Âm (Trung Hoa) như là một gương nhẫn nhục đáng noi theo, nhưng chẳng một ai chịu chia sẻ với nỗi nhẫn nhục vĩ đại của Mạc Đăng Dung. Mạc Đăng Dung rất buồn tủi về sự kiện Nam Quan (Lạng Sơn) nên về nhà chưa được một năm, ông nhuốm bệnh từ trần năm 1541”.


Đi xa hơn nữa, tác giả còn so sánh hành động này của Mạc Đăng Dung với vua Lê sau ngày trung hưng về Thăng Long: (Theo Việt sử Thông giám cương mục,) "sau khi trở về Thăng Long, năm 1596 vua Lê Thế Tông (trị vì 1573-1599) cử người đem hình dạng hai quả ấn của nhà Mạc và vua Lê lên Nam Quan cho đại diện nhà Minh khám xét, nhưng quan nhà Minh không chịu, bắt vua Lê phải thân hành đến gặp. Vua Lê phải chấp hành, nhưng khi đến nơi đợi lâu quá không được gặp quan nhà Minh, vua Lê đành trở về, rồi năm sau (1597) lên một lần nữa mới được hội kiến. Sự kiện nầy chẳng khá gì hơn việc Mạc Đăng Dung lên Nam Quan năm 1540..”.


Học giả Trần Trọng Kim thì lên án Mạc Đăng Dung như sau[12]: "Mạc Đăng Dung đã làm tôi nhà Lê mà lại giết vua để cướp lấy ngôi, ấy là một người nghịch thần; đã làm chủ một nước mà không giữ lấy bờ cõi, lại đem cắt đất mà dâng cho người, ấy là một người phản quốc. Làm ông vua mà không giữ được cái danh giá cho trọn vẹn, đến nỗi phải cởi trần ra trói mình lại, đi đến quì lạy ở trước cửa một người tướng của quân nghịch để cầu lấy cái phú quý cho một thân mình và một nhà mình, ấy là một người không biết liêm sỉ”.


Qua đời: Năm 1541, thượng hoàng Mạc Đăng Dung qua đời, thọ 59 tuổi. Trước khi mất ông có để lại di chúc không làm đàn chay cúng Phật và khuyên Mạc Phúc Hải phải nhanh chóng về kinh sư để trấn an nhân tâm và xã tắc là trọng.


Đời sau nhìn nhận: Mạc Đăng Dung là một trong những nhân vật gây nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Việt Nam. Những nhân vật kiểu như Mạc Đăng Dung (hay Trần Thủ ĐộHồ Quý Ly thường xuất hiện trong lịch sử Trung Hoa hơn là Việt Nam. Sử sách triều Lê-Trịnh và triều Nguyễn sau này vốn luôn lên án Mạc Đăng Dung là “thoán nghịch” hay “nghịch thần” đồng thời coi nhà Mạc là “ngụy triều” nhưng cũng phải ghi lại một thực tế lịch sử khi Mạc Đăng Dung lên ngôi là “bấy giờ thần dân trong nước đều theo Mạc Đăng Dung, đến đón vào kinh sư” (Đại Việt sử ký toàn thư, tr.118) hay “lúc này thần dân phần nhiều xu hướng về Đăng Dung, đều ra đón về kinh đô” (Đại Việt thông sử, tr.264). Nhưng dù có khen chê hay định đoạt công tội của Mạc Đăng Dung thì người ta cũng phải thừa nhận ông là một người có tài thao lược, trí dũng hơn người (chỉ trong khoảng 10 năm đã dẹp yên hầu hết các cuộc nổi loạn của nhiều phe phái, thế lực cát cứ khắp nước), là một tay anh hùng lập thân trong thời đại loạn như Đinh Tiên Hoàng thuở trước (xuất thân hàn vi từ tay không mà dựng nên đế nghiệp), là người có sức thu phục nhân tâm lớn (thu phục đại bộ phận lòng dân trong nước, chiêu nạp dưới trướng nhiều tướng lĩnh có tài và trung thành như Nguyễn Kính, Vũ Hộ, Phạm Tử Nghi...), là người dám hy sinh cả danh dự cá nhân vì đại cục quốc gia (đây là hành động thường thấy trong lịch sử Trung Quốc nhiều thời kỳ nhưng gần như không thấy gặp trong lịch sử Việt Nam ở những thời điểm then chốt).


Một điều nữa khiến Mạc Đăng Dung được các sử gia sau này đánh giá cao là ở cách đối nhân xử thế của ông. Khi Mạc Đăng Dung phế bỏ nhà Lê sơ để lên ngôi, ông đã không thi hành một cuộc tàn sát hay tắm máu nào đối với con cháu nhà Lê và những người trung thành với cựu triều bởi những cuộc thanh trừng có hệ thống đã từng xảy ra khi nhà Trần lên thay nhà Lý, nhà Hồ lên thay nhà Trần trước đó. Đối với những di sản kiến trúc-văn hóa của nhà Lê sơ tại Thăng LongThanh Hóa, Mạc Đăng Dung cũng không xâm phạm hay tàn phá, mà còn cho tu bổ lại các công trình như nhà Quốc Tử Giám ở Thăng Long và lăng mộ các đời vua Lê tại Lam Kinh (Thanh Hóa). Đây cũng được coi là việc làm hiếm thấy trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam bởi triều đại mới lên thường xóa bỏ hay phá hủy những gì được coi là “tàn tích” của triều đại cũ cho dù nhiều “tàn tích” trong số đó có ý nghĩa tiến bộ về lịch sử đi chăng nữa. Điểm “đặc biệt” cuối cùng trong cách hành xử của Mạc Đăng Dung là ở khả năng dùng người và trọng đãi nhân tài của ông. Một bộ phận lớn quan lại, đại thần của triều cũ (Lê sơ) vẫn được tin dùng và trao giữ những chức vụ quan trọng dưới triều Mạc. Nhiều nhà nghiên cứu hiện đại cho rằng sở dĩ Mạc Đăng Dung có cách hành xử linh hoạt, cởi mở như vậy là do ông xuất thân ở vùng biển nơi cư dân có cái nhìn thực tế, hướng ngoại và ít bị ràng buộc bởi những tư tưởng bảo thủ truyền thống như những cư dân trong nội địa vốn chủ yếu sống bằng nông nghiệp vào thời đó. Bởi vậy mà cho tới cuối thời Lê Trung Hưng, trong sách Vũ trung tùy bút tác giả Phạm Đình Hổ đã viết: “cái đức chính của thời Minh Đức (niên hiệu của Mạc Thái Tổ) và Đại Chính (niên hiệu của Mạc Thái Tông) nhà Mạc vẫn còn cố kết ở lòng người chưa quên. Vậy nên thời vận đã về nhà Lê mà lòng người hướng theo nhà Mạc vẫn chưa hết..”.


Định nam đao. Thanh long đao của Mạc Thái Tổ (còn được gọi là Định nam đao) được nhiều nhà nghiên cứu lịch sử và khảo cổ ở Việt Nam khẳng định là binh khí duy nhất của một danh tướng cũng như một vị vua dưới thời phong kiến Việt Nam vẫn còn lưu lại đến ngày nay. Năm 2010, thanh long đao này đã được con cháu họ Phạm gốc MạcNam Định đưa về lưu thờ và trưng bày ở Khu tưởng niệm Vương triều Mạc tại xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng (nơi là trung tâm của Dương Kinh thời Mạc ở thế kỷ 16). Trải qua hơn 500 năm tuổi và 90 năm bị ăn mòn do chôn giấu dưới lòng đất nhưng cơ bản thanh long đao vẫn giữ được hình dạng và kích thước không khác mấy lúc ban đầu dù bị sứt mẻ và gỉ sét ở nhiều chỗ.


Năm 1986, nhà sử học Lê Xuân Quang (người Nam Trực, Nam Định), hội viên Hội Khoa học lịch sử Việt Nam trong quá trình tìm hiểu về hậu duệ vương triều Mạc trên đất Hà Nam Ninh cũng là nhà nghiên cứu đầu tiên ở Việt Nam tìm hiểu chi tiết về thanh long đao. Ông đã xin phép con cháu họ Phạm gốc Mạc được trực tiếp cân đong, đo đếm một cách tỉ mẩn thanh long đao và ghi lại trong bản báo cáo như sau: “Thanh long đao của Mạc Thái Tổ dài 2,55m, cân nặng 25,6kg, lưỡi đao dài 0,95m, cán đao bằng sắt rỗng dài 1,60m. Một hình đầu rồng bằng đồng thau che kín phần cuối lưỡi đao tiếp vào cán đao thay thế cho khâu đao (trông như thể đầu rồng đang há miệng nuốt lấy lưỡi đao), chỗ hình đầu rồng có "cá" chốt chặt lưỡi đao vào cán đao”. Nhiều chuyên gia về binh khí cổ ở Việt Nam cho rằng thanh long đao (Định nam đao của Mạc Thái Tổ) lúc ban đầu khi chưa bị gỉ sét có thể cân nặng không dưới 30 kg. Thanh đại đao này cũng được xem là một trong hai thanh long đao của một vị quân vương ở châu Á còn tồn tại đến nay và được lưu thờ là vật thái bảo. Thanh long đao còn lại là của Tống Thái Tổ (Triệu Khuông Dẫn), vua sáng lập ra nhà Bắc Tống. Cũng có nhiều đánh giá khẳng định thanh Định nam đao của Mạc Thái Tổ (Mạc Đăng Dung) nặng hơn hai thanh long đao của Triệu Khuông Dẫn và của Ngô Tam Quế (hiện được trưng bày tại bảo tàng tỉnh Vân Nam ở thành phố Côn Minh của Trung Quốc) đồng thời cân nặng không kém mấy so với thanh long đao yển nguyệt của Quan Vũ thời Tam Quốc (theo tác giả La Quán Trung trong tiểu thuyết Tam Quốc Diễn Nghĩa thì long đao yển nguyệt của Quan Vũ cân nặng 82 cân thời Hán tức là khoảng 37 kg thời nay).


Con cháu: Mạc Đăng Doanh, Mạc Phúc Hải, Mạc Phúc Nguyên, Mạc Mậu Hợp


____


1.     ^ Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr 511


2.     ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 232


3.     ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 233


4.     ^ a b Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 235


5.     ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 237


6.     ^ Viện Sử học (1996), sách đã dẫn, tr 232-233


7.     ^ Nhiều tác giả, sách đã dẫn, tr 34


8.     ^ Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr 448


9.     ^ Nhiều tác giả, sách đã dẫn, tr 93


10.  ^ Viện Sử học (2007), sách đã dẫn, tr 448-449


11.  ^ Nhiều tác giả, sách đã dẫn, tr 98


12.  ^ Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, Bô Giáo dục - Trung tâm học liệu xuất bản, tr 229.


Wikipedia


Cội nguồn của dòng họ Mạc


Xưa Trịnh Tiều viết Thông Chí lược có ghi rõ dòng họ. Ta ngờ họ Mạc bắt nguồn từ họ Mạc ( ), khởi đầu từ con cháu "cửu quan" thời Đường Ngu, hỏi thì không có căn cứ nào để khảo được.


Nay là tháng 9 mùa thu năm Quý Sửu, niên hiệu Vạn Lịch năm thứ 41 (1613), các ông họ Mạc là Ứng Dương, Hồng Trinh, Long Tích, Tuấn Minh đều là người nổi tiếng trong huyện, họp người trong họ, tu sửa phần mộ tổ tiên, kể lại thế thứ, rồi đem cho ta xem. Ta nghĩ họ Mạc vốn là họ Cơ. Cuối đời Chu bị ly tán đến đời Tần, Hán có người dời đến Cự Lộc làm quan đến Chấp kích, ăn thực ấp ở đất Mạc nên lấy tên đất là tên họ là Mạc(1). Nay huyện Nhiệm Khâu, phủ Hà Giản là huyện Mạc ngày xưa vậy, cũng gọi là Mạc Châu, dấu tích xưa vẫn còn, họ Mạc bắt đầu từ đó. Đến năm Đại Lịch, Mạc Tang làm Bắc bộ Viên ngoại lang, sau dời đến ngõ Châu Cơ, thôn Kim Lũ đất Phong Châu.


Đến năm Đại Trung thứ năm đời Đường (660) thì có ngài Trạng nguyên Mạc Tuyên Khanh là người đỗ đạt đầu tiên ở đất Lĩnh Nam. Kế đó có Tấn thứ sử rồi đến Như Tùng. Năm Thiên Thành thứ 3 đời Đường Minh Tông vì có tài văn học được vời làm Trung thư kiêm Thị giảng học sĩ. Kế đó có Hữu Hoài, quan biệt giá bắt đầu ra ở đất Lăng Thủy thuộc Nam Hùng.


Đến đời Cảnh Hựu (1038) triều Tống Nhân Tông thì có cụ Vĩnh Xương đỗ Tiến sĩ làm Học huấn Quảng Châu, do đó làm nhà ở cầu Thanh Phong, thành Quảng Châu, sinh được 3 con trai: con cả là Ngu, con thứ là Lỗ, con thứ ba là Độn. Cụ Ngu làm trực giảng ở Vương phủ. Con cháu dời đến đất Vĩ Tụng thuộc Phiên Ngung (nay là tỉnh Quảng Châu)(2). Còn con cháu cụ Lỗ vì có Dương hầu tàn ngược nên nhà cửa bị tàn phá đổ nát. Cụ Độn ra Thất An và cụ Lỗ do đó dời đến ở thôn Lỗ. Con của cụ Độn là Mạc Vi dời đến ở thôn Tiều Lợi, huyện Đông Hoãn, khi ấy cụ dâng thư hiến kế sách góp thóc giúp việc biên cương, được phong là Phụng nghị đại phu, lấy bà Nghi nhân Trần Thị Nam. Cụ mất năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Thiệu Hưng thứ 22 đời Tống Cao Tông. Chôn ở gò Thánh Nương, Trà Linh huyện Đông Hoãn, hợp táng với cụ bà Trần thị. Đó là Thủy tổ họ Mạc dời đến trong ấp.


Sau này, 7 người con chia thành 7 chi. Con cả ở Tiều Lợi. Con thứ ở thôn Đại Đao thuộc cửa khẩu Thạch Thủy. Con thứ ba từ Tiều Lợi dời đến ở gò Long Vĩ thuộc Lỗ Thành, vợ là Chu thị, sinh được 2 con trai, con cả là Văn Hoán, con thứ là Văn Quang. Vợ Quang là Lý thị sinh ra Tổng Cán. Dời đến ở Quan Điền, vợ là Tiết thị, sinh được 3 con: con cả là Thượng Tuấn, con thứ là Thượng Đạt, con thứ ba là Thượng Hiền. Tuấn vẫn ở Quan Điền, Hiền dời đến đất Cổ Thiệp, Đạt dời đến ở Thạch Vĩ, tức thôn Mạc ốc. Vợ cụ Thượng Đạt là Dương thị, sinh được 2 con. Con trưởng là Khắc Xương, con thứ là Khắc Phát. Vợ cụ Khắc Phát là Hà thị sinh được 2 con. Con trưởng là Bản Trinh, con thứ là Bản Tường. Cụ Tường sinh được 4 con: Kính Hoà, Kính Đức, Kính Nghiệp, Kính Hiền.


Nay ghi bài tựa này để con cháu đời đời chớ có thay đổi, để biết ngọn ngành nguồn gốc của họ Mạc vậy.


- Thủy tổ cụ Tuyên Khanh đỗ Trạng nguyên năm Đại Trung thứ 5 đời Đường.


- Tổ đời thứ hai là cụ Tấn làm quan Biệt giá Hoài Châu.


- Tổ đời thứ ba là cụ Như Tùng làm Đoạn Minh điện đại học sĩ Đường Minh Tông.


Truyền đến đời thứ 22 thì đến cụ tổ là Đại Luân, tự là Đôn Nhân, dời sang ở Hà Nội nước Đại Nam.(3)


Người dịch: TS Hoàng Văn Lâu


_____


(1) Việc này có từ thời thượng cổ cách nay trên 4000 năm, như vua Nghiêu được phong đất Đào huyện (thuộc tỉnh Sơn Đông ngày nay) rồi sau rời sang đất Đường huyện (thuộc tỉnh Hà Bắc) nên được gọi là Đào Đường thị - Con cháu vua nghiêu người thì lấy họ Đào, người thì lấy họ Đường.


Cho nên việc họ Cơ đổi sang họ Mạc cũng là việc bình thường. Sau này phái hệ họ Mạc ở Nghệ An có chi đổi ra họ Thái cũng theo tiền lệ đó.


(2) Theo Thi Nham Đinh Gia Thuyết thì con cháu cụ Mạc Ngu sau dời sang Lũng Động, huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương (nay là thôn Long Động, xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương), đến cụ Mạc Hiển Tích đỗ Nhất giáp Tiến sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Quảng Hựu triều Lý (1086), tức là Thủy Tổ nhà Mạc ở nước Nam. [Điều này cắt nghĩa tại sao gốm Chu Đậu -ở xã Nam Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, quê gốc nhà Mạc- đã bị diệt tuyệt nghề. Dòng gốm sứ này có thể đã được hình thành và phát triển trong khoảng từ thế kỷ 13 đến thế kỷ 18. Có nguồn nói, nó bị hủy diệt do chiến tranh Lê-Mạc cuối thế kỷ 16. Chúa Trịnh sau khi đánh bật Nhà Mạc khỏi Thăng Long, đã tiến hành trả thù tàn bạo con cháu, quê hương nhà Mạc.- TX].


(3) Bài tựa thế phả họ Mạc này được chép trong cuốn Mạc thị thế phả hợp biên gồm 48 tờ giấy khổ 13 x 24cm. Bìa ngoài phết cậy, bìa trong là giấy hồng điều. Sách viết chữ Hán chân phương đẹp. Sách đã bị mối xông lỗ chỗ, một số dòng bị xóa và sửa bổ sung. Sách do một người cháu xa là Ngọc Thu ghi chép vào năm Thành Thái, tháng 7 Kỷ Hợi (1899) trong đó có các bài tựa phả của họ Mạc ở Lũng Động, họ Lều ở Nhị Khê... và các bài ký, câu đối, liệt vị tiên linh. - TS Hoàng Văn Lâu.


Việc cải đổi danh tính họ Mạc


Sự hưng vong của một dòng họ, một gia tộc có liên quan tới lịch sử thăng trầm của một đất nước.


Ở đây tôi không đi sâu vào thời gian vàng son của họ Mạc, mà muốn đề cập tới họ Mạc vào giai đoạn suy vong, phải di cư nhiều nơi, phải đổi họ tên để tồn tại và phát triển.


Sau cái mốc thời gian năm 1592, Trịnh Tùng chiếm lại Thăng Long thì một chiến dịch truy sát họ Mạc đã diễn ra. Trong Đại Việt thông sử, Lê Quý Đôn ghi: “Bình An vương (Trịnh Tùng) giết hết bọn ngụy đảng, đem quân phá hết cung điện ở Cổ Trai, hủy bia ở mộ, chặt hết cây trồng trong lăng. Đó là tỏ sự truy phạt vậy”. Họ Trịnh đã hành hình Mạc Hồng Ninh rất tàn nhẫn, đưa ra phía nam cửa doanh xử lăng trì (dùng voi xé xác), đóng đinh vào mắt, chặt và bêu đầu, rồi đem thủ cấp hiến hoàng đế ở hành tại Vạn Lại xứ Thanh Hóa.


Để xóa bỏ đối thủ của mình, uy hiếp con cháu họ Mạc để làm tiêu tan ý chí phục thù rửa hận và tránh được hậu họa về sau, chúa Trịnh đã giết một lúc hơn 60 người họ Mạc, thây chết đầy bờ cát, tạo ra bầu không khí nặng nề ghê sợ. Điều này khiến cho có những thân vương nhà Mạc tin rằng, đại cục không cứu vãn được sự tự sát cũng như sự trấn áp uy bức của họ Trịnh, dẫn tới chỗ này xưng vương, chỗ khác khởi loạn (Mạc Kính Chỉ ở Đông Triều, Mạc Kính Cung ở Văn Chẩn, Mạc Kính Chương ở An Quảng, Mạc Kính Khoan ở Cao Bằng…).


Con cháu họ hàng nhà Mạc phải li tán, mai danh ẩn tích, ở nhiều vùng, nhiều miền đất lạ, đổi thành nhiều họ, hoặc theo họ mẹ, hoặc theo họ của bố nuôi, hoặc theo họ của địa phương cư trú, hoặc theo điều kiện sinh hoạt… nhưng đều giữ một quy ước chung để sau này tìm nhau. Quy ước đó có nơi ghi rõ trong giai phả, có nơi chỉ truyền miệng. Đó là “khử túc bất khử thủ” (bỏ chân không bỏ đầu). Ví như chữ Mạc bỏ nét ngang ở chữ Đại dưới chân, đưa lên thành chữ Hoàng, tức là bộ thảo đầu vẫn giữ. Đó là dùng chữ Đăng làm tên đệm, ví như: Hoàng Đăng…, Thạch Đăng… Quy ước thứ hai này về sau cũng không bắt buộc giữ vì lẽ đó.


Dương Bá Cung viết Lều thị thế phả năm Tự Đức thứ 6 (1853) có ghi: “…Tổ tiên họ Mạc, đến đầu thời Lê Trung Hưng đổi thành họ Lều, giữ lại bộ thảo đầu sợ lẫn với họ khác…”. Cũng phả đó cho biết còn họ Khương, họ Hoàng, họ Vũ, họ Phạm lưu lạc chuyển đổi không xét được. Tại nhà thờ họ Lều ở Nhị Khê, Thượng Phúc, Thường Tín (nay thuộc Hà Tây), ngoài phả trên còn có từ đường cất giữ nhiều hoành phi, câu đối. Một trong số câu đối đó có một câu mà dòng họ này cho là tiên tri:


Tứ bách niên tiền chung phục thủy


Thập tam thế hậu dị nhi đồng


Dịch là:


Bốn trăm năm trước, cuối cùng trở lại như ban đầu


Mười ba đời sau, khác biệt mà vẫn cùng chung.


Các họ mà phả này nhắc đến, chúng tôi cũng đã tìm ra, đối chiếu đều ăn khớp. Xin đơn cử như họ Phạm ở Thanh Đặng, Văn Giang (nay thuộc Minh Hải, Mỹ Văn, Hải Hưng) có nói đến một chút ở xã An Lưu, huyện Giáp Sơn đổi thành họ Nguyễn. Còn lại ở Thanh Đặng thì: “Lúc này, họ Trịnh chuyên quyền nên đổi ra họ Phạm để làm mờ dấu tích, giống như họ Thúc, họ Châu thời Xuân Thu, sau là họ Chu vì giữ lại nét chữ bên cạnh. Nhà ta lấy họ Phạm cũng suy ra từ ấy mà giữ nét chữ ở bộ thảo”.


1. Họ Phạm ở 3 tỉnh: Hải Hưng, Bắc Giang (Xuân Đán, Thanh Chương, huyện Yên Dũng) và Nam Hà (Kiên Lao, Ngọc Tĩnh, Hoàng Tứ thuộc huyện Xuân Thủy).


Tộc phả của họ Phạm ở Nam Hà cho biết, từ Dương Kinh (tức Cổ Trai) ra đi năm 1652 di cư đến Cồn Lau, Cồn Kiên thuộc phủ Thiên Trường. Người ra đi là Mạc Đăng Thận (cháu bốn đời của Mạc Thái Tổ), đi bằng thuyền giả lái buôn thăm dò thấy yên ổn mới định cư tại đó. Khi đi mang theo kỷ vật là Thanh long đao của Mạc Thái Tổ. Thanh long đao này nặng 25,6 kg, dài 2,55 m (phần cán là 1,6 m, phần lưỡi 0,9 m), cán rỗng, có chốt ở đốc đao… hiện còn để tại nhà thờ họ.


Mạc Đăng Thận đổi thành Phạm Đình Trú. Sau có 3 chi. Con cháu họ này vẫn phát huy được truyền thống võ; nhiều vị được phong tước hầu, tước bá (Vạn Sơn hầu, Quảng Đình hầu, Dật Sử hầu, Viên Hùng bá…); nhiều vị được phong là Phúc thần thờ ở các xã; có vị đã khai khẩn được 700 mẫu ruộng cung cấp cho dân vùng đó.


Khu tưởng niệm Vương triều nhà Mạc (thôn Cổ Trai, xã Ngũ Đoan, huyện Kiến Thụy, TP Hải Phòng - quê hương của Mạc Đăng Dung), khánh thành ngày 25/12/2010.


2. Họ Lều ở Nhị Khê, Thượng Phúc (nay là Thường Tín, Hà Tây) còn từ đường, phả chép trên lụa, ghi được 13 đời. Vị trở về đây là Mạc Phúc Trì. Con cháu dòng họ này có người được phong Hồng lô và Quang lộc đại phu. Trước khi thành lập Đảng cộng sản Đông Dương, có Lều Thọ Nam từ 1926 đã tham gia chi hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng đầu tiên ở Hà Nội, và đầu 1928 đã đi “vô sản hóa” ở xí nghiệp sửa chữa ô tô Trường Xuân, rồi đi dự hội nghị thành lập Đảng cộng sản Đông Dương tại Hà Nội. Lều Thọ Nam là thành ủy viên phụ trách học sinh. Năm 1930 bị địch bắt cùng với Đinh Xuân Nhạ, Đặng Xuân Khu, Nguyễn Ngọc Vũ…


3. Họ Bùi ở Quất Động, Thượng Phúc (nay là Thường Tín, Hà Tây). Người di tản về đây là Mạc Phúc Đăng (con cháu Mạc Phúc Hải) đổi ra họ Bùi là họ mẹ (Bùi Thị Ban). Nơi đây có mộ của Mạc Phúc Hải, còn từ đường, con cháu vẫn giữ được truyền thống cách mạng. Họ này có Bùi Quốc Khái đi sứ có công được phong tặng rất hậu: Công bộ Thượng thư, được mang quốc tính, tức (Lê Công Thanh) ông tổ của nghề thêu. Hiện nay có Bùi Trần Chuyên, thành ủy viên Hà Nội đã nghỉ hưu.


4. Họ Nguyễn ở 3 tỉnh: Hải Hưng (An Lưu, Phù Lưu huyện Giáp Sơn); ở Hà Tây (Phú Xuyên); ở Thái Bình (Nguyên Xá).


5. Họ Hà ở Thái Bình (Tiên Hùng) từ chi họ Nguyễn trên đổi họ.


6. Họ Vũ ở Thái Bình (Đông Hưng) từ chi họ Bùi đổi sang.


7. Họ Lê Đăng ở Hà Bắc (Phù Khê, Tiên Sơn, Phương La, Yên Phong).


8. Họ Thạch ở Hà Nội (Ninh Hiệp, Gia Lâm; Đình Xuyên, Gia Lâm).


9. Họ Hoa ở Hải Phòng (An Hải) sau đổi là họ Khoa vì kiêng húy.


10. Họ Hoàng ở 5 tỉnh: Hà Tây (Cần Xá, Quốc Oai); Nam Hà (Đô Hoàng, Ý Yên) chi họ Hoàng ở Nam Hà có Hoàng Minh Giám tức Chu Thiên (tác giả Bóng nước Hồ Gươm), có Nhượng Tống viết báo Nam Thành, Hồn Cách mạng, Thực nghiệp dân báo… trước cách mạng. Đời thứ 6 có người đổi ra họ Vũ.


Vào Thanh Hóa (Hoàng Giang, Nông Cống), Mạc Đăng Khuê đổi ra Hoàng Phúc Khê lập ra ấp Thổ Ngỏa, xây chùa, khai hoang. Con cháu sau này có Hoàng Thế Bảo, lão thành cách mạng đã đưa Tổng Bí thư Đảng Đông Dương Nguyễn Văn Cừ vào nam hoạt động. Ở Nghệ An, từ cụ Mạc Đăng Lượng đổi ra là Hoàng Đăng Quang và từ Mạc Huyền Trai đổi ra họ Phan, rồi đổi ra họ Hoàng, Quảng Bình (Quảng Ninh, Quảng Trạch) từ Nghệ An vào.


11. Họ Phan ở Nghệ An (Quỳnh Lập, Quỳnh Lưu; Xuân Thành, Yên Thành;...) phái hệ của Mạc Mậu Giang đổi họ từ Huyền Nhai đến đời 15 có Phan Đăng Lưu, ủy viên BCH TƯ ĐCSVN.


12. Họ Thái ở Nghệ An (Diễn Hòa, Diễn Châu) phái hệ Mạc Đăng Bỉnh.


13. Họ Mạc ở hai tỉnh: Hải Hưng (Nam Tân, Nam Thanh); Hải Phòng (Hợp Thành, Thủy Nguyên; Tiên Cường, Tiên Lãng; Cổ Trai, Ngũ Đoan;…). Một dấu hỏi được đặt ra là: Tại sao ở đây vẫn giữ nguyên là họ Mạc? Là vì: Quận chúa Trịnh Thị Nhâm lấy Mạc Đạo Trai (con trai của Mạc Phúc Tư, cháu của Mạc Đăng Doanh) nên không thể “cạn tàu” với thông gia, đó là chưa nói họ Mạc còn có nhiều ưu ái với Trịnh Cối (anh ruột Trịnh Tùng) và phần nào là lòng dân đối với nhà Mạc.


14. Họ Bế ở Cao Bằng (Nà Lự)


15. Họ Ma ở Cao Bằng (Nà Lự)


16. Họ Đào chưa xác định rõ


17. Họ Tô chưa xác định rõ


18. Họ Khương chưa xác định rõ (cho đến tháng 12/1995, Ban liên lạc họ Mạc ở Hà Nội đã nhận được từ 22 tỉnh là 119 chi họ).


19. Họ Đoàn ở xã Lan Mẫu, huyện Lục Nam, Bắc Giang là hậu duệ của Mạc Kính Điểu, Mạc Kính Phu. Mạc Kính Phu tước Đoan Lương công, lấy tước này mà đổi thành Nguyễn Đoan khi về xã Nhân Thắng, huyện Gia Lương, Hà Bắc rồi khi về xã Nhân Hựu, huyện Gia Bình, Hà Bắc đổi thành Đoàn Quang, Đoàn Trác, Đoàn Huy… Gia phả chép năm Minh Mệnh 15 (1835).


Thanh long đao của hoàng đế Mạc Đăng Dung được bảo quản và lưu thờ nhiều thế kỷ tại từ đường họ Phạm gốc Mạc thôn Ngọc Tỉnh, thị trấn Xuân Trường, huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định. Nay, đã được dời về Khu tưởng niệm Vương triều Mạc.


Qua khảo sát Gia phả, Tộc phả, chúng tôi khẳng định được 20 họ kể trên gốc từ họ Mạc. Chúng tôi đã đến hầu khắp các địa điểm có chi họ Mạc trên, điều xúc động đối với chúng tôi là gặp các cụ già trên 80 tuổi. Các cụ kể về việc tầm tông (tìm họ) của cụ những năm cải cách ruộng đất đã đi bộ hàng trăm cây số với cuốn tộc phả gói kỹ đeo bên người và bị bắt giữ. Đó là các cụ ở Yên Dũng, Hà Bắc và Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội). Đến Thủy Nguyên, Hải Phòng nhiều bà con mang họ khác nhưng khi quá cố, về cõi vĩnh hằng thì bia mộ lại ghi họ Mạc. Ở Nam Hà các cụ mong các nhà khoa học sớm minh chuyết cho Mạc Thái Tổ những vấn đề mà Trần Trọng Kim đã viết sai sự thực.


Nhân hội thảo này, tôi xin chuyển đạt điều mong muốn chính đáng của nhiều chi họ gốc Mạc đến quý vị. Con cháu của họ Mạc, dù ngày nay mang họ gì đi nữa, dù ở đâu cũng tiếp tục tìm nhau, xác định họ hàng tổ tông, như dòng sông, con suối đều có ngọn nguồn của nó. Xuân 1994, Giáo sư Viện trưởng Viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh Mạc Đường đã bay ra Hà Nội và tìm đến từ đường họ Thạch ở Ninh Hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) là nơi các chi họ quy ước hàng năm họp mặt lễ tổ, để thắp một nén tâm hương trước bàn thờ tổ. Quá khứ là bài học, hiện tại là định hướng cho tương lai. Từ đó mà giáo dục con cháu phát huy truyền thống của dòng họ, ra sức xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội văn minh…


Kết luận: Việc đổi họ thay tên trong lịch sử Việt Nam ta từ xưa tới nay là chuyện bình thường và có rất nhiều nguyên nhân khác nhau: hoặc vì bán khoán, vì ở rể, vì ngoại hôn, vì làm con nuôi, vì phạm húy, vì được ban họ vua chúa, vì ái mộ, vì mâu thuẫn, vì mục đích hoạt động cách mạng, hoạt động chính trị… Ở đây họ Mạc đổi ra nhiều họ, nguyên nhân chủ yếu là để tránh trả thù; cũng như họ Lý đổi ra họ Nguyễn, họ Trần đổi ra họ Đặng, họ Trịnh đổi ra họ Nguyễn… trong từng giai đoạn lịch sử vậy.


Thông tin của chúng tôi vào thời điểm này, có thể chưa đầy đủ nhưng khá chính xác, đáng tin cậy; mong cung cấp cho các nhà nghiên cứu khoa học có thêm tư liệu tìm hiểu về nguồn gốc các họ từ đâu, đặc điểm, diễn biến theo quan điểm đồng đại lẫn lịch đại, chắc sẽ phần nào bổ ích cho những ai muốn đi sâu về dân tộc học, xã hội học, nhân danh học, gia phả học…


Hoàng Lê


mactrieu.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dấu xưa danh tướng và đình chùa cổ Phú Nhuận - Hồ Tường 30.04.2017
Giữ độc lập cho bầu trời - Mai Thanh Hải 30.04.2017
42 năm thống nhất đất nước (30.4.1975-30.4.2017): Chuyện về giữ sân bay và tìm phi công ở Tân Sơn Nhất - Mai Thanh Hải 30.04.2017
Ủy ban kiểm tra Trung ương đề nghị kỷ luật ông Đinh La Thăng - Nhiều tác giả 27.04.2017
Kết luận về một số sai phạm của lãnh đạo Tập đoàn dầu khí Quốc gia Việt Nam PVC - Tư liệu sưu tầm 27.04.2017
Cuộc tấn công Quyến rũ của Trung Quốc đã kết thúc? - Tư liệu 27.04.2017
Tình cảnh những cựu binh Mỹ trở về từ Việt Nam - Kyle Longley 27.04.2017
Báo cáo về vụ nổi dậy ở Thái Bình 1997 - Tương Lai 27.04.2017
Trao đổi với Giáo sư Phan Huy lê về Sử Việt - Hà Văn Thùy 27.04.2017
Chuyện ít biết về cơn bão từng làm chết 3.000 người ở Sài Gòn - Nhiều tác giả 26.04.2017
xem thêm »