tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19688684
Những bài báo
17.09.2013
Nhiều tác giả
Thương nhớ nhà văn Xuân Thiều



Nhấn chuột vô đây đọc: Tiểu sử nhà văn Xuân Thiều


Ngô Vĩnh Bình:


Tôi có may mắn được ở cùng cơ quan với ông trong tư cách là một sĩ quan dưới quyền, lại là người hàng xóm-nhà tôi và nhà ông đều trên “phố nhà binh” Lý Nam Đế, Hà Nội cho nên ngót nghét ba chục năm qua, ông viết gì dù là một bài thơ, một bài phê bình, tranh luận văn học hay một cuốn tiểu thuyết tôi đều biết và dường như là một trong những người đọc đầu tiên của ông.



Ông xuất hiện trên văn đàn cách nay chừng 50 năm. Khi ấy ông còn là một người lính rất trẻ đang phục vụ ở một đơn vị bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời (phía Bắc sông Bến Hải-Quảng Trị). Tác phẩm đầu tay của ông được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội: Trắng đêm cũng chính là tác phẩm được giải trong cuộc thi “Viết về đời sống bộ đội trong thời bình” do tờ tạp chí này tổ chức. Liền sau đó là truyện ngắn Dưới hầm bí mật của ông lại được Tạp chí Văn nghệ (Hội Văn nghệ Việt Nam) trao giải. Năm đó ông 27 tuổi.


Hai mươi bảy tuổi bước vào làng văn và cho đến trước khi lâm bệnh, tuổi đã ngoại thất tuần ông vẫn nổi tiếng là người viết, đọc và đi khỏe. Thế mới có câu: “Trời sinh ra bác Xuân Thiều/Nơi nào mở trại thì điều bác đi”.


Bây giờ, từ hôm nay, sáng sớm ngày thứ tư, mồng 4 tháng 4 năm 2007, ông vĩnh viễn không còn đọc, đi và viết được nữa! Ông sẽ về với miền vĩnh hằng-như tên mảnh đất ông sẽ nằm lại mãi mãi-Nghĩa trang công viên Vĩnh Hằng (Vật Lại, Ba Vì, Hà Tây).


Ông là nhà văn Xuân Thiều, sinh ngày mồng 1 tháng 4 năm 1930 tại làng Triều Đông, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng quê nghèo nhưng hiếu học và giàu truyền thống yêu nước. Mười lăm tuổi ông đã tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương, mười bảy tuổi tòng quân và bắt đầu cuộc đời bộ đội, cuộc đời viết văn. Cuộc đời cầm súng, cầm bút của ông dường như vắt ngang qua cả hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước. Từ một người lính trơn ông trở thành một đại tá (đại tá 668, hưởng lương tương đương thiếu tướng), từ một người viết văn nghiệp dư dưới đơn vị cơ sở, ông trở thành một nhà văn tên tuổi, Phó tổng biên tập một tờ tạp chí văn nghệ lớn có uy tín hàng đầu đất nước-tờ Văn nghệ Quân đội, và từng là người phụ trách Ban Sáng tác Hội nhà văn Việt Nam (khóa V). Từ một học sinh trường làng, ông trở thành một cán bộ cao cấp của quân đội, được tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, được thưởng dường như đầy đủ các loại huân, huy chương chiến đấu, trong đó có Huân chương Độc lập, Huân chương Kháng chiến, Huân chương Chiến công; trở thành một nhà tiểu thuyết, nhà truyện ngắn từng đoạt nhiều giải thưởng văn học lớn như: Giải thưởng Nhà nước về Văn học-Nghệ thuật, giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Bộ Quốc phòng, giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu…


Hành trình văn học của ông gắn liền với những cuộc hành quân chiến đấu của bộ đội, gắn liền với các chiến trường, trong đó quen thuộc nhất, gắn bó nhất đối với ông là chiến trường "Bình-Trị-Thiên khói lửa". Ở đó, những năm chiến tranh, với bút danh Nguyễn Thiều Nam, ông đã viết những tác phẩm được nhiều người biết tới như: Mặt trận kêu gọi, Chiến đấu trên mặt đường, Gieo mầm, Tâm sự chiến sĩ quản tượng, Chuyện làng Rapồng... đó là những tác phẩm đầy máu lửa nhưng cũng thật lãng mạn. Và cũng vì những năm tháng chiến đấu ấy, về sau ông mới có những Huế mùa mai đỏ, Truyền thuyết quán tiên, Xin đừng gõ cửa, Người mẹ tội lỗi… làm lay động con tim biết bao người đọc.


Ông không chỉ được biết đến bởi những bộ tiểu thuyết, những tập truyện ngắn trứ danh mà còn được biết tới bởi những tập thơ, như tập Tre xanh, tập Và nỗi nhớ với nhiều bài, nhiều câu được nhiều người thuộc, nhớ và những bài bình luận văn nghệ khi dạt dào cảm xúc, say đắm; lúc quyết liệt gay gắt nhưng rất giàu tính thuyết phục, như tập Tiếng nói của cảm xúc...


Ông có quan niệm viết về chiến tranh khá táo bạo, ông cũng là người đổi mới lối viết về đề tài chiến tranh khá sớm. Ông bảo: "Viết về chiến tranh nhưng không cổ xúy cho chiến tranh vì chiến tranh chỉ mang đến sự hủy diệt và bất hạnh cho con người. Ông giải thích thêm rằng, chiến tranh "đấy chính là trò đùa khắc nghiệt thật, đòi hỏi nhà văn phải có chỗ đứng vững chắc, có đầu óc tỉnh táo, có tầm nhìn sáng suốt và hơn hết là một tấm lòng nhân hậu, ưu ái đối với con người". Ưu ái với con người, thương vợ, quý yêu con cháu, nặng tình huynh đệ, thương yêu đồng chí đồng đội, đồng nghiệp dường như là lẽ sống của ông. Có lẽ bởi sinh ra trên vùng đất nghèo, hoạt động, chiến đấu cùng ở một chiến trường ác liệt và cũng nghèo, từng sống nhiều năm ngoài xóm Phúc Xá, lụt lội khó khăn, nên sinh thời ông sống rất thủy chung và luôn đồng cảm với những cảnh đời nghèo khó. Sống giữa trung tâm Hà Nội nhưng ông đau đáu với quê nhà. Hòa bình thống nhất đã trở lại rất lâu nhưng ông vẫn không bỏ lỡ mỗi dịp ghé về chiến trường xưa, về những làng quê cũ mà gia đình ông từng sơ tán… Ông sống giản dị và rất dễ gần. Là thế nên ông có rất nhiều những bạn đồng ngũ, đồng hương, đồng tuế, bạn mê bóng đá, bạn làm câu đối, bạn cùng sở thích chơi cờ… Những bạn văn ở tạp chí Văn nghệ và nhà xuất bản cũng chẳng còn được in bài, in tác phẩm của ông với bút danh Xuân Thiều, Nguyễn Thiều Nam và cả Tú Hói nữa.


Tú Hói là một bút danh của ông mà có lẽ còn ít bạn đọc biết đó chính là Xuân Thiều. Được hỏi tại sao lại lấy bút danh ấy dưới các câu đối, giai thoại ông trả lời bằng chính một câu đối có tính chất “tự trào” như sau:


- Có đỗ đâu mà “tú”, dăm ba chữ Tây Tàu lõm bõm, cũng văn thơ, cũng câu đối nhì nhằng, vẫn cứ liều làm “tú” (tout: tiếng Pháp có nghĩa là tất, tất tần tật).


- Đầu đã hói còn “xuân”, mấy mươi năm văn nghệ lai rai, khi biên tập, khi phóng viên đắp đổi, hẳn đang muốn hồi “xuân” (xuân trong chữ Xuân Thiều, người có cái đầu hói).


Tú Hói đã làm cả trăm câu đối tặng bạn bè, người thân. Câu nào cũng đối nhau chan chát, câu nào cũng hóm hỉnh và nhiều ý tứ. Nhiều câu vô cùng táo bạo ví như câu mừng hai bậc huynh trưởng của “nhà số 4” là nhà thơ Vũ Cao và nhà văn Từ Bích Hoàng cùng sinh nhật tuổi 50, cùng vinh thăng thượng tá (1972).


- Mình năm mươi, cậu cũng năm mươi. Ừ nhỉ chúng mình tròn trăm tuổi.


- Đây cấp tá, đấy cấp tá. Ờ hay hai đứa chẵn đôi quan.


Đem trăm tuổi, đôi quan ra mừng thọ thủ trưởng thì thật là to gan! Ấy vậy mà rất có ý nghĩa.


Chuyện câu đối, giai thoại về Xuân Thiều kể dài dài có thể tới trăm lẻ một ngày. Là thế nên viết, nói về Xuân Thiều, phần vĩ thanh có thể nói: Ông ấy còn có bút danh là Tú Hói.


Nhưng từ hôm nay chẳng bao giờ còn được thấy cả Tú Hói, Xuân Thiều độc bộ một cách nặng nề trên hè “phố nhà binh” lao xao lá vàng rơi nữa. Tôi viết vội mấy dòng này thay cho lời chào vĩnh biệt ông, vĩnh biệt nhà văn Xuân Thiều.


 


NVB.


 


qdnd.vn


“Trời sinh ra bác Xuân Thiều”


Hoàng Thụy Lâm 


Ông xuất hiện trên văn đàn đầu những năm 50. Khi ấy ông còn là một người lính rất trẻ đang phục vụ ở một đơn vị bảo vệ giới tuyến quân sự tạm thời (phía Bắc sông Bến Hải - Quảng Trị). Tác phẩm đầu tay của ông được đăng trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội - Trắng đêm cũng chính là tác phẩm được giải trong cuộc thi "Viết về đời sống bộ đội trong thời bình" do tạp chí tổ chức. Liền sau đó là truyện ngắn Dưới hầm bí mật của ông lại được Tạp chí Văn nghệ (Hội Văn nghệ Việt Nam) trao giải: Năm đó, ông 27 tuổi.


Hai mươi bảy tuổi bước vào làng văn cho đến khi lâm bệnh, tuổi đã ngoại thất tuần ông vẫn nổi tiếng là người viết, đọc và đi khỏe. Thế mới có câu: "Trời sinh ra bác Xuân Thiều/ Nơi nào mở trại thì điều bác đi". Trại ở đây là trại sáng tác văn học dành cho các cây bút trẻ.


Nhưng từ sáng sớm ngày thứ tư, mồng 4 tháng 4 năm 2007, trại nào  mời ông cũng không dự được nữa! Ông đã đi xa mãi, về miền vĩnh hằng - như tên mảnh đất ông nằm lại mãi mãi - Nghĩa trang công viên Vĩnh Hằng (Vật Lại, Ba Vì, Hà Nội).


Ông là nhà văn Xuân Thiều, sinh 1930 (tuổi Canh Ngọ - đồng niên với những nhà văn quân đội khác: Nguyễn Khải, Hồ Phương, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Chí Trung) tại làng Triều Đông, xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, một vùng quê nghèo nhưng hiếu học và giàu truyền thống yêu nước. Mười lăm tuổi ông đã tham gia hoạt động cách mạng tại địa phương, mười bảy tuổi tòng quân và bắt đầu cuộc đời bộ đội, cuộc đời viết văn.


Cuộc đời cầm súng, cầm bút của ông dường như vắt ngang qua cả hai cuộc trường kỳ kháng chiến vĩ đại của dân tộc, kháng chiến chống thực dân Pháp và chống Mỹ cứu nước. Từ một người lính trơn ông trở thành một đại tá (đại tá 668, hưởng lương tương đương thiếu tướng), từ một người viết văn nghiệp dư dưới đơn vị cơ sở, ông trở thành một nhà văn tên tuổi, Phó tổng biên tập một tờ tạp chí văn nghệ lớn có uy tín hàng đầu đất nước - tờ Văn nghệ Quân đội, và từng là người phụ trách Ban Sáng tác Hội nhà văn Việt Nam (khóa V). Từ một học sinh trường làng, ông trở thành một cán bộ cao cấp của quân đội, được tặng Huy hiệu 60 năm tuổi Đảng, được thưởng gần như đầy đủ các loại huân, huy chương chiến đấu, trong đó có Huân chương Độc lập; trở thành một nhà tiểu thuyết, nhà truyện ngắn từng đoạt nhiều giải thưởng văn học lớn như: Giải thưởng Nhà nước về Văn học - Nghệ thuật, giải thưởng Hội Nhà văn, giải thưởng Bộ Quốc phòng, giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu...


Hành trình văn học của ông gắn liền với những cuộc hành quân chiến đấu của bộ đội, gắn liền với các chiến trường, trong đó quen thuộc nhất, gắn bó nhất đối với ông là chiến trường "Bình - Trị - Thiên khói lửa". Ở đó, những năm chiến tranh, với bút danh Nguyễn Thiều Nam, ông đã viết những tác phẩm được nhiều người biết tới như: Mặt trận kêu gọi, Chiến đấu trên mặt đường, Gieo mầm, Tâm sự chiến sĩ quản tượng, Chuyện làng Rapồng... đó là những tác phẩm đầy máu lửa nhưng cũng thật lãng mạn. Và cũng vì những năm tháng chiến đấu ấy, về sau ông mới có những Huế mùa mai đỏ, Truyền thuyết quán tiên, Xin đừng gõ cửa, Người mẹ tội lỗi... làm lay động con tim biết bao người đọc.


Ông không chỉ được biết đến bởi những bộ tiểu thuyết, những tập truyện ngắn trứ danh mà còn được biết tới bởi những tập thơ, như tập Tre xanh, tập Và nỗi nhớ với nhiêu bài, nhiều câu được nhiều người thuộc, nhớ và những bài bình luận văn nghệ khi dạt dào cảm xúc, say đắm; lúc quyết liệt gay gắt nhưng rất giàu tính thuyết phục, như tập Tiếng nói của cảm xúc...


Ông có quan niệm viết về chiến tranh khá táo bạo, ông cũng là người đổi mới lối viết về đề tài chiến tranh khá sớm. Ông bảo: "Viết về chiến tranh nhưng không cổ xúy cho chiến tranh vì chiến tranh chỉ mang đến sự hủy diệt và bất hạnh cho con người. Ông giải thích thêm rằng, chiến tranh "đấy chính là trò đùa khắc nghiệt, đòi hỏi nhà văn phải có chỗ đứng vững chắc, có đầu óc tỉnh táo, có tầm nhìn sáng suốt và hơn hết là một tấm lòng nhân hậu, ưu ái đối với con người".


Ưu ái với con người, thương vợ, quý yêu con cháu, nặng tình huynh đệ, thương yêu đồng chí đồng đội, đồng nghiệp dường như là lẽ sống của ông. Có lẽ bởi sinh ra trên vùng đất nghèo, hoạt động, chiến đấu cùng ở một chiến trường ác liệt và cũng nghèo, từng sống nhiều năm ngoài xóm Phúc Xá, lụt lội khó khăn, nên sinh thời ông sống rất thủy chung và luôn đồng cảm với những cảnh đời nghèo khó. Sống giữa trung tâm Hà Nội nhưng ông đau đáu với quê nhà. Hòa bình thống nhất đã trở lại rất lâu nhưng ông vẫn không bỏ lỡ mỗi dịp ghé về chiến trường xưa, về những làng quê cũ mà gia đình ông từng sơ tán... Ông sống giản dị và rất dễ gần. Là thế nên ông có rất nhiều những bạn đồng ngũ, đồng hương, đồng tuế, bạn mê bóng đá, bạn làm câu đối, bạn cùng sở thích chơi cờ... Ngoài bút danh Xuân Thiều ông còn có bút danh khác là Nguyễn Thiều Nam và Tú Hói .


Tú Hói là một bút danh của ông mà có lẽ còn ít bạn đọc biết đó chính là Xuân Thiều. Được hỏi tại sao lại lấy bút danh ấy dưới các câu đối, giai thoại ông trả lời bằng chính một câu đối có tính chất "tự trào" như sau:


- Có đỗ đâu mà "tú", dăm ba chữ Tây Tàu lõm bõm, cũng văn thơ, cũng câu đối nhì nhằng, vẫn cứ liều làm "tú" (tout: tiếng Pháp có nghĩa là tất, tất tần tật).


- Đầu đã hói còn "xuân", mấy mươi năm văn nghệ lai rai, khi biên tập, khi phóng viên đắp đổi, hẳn đang muốn hồi "xuân" (xuân trong chữ Xuân Thiều, người có cái đầu hói).


Tú Hói đã làm cả trăm câu đối tặng bạn bè, người thân. Câu nào cũng đối nhau chan chát, câu nào cũng hóm hỉnh và nhiều ý tứ. Nhiều câu vô cùng táo bạo ví như câu mừng hai bậc huynh trưởng của "nhà số 4" là nhà thơ Vũ Cao và nhà văn Từ Bích Hoàng cùng sinh nhật tuổi 50, cùng vinh thăng thượng tá (1972).


- Mình năm mươi, cậu cũng năm mươi, Ừ nhỉ chúng mình tròn trăm tuổi.


- Đây cấp tá, đấy cấp tá. Ờ hay hai đứa chẵn đôi quan.


Đem trăm tuổi, đôi quan ra mừng thọ thủ trưởng thì thật là to gan! Ấy vậy mà rất có ý nghĩa.


Chuyện câu đối, giai thoại về Xuân Thiều kể dài dài có thể tới cả trăm lẻ một ngày, nhưng năm hết Tết cũng đến rất gần rồi. Hẹn đến giêng hai ngày rộng tháng dài xin lại tiếp câu chuyện về ông.


H.T.L


Nhà văn XUÂN THIỀU


Nhà văn Xuân Thiều sinh ra tại Bùi Xá - Đức Thọ. Lớn lên ông nhập ngũ, lăn lộn nhiều mặt trận và trở thành nhà văn quân đội, từng nhận nhiều giải thưởng văn học cao quý, trong đó có Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật. Là nhà văn quân đội, ông được đi và sống nhiều nơi, nhưng quê hương Bùi Xá chiếm một vị trí đặc biệt trong trái tim ông, không có vùng đất nào thay thế được


Nhà văn Xuân Thiều quê: Bùi Xá- Đức Thọ - Hà Tĩnh. Nhập ngũ tháng 12 năm 1947. Năm 1951 làm Chính trị viên Đại đội ở chiến trường Trị Thiên. Năm 1957, học Trường Tuyên huấn trung ương (lớp báo chí). Năm 1959 về Tổng cục Chính trị, rồi về Tạp chí Văn nghệ Quân đội làm biên tập viên, rồi Phó tổng biên tập… Năm 1987 biệt phái sang Hội Nhà văn làm Phó ban sáng tác, Chánh văn phòng Hội Nhà văn Việt Nam.
Tác phẩm chính:   Đôi vai (1961), Mặt trận kêu gọi (1969), Thôn ven đường (tiểu thuyết - 1972), Gió từ miền cát (1989), Xin đừng gõ cửa (1994), Tư  Thiên (tiểu thuyết 2 tập, 1995)…
Giải thưởng văn học: Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam, Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật đợt 1 năm 2001. Tên ông đã được đặt cho tên trường tiểu học Bùi Xá vào năm 2011.
1. Tôi biết nhà văn Xuân Thiều qua việc ông phát hiện và cùng một nhóm nhà thơ biên tập bản thảo của Phùng Khắc Bắc in trong tập "Một chấm xanh". Mà anh Phùng Khắc Bắc lại học cùng với tôi ở Khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du (1983-1985). Bản tính anh Bắc trầm lặng, ít bộc lộ. Nhất là những sáng tác thơ, hầu như bạn bè cả khóa đều bị bất ngờ vì sau khi anh mất, nhờ nhà văn Xuân Thiều mới được công bố.
Phải nhận thấy nhà văn Xuân Thiều cất công đến thế nào khi ông gặp chị Tuất (vợ anh Phùng Khắc Bắc) tìm kiếm lại bản thảo, phân loại, biên tập, giới thiệu rộng rãi trên báo chí trung ương để chúng ta biết được một giọng thơ thật lạ của Phùng Khắc Bắc, đến bây giờ đọc lại tôi vẫn còn cảm thấy sửng sốt.
2. Cũng vì mối cơ duyên với anh Phùng Khắc Bắc, tôi đưa nhà văn Xuân Thiều và nhà thơ Nguyễn Đức Mậu về thăm lại quê anh ở Dĩnh Kế (Bắc Giang). Đêm hôm trước, chúng tôi nghỉ lại thị xã Bắc Giang (nay là TP Bắc Giang). Nhà văn Xuân Thiều tỏ vẻ băn khoăn vì phố xá lúc bấy giờ tối quá, đèn đóm lom nhom.
Ông nói với tôi: "Một thị xã trung du sầm uất nằm trên quốc lộ 1 của các ông mà còn thế này thì không hiểu đến bao giờ dân mình mới khá lên được".
Sớm hôm sau, chúng tôi đưa nhà văn Xuân Thiều đi thăm chợ Dĩnh Kế, thăm gia đình và ra viếng mộ anh Phùng Khắc Bắc. Sau chuyến đi ấy nhà văn Xuân Thiều có ngỏ ý với tôi nhờ tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) tạo điều kiện ông về thâm nhập thực tế để chữa lại bản thảo tiểu thuyết của anh Phùng Khắc Bắc đã hoàn thành bản thảo ở trại viết quân đội Đồ Sơn (Hải Phòng). Cái tâm của nhà văn Xuân Thiều, ông chí tình chí nghĩa đến như thế nào mới tận tình đến vậy.
Cái ân hận trong tôi vì sau đó mọi việc trôi đi, cho đến ngày ông mất, tôi chưa đưa được nhà văn Xuân Thiều trở lại TP Bắc Giang nay đã mở mang, đèn đường rực rỡ... để ông xóa đi mặc cảm một thời gian khó ấy.
3. Tôi biết nhà văn Xuân Thiều qua vợ tôi (Hương) học Sư phạm Văn Tây Bắc cùng thời với Hoa là cháu gái nhà văn Xuân Thiều quê Đức Thọ, Hà Tĩnh. Cuối năm 79 đầu 80, mua vé tàu xe thật khó khăn, nằm chờ cả tuần mới đăng ký được vé. Xe lên Tây Bắc hàng tuần mới có một chuyến, chuyến nào cũng đông chật người và đủ các loại ưu tiên mới mua được vé.
Nhà văn Xuân Thiều lúc đó công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội có thẻ nhà báo "ưu tiên" đã chen chúc, khổ sở nhiều lần mới mua được cho vợ tôi và cháu gái nhà văn hai chiếc vé lên Tây Bắc.
Trong một cuộc vui, nhà văn Xuân Thiều cười bảo tôi: "Kim này, mày có biết thế nào không? Hồi ấy tao đã phải chui qua háng một thằng đứng trước mới mua được vé cho vợ mày ngược Tây Bắc đấy!". Tôi chỉ biết cười và thầm cảm ơn ông.
Có những lúc, vợ tôi thường kể nhà văn Xuân Thiều là người rất nặng tình với quê hương. Hồi đi học từ quê xứ Nghệ ra học rồi ngược rừng lên Tây Bắc được chú Xuân Thiều cưu mang. Trong những bữa cơm thân mật, ấm cúng tại gia đình ông, mặc dù có rất nhiều thức ăn nhưng bao giờ cũng có đĩa cà Nghệ.
Trong không khí thật vui, ông đọc mấy câu thơ của nhà thơ Huy Cận mà ông tâm đắc: "Ai ơi cà xứ Nghệ/ Càng mặn lại càng giòn/ Ai ơi chè xứ Nghệ?/ Càng chát lại càng ngon". Rồi ông lại nói: "Ăn cà để nhớ cái mặn mòi, gian khó của quê hương, cháu cố gắng mà học thật tốt…".
4. Khi chuyển về Hà Nội, thỉnh thoảng tôi có đến thăm nhà văn Xuân Thiều và gia đình ông ở "phố nhà binh" (Lý Nam Đế) và mời ông đi uống bia ở quán trong Hàng Hương gần nơi ông ở. Tôi nói với ông là tôi đã đọc hết cuốn tiểu thuyết "Thôn ven đường" của nhà văn. Nhà văn Xuân Thiều lảng sang chuyện khác: "Cuốn này thời gian lúc ấy phải viết thế không khác được. Nhưng tôi tâm đắc truyện "Truyền thuyết Quán Tiên" hơn, vì nó nhân bản hơn. Hệ lụy khi công bố truyện này trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi cũng bị nhắc nhở nhiều nhưng bù lại bạn đọc lại rất hoan nghênh vì truyện này dám đề cập đến vấn đề nhạy cảm trong chiến tranh. Tôi cũng được an ủi phần nào trong nghiệp cầm bút của mình".
5. Lần cuối cùng trước khi ông mất, cách đây không lâu, tôi có đến thăm nhà văn Xuân Thiều. Nom dáng vẻ ông lộ vẻ mệt mỏi, ông bận bộ quần áo ngủ kẻ sọc, cái đầu lơ phơ mấy sợi tóc bạc như rung lên…
Tôi hỏi thăm sức khỏe của ông. Nhà văn Xuân Thiều tâm sự: "Mình dạo này ngủ nhiều, giấc ngủ không được sâu. Lạ thế, có khi ngồi với ai đó tự nhiên díp mắt lại, không hiểu người ta nói gì". Thế mới biết, ở vào một tuổi nào đó con người cũng giữ được sự minh mẫn và tỉnh táo như thời trai trẻ.
Nhưng với nhà văn Xuân Thiều thì khác, ông vẫn còn đùa. Cái chất uy-mua ở ông vẫn không mất đi mà luôn hiển lộ: "Mấy hôm nữa Kim đến đi uống bia với mình, ra để ngắm bọn cháu gái ở quán, chúng nó xinh tươi thế mà mình thì già rồi, thế có chán không? Cáo ơi, nho còn xanh lắm và quá tầm tay với mà". Ông cười, giọt nước mắt ứa ra...


Nguyễn Thanh Kim 



.
KHI TRƯỜNG TIỂU HỌC MANG TÊN MỘT NHÀ VĂN QUÂN ĐỘI
 


Vào dịp khai giảng năm học 2011 – 2012, ngành giáo dục tỉnh Hà Tĩnh có một sự kiện đáng nhớ: Trường tiểu học xã Bùi Xá, huyện Đức Thọ mang tên mới: Trường tiểu học Nguyễn Xuân Thiều. Lễ gắn tên mới của trường diễn ra vào ngày 03-9- 2011, với sự có mặt của đại diện UBND và ngành giáo dục tỉnh Hà Tĩnh, huyện Đức Thọ, đại diện Hội Nhà văn Việt Nam, tạp chí VNQĐ, Hội liên hiệp VHNT  Hà Tĩnh cùng trên 250 giáo viên và học sinh trường tiểu học được đổi tên này. Để làm nên sự kiện này, chúng ta ghi nhận vai trò to lớn của gia đình và họ hàng nhà văn Xuân Thiều, chúng ta không thể quên sự đồng tình của cán bộ, bà con quê hương Bùi Xá, Đức Thọ, cùng đông đảo bạn bè của Nhà văn từ nhiều miền đất nước tề tựu về đây.
 
Nhà văn Xuân Thiều sinh ra tại Bùi Xá, và chính trường tiểu học này cách đây ba phần tư thế kỷ, ông đã từng học tập. Lớn lên ông nhập ngũ, lăn lộn nhiều mặt trận và trở thành nhà văn quân đội, từng nhận nhiều giải thưởng văn học cao quý, trong đó có Giải Thưởng Nhà nước. Là nhà văn quân đội, ông được đi và sống nhiều nơi, nhưng quê hương Bùi Xá chiếm một vị trí đặc biệt trong trái tim ông, không có vùng đất nào thay thế được. Con sông La không biết bao lần xuất hiên trong thơ và văn của ông. Câu chuyện mà ông kể háo hứng nhất với đồng chí, đồng nghiệp những năm sống ở Thủ đô là những câu chuyện về quê hương. Ông thường ngâm nga bài thơ “ Hồi hương ngẫu thư” của Hạ Tri Chương, một nhà thơ Trung Quốc đời Đường , nhận mình cũng “hương âm vô cải” (giọng quê không đổi) và còn đùa rằng tóc thì thay đổi quá nhiều, không phải chỉ màu sắc mà là số lượng. Chúng ta đều biết rằng, khi ngoài tuổi lục tuần, mái tóc nhà văn Xuân Thiều rất thưa thớt, đầu hói sâu để người nhìn từ phía sau thấy trên đỉnh đầu ông có một mảng không tóc như cái mũ của đức Giáo hoàng! Có lần ông nói rằng, sở dĩ mái tóc ông thưa vì đã lâu không được gội nước sông La, chứ người Đức Thọ, đặc biệt là con gái, tóc ai cũng dày dặn, mượt mà chứ đâu lơ thơ như thế này!
 
Những năm cuối đời, ông luôn dặn dò và mong mỏi con, cháu làm được điều gì đó cho dòng tộc, quê hương. May mắn cho ông là con ông, con trai, con gái, con dâu, con rể đều chung ý nghĩ như ông, và điều quan trọng là chúng có khả năng kinh tế để biến điều cha mình trăn trở thành hiện thực. Trước khi dự lễ đổi tên trường, chúng tôi được về thăm làng ông và chứng kiến ngôi nhà thờ họ Nguyễn đang được con ông xây dựng lại với 150 mét khối gỗ lim nhập từ nước ngoài về! Khi nói chuyện với Thiều Quang và Thiều Nam, hai cậu con trai của nhà văn, chúng tôi biết rằng, sau khi xây dựng nhà thờ họ, các cháu còn có ý định làm những việc khác, không chỉ cho dòng họ mà cho cả quê hương Bùi Xá, trước hết là trường tiểu học này. Trước khi trường tiểu học Bùi Xá mang tên nhà văn, nhà trường đã có một ngôi nhà hai tầng gồm 10 phòng học và hai dãy nhà ngói một tầng gồm các phòng của ban giám hiệu, phòng giáo viên, phòng truyền thống, thư viện… Tuy nhiên, do kinh phí hạn hẹp, mọi thứ chỉ đơn sơ. Ngay khu trường, tường xây mới có ở mặt tiền, còn ba mặt khác chỉ căng tạm bằng lưới thép. Tôi không nghĩ rằng, trong một thời gian ngắn, cơ ngơi nhà trường sẽ thay đổi một cách triệt để, nhưng tôi tin, những gì nhà trường hiện nay chưa hoàn chỉnh, các cháu con nhà văn Xuân Thiều cũng đã để mắt tới. Ví như thư viện nhà trường. Nghe nói số sách hiện nay còn rất ít, cũng như trong ngành giáo dục nói chung, nhà trường chưa xây dựng “văn hoá đọc” trong giáo viên và học sinh. Trường mang tên một nhà văn phải là trường tiên tiến trong phong trào đọc sách, Bởi thế, có lẽ thư viên trường là nơi con cháu nhà văn Xuân Thiều để mắt đến trước tiên. Có người phân vân rằng, các cháu học sinh tiểu học thì chỉ cần sách thiếu nhi, trong khi tủ sách của nhà văn Xuân Thiều ( làm nòng cốt cho thư viện trường) thì sách văn học nói chung dành cho người lớn, nên có những điều bất cập. Tôi không suy nghĩ như thế. Vắn hoá đọc của nhà trường phải xây dựng trước hết từ giáo viên, sau đó lan toả sang học sinh. Bởi vậy, sách văn học dành cho người lớn không bao giờ thừa trong thư viện trường tiểu học. Còn một điều nữa, những em học sinh tiểu học yêu văn không chỉ đọc sách của nhà xuất bản Kim Đồng, tuy nhiên với các em, khi xây dựng thư viện chúng ta sẽ chú ý đặc biệt tới loại sách dành cho trẻ em. Tôi mong và tin rằng, trường tiểu học Xuân Thiều sẽ vượt lên các trường khác, trước hết là thư viện trường.
  Trong buổi lễ trọng thể này, thầy giáo Phùng Thanh Bình, hiệu trưởng nhà trường phát biểu rằng: “ Bùi Xá chúng ta có nhiều người con làm rạng danh cho quê hương. Việc nhà trường mang tên một danh nhân trên quê hương là niềm tự hào của nhà trường và góp phần góp phần giáo dục truyền thống cho các em…”. Nhà văn Ngô Vĩnh Bình, Tổng biên tập tạp chí Văn nghệ quân đội bày tỏ lòng biết ơn đối với nhân dân Đức Thọ để cho tên một nhà văn quân đội, từng là người của tạp chí Văn nghệ Quân đội, trở thành tên trường tiểu học và coi đây là một phần thưởng, niềm tự hào của đội ngũ nhà văn quân đội…
 
  Khi chứng kiến buổi lễ trang trọng này, tôi nghĩ nhiều về nhà văn Xuân Thiều, người đồng chí, đồng nghiệp, đồng hương…mà tôi được sống gần gũi hơn 30 năm. Khi chưa về tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi đã thuộc lòng những câu thơ viết về trận địa phòng không trên đỉnh núi ở Hàm Rồng của ông: “ Giá mà kéo núi lên cao nữa. Giáp mặt quân thù đánh tuyệt hơn”. Khi chưa về tạp chí Văn nghệ quân đội, trước năm 1960, theo lời kể của nhà văn Nam Hà, Xuân Thiều thường ngâm nga hai câu thơ của Nguyễn Công Trứ: “Đã mang tiếng ở trong trời đất. Phải có danh gì với núi sông”. Anh Thiều ơi, khi những bài thơ, truyện ngắn đầu tiên của anh được đăng báo là cái danh bắt đầu được nhen nhóm, khi trở thanh hội viên hội Nhà văn Việt Nam, cái danh được định hình, khi anh được Giải thưởng Nhà nước thì cái danh được khẳng định. Và hôm nay, khi tên anh trở thành tên trường tiểu học xã nhà là cái danh của anh được đóng đinh vào quê hương theo cả nghĩa đen và nghĩa bóng. Tên anh không chỉ hàng ngày xuất hiện với giáo viên, học sinh ở trong trường, mà trong làng xóm, đồng ruộng, chợ búa…tên anh chen vào câu chuyện cuả người quê hương. Các thế hệ được sinh trưởng thành sẽ mang tên anh đến các miền đất nước. Đó là niềm hạnh phúc lớn đã mấy nhà văn có được?
 
           Trong đêm giao lưu văn nghệ nhân sự kiện này, tôi được nghe một số bài thơ của ông do người thân đọc lại, được nghe nhiều ca khúc về quê hương Bùi Xá, Đức Thọ. Và đặc biệt, tôi được nghe bài hát “ Gửi sông La” do nhạc sĩ Lê Việt Hoà phổ nhạc bài thơ cùng tên của một nhà thơ nữ, tôi nhớ câu chuyện ông từng kể tôi nghe, và tin rằng nhà văn Xuân Thiều đã có mặt trong đêm giao lưu đó theo cách riêng của thế giới linh hồn, ông mỉn cười mãn nguyện khi nghe thơ, nghe hát mà nhớ lại từng kỷ niệm sinh thời…    


Hà Tĩnh, 03-9-2011


Vương Trọng


vanhocnghethuathatinh.org.vn


Nhớ nhà văn Xuân Thiều


1. Tôi biết nhà văn Xuân Thiều qua việc ông phát hiện và cùng một nhóm nhà thơ biên tập bản thảo của Phùng Khắc Bắc in trong tập "Một chấm xanh". Mà anh Phùng Khắc Bắc lại học cùng với tôi ở Khóa 2 Trường Viết văn Nguyễn Du (1983-1985). Bản tính anh Bắc trầm lặng, ít bộc lộ. Nhất là những sáng tác thơ, hầu như bạn bè cả khóa đều bị bất ngờ vì sau khi anh mất, nhờ nhà văn Xuân Thiều mới được công bố.


Phải nhận thấy nhà văn Xuân Thiều cất công đến thế nào khi ông gặp chị Tuất (vợ anh Phùng Khắc Bắc) tìm kiếm lại bản thảo, phân loại, biên tập, giới thiệu rộng rãi trên báo chí trung ương để chúng ta biết được một giọng thơ thật lạ của Phùng Khắc Bắc, đến bây giờ đọc lại tôi vẫn còn cảm thấy sửng sốt.


2. Cũng vì mối cơ duyên với anh Phùng Khắc Bắc, tôi đưa nhà văn Xuân Thiều và nhà thơ Nguyễn Đức Mậu về thăm lại quê anh ở Dĩnh Kế (Bắc Giang). Đêm hôm trước, chúng tôi nghỉ lại thị xã Bắc Giang (nay là TP Bắc Giang). Nhà văn Xuân Thiều tỏ vẻ băn khoăn vì phố xá lúc bấy giờ tối quá, đèn đóm lom nhom.


Ông nói với tôi: "Một thị xã trung du sầm uất nằm trên quốc lộ 1 của các ông mà còn thế này thì không hiểu đến bao giờ dân mình mới khá lên được".


Sớm hôm sau, chúng tôi đưa nhà văn Xuân Thiều đi thăm chợ Dĩnh Kế, thăm gia đình và ra viếng mộ anh Phùng Khắc Bắc. Sau chuyến đi ấy nhà văn Xuân Thiều có ngỏ ý với tôi nhờ tỉnh Hà Bắc (nay là tỉnh Bắc Giang) tạo điều kiện ông về thâm nhập thực tế để chữa lại bản thảo tiểu thuyết của anh Phùng Khắc Bắc đã hoàn thành bản thảo ở trại viết quân đội Đồ Sơn (Hải Phòng). Cái tâm của nhà văn Xuân Thiều, ông chí tình chí nghĩa đến như thế nào mới tận tình đến vậy.


Cái ân hận trong tôi vì sau đó mọi việc trôi đi, cho đến ngày ông mất, tôi chưa đưa được nhà văn Xuân Thiều trở lại TP Bắc Giang nay đã mở mang, đèn đường rực rỡ... để ông xóa đi mặc cảm một thời gian khó ấy.


3. Tôi biết nhà văn Xuân Thiều qua vợ tôi (Hương) học Sư phạm Văn Tây Bắc cùng thời với Hoa là cháu gái nhà văn Xuân Thiều quê Đức Thọ, Hà Tĩnh. Cuối năm 79 đầu 80, mua vé tàu xe thật khó khăn, nằm chờ cả tuần mới đăng ký được vé. Xe lên Tây Bắc hàng tuần mới có một chuyến, chuyến nào cũng đông chật người và đủ các loại ưu tiên mới mua được vé.


Nhà văn Xuân Thiều lúc đó công tác tại Tạp chí Văn nghệ Quân đội có thẻ nhà báo "ưu tiên" đã chen chúc, khổ sở nhiều lần mới mua được cho vợ tôi và cháu gái nhà văn hai chiếc vé lên Tây Bắc.


Trong một cuộc vui, nhà văn Xuân Thiều cười bảo tôi: "Kim này, mày có biết thế nào không? Hồi ấy tao đã phải chui qua háng một thằng đứng trước mới mua được vé cho vợ mày ngược Tây Bắc đấy!". Tôi chỉ biết cười và thầm cảm ơn ông.


Có những lúc, vợ tôi thường kể nhà văn Xuân Thiều là người rất nặng tình với quê hương. Hồi đi học từ quê xứ Nghệ ra học rồi ngược rừng lên Tây Bắc được chú Xuân Thiều cưu mang. Trong những bữa cơm thân mật, ấm cúng tại gia đình ông, mặc dù có rất nhiều thức ăn nhưng bao giờ cũng có đĩa cà Nghệ.


Trong không khí thật vui, ông đọc mấy câu thơ của nhà thơ Huy Cận mà ông tâm đắc: "Ai ơi cà xứ Nghệ/ Càng mặn lại càng giòn/ Ai ơi chè xứ Nghệ?/ Càng chát lại càng ngon". Rồi ông lại nói: "Ăn cà để nhớ cái mặn mòi, gian khó của quê hương, cháu cố gắng mà học thật tốt…".


4. Khi chuyển về Hà Nội, thỉnh thoảng tôi có đến thăm nhà văn Xuân Thiều và gia đình ông ở "phố nhà binh" (Lý Nam Đế) và mời ông đi uống bia ở quán trong Hàng Hương gần nơi ông ở. Tôi nói với ông là tôi đã đọc hết cuốn tiểu thuyết "Thôn ven đường" của nhà văn. Nhà văn Xuân Thiều lảng sang chuyện khác: "Cuốn này thời gian lúc ấy phải viết thế không khác được. Nhưng tôi tâm đắc truyện "Truyền thuyết Quán Tiên" hơn, vì nó nhân bản hơn. Hệ lụy khi công bố truyện này trên Tạp chí Văn nghệ Quân đội, tôi cũng bị nhắc nhở nhiều nhưng bù lại bạn đọc lại rất hoan nghênh vì truyện này dám đề cập đến vấn đề nhạy cảm trong chiến tranh. Tôi cũng được an ủi phần nào trong nghiệp cầm bút của mình".


5. Lần cuối cùng trước khi ông mất, cách đây không lâu, tôi có đến thăm nhà văn Xuân Thiều. Nom dáng vẻ ông lộ vẻ mệt mỏi, ông bận bộ quần áo ngủ kẻ sọc, cái đầu lơ phơ mấy sợi tóc bạc như rung lên…


Tôi hỏi thăm sức khỏe của ông. Nhà văn Xuân Thiều tâm sự: "Mình dạo này ngủ nhiều, giấc ngủ không được sâu. Lạ thế, có khi ngồi với ai đó tự nhiên díp mắt lại, không hiểu người ta nói gì". Thế mới biết, ở vào một tuổi nào đó con người cũng giữ được sự minh mẫn và tỉnh táo như thời trai trẻ.


Nhưng với nhà văn Xuân Thiều thì khác, ông vẫn còn đùa. Cái chất uymua ở ông vẫn không mất đi mà luôn hiển lộ: "Mấy hôm nữa Kim đến đi uống bia với mình, ra để ngắm bọn cháu gái ở quán, chúng nó xinh tươi thế mà mình thì già rồi, thế có chán không? Cáo ơi, nho còn xanh lắm và quá tầm tay với mà". Ông cười, giọt nước mắt ứa ra...


Nguyễn Thanh Kim


http://antgct.cand.com.vn/vi-vn/nhanvat/2009/2/52737.cand

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »