tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23575694
Tiểu thuyết
27.09.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

5. KHĂN TRẮNG LÊN ĐẦU


 


Nhưng trở lại hồi họ mới chia tay nhau, thì hoàn cảnh của chàng họa vô đơn chí: bệnh cha ngày một nặng, chỉ dùng thuốc Nam của một ông lang vườn không học hành gì, ông Năm Chai.


Vậy mà ông này cũng làm chàng ngạc nhiên không ít. Một hôm, sau lúc coi bệnh, thấy cha nằm thiêm thiếp, ổng nói với chàng:


Ông thân của cậu có một câu đối tôi rất chịu, cậu biết không?


Hàm lắc đầu. Ông nói:


Dở ẹc. Con nhà thế gia mà không thuộc thơ văn ông cha. Hồi xưa người ta cho là bất hiếu đó. Thôi, để tui đọc cho nghe. Câu đó như vầy:


Thiên lý, địa lý, giai do nhân lý xuất,


Thần đạo, Phật đạo diệc tùng Thánh đạo chân [1]


Mãi sau này, được đọc học nhiều thứ, chàng mới thấy cái biết của cha vượt khỏi sự tầm thường rất xa.


Rồi ông dặn chàng: Cụ giáo (ông chỉ cha chàng), sốt rét lâu ngày, vi trùng nó đóng thành cổ trướng[2] rồi! Phong, lao, cổ, lại… tứ chứng nan y. Tây còn thua huống chi mình. Thôi, cậu coi cụ muốn món gì, cứ cho cụ ăn cho thỏa.


Ông không nói thêm, nhưng chàng hiểu là không còn hy vọng nữa. Bỗng cha tốc chiếc mền ra, rên râm ran một lát, rồi lảm nhảm mớ:


Trê… con cá trê…!


Chàng ghé vào tai cha:


Gì vậy cha?


Cha thì thào:


Có người cho cha con cá trê nướng, cha thèm đã lâu, mà tụi con giựt lấy, không cho ăn.


Tội nghiệp cha tôi biết bao, phần cảnh nhà quá nghèo, tới cơm khoai cũng chưa đủ no, phần ngại cha bị tì[3] hư sách thực: càng không dám cho ăn gì. Bình sinh cha không chú trọng miếng ăn, cha nói: Ngô văn quân tử viễn bào trù. (Ta nghe rằng: người quân tử nên xa việc bếp núc, ý nói cái ăn là điều nhỏ nhặt, người quân tử phải để tâm vào những việc lớn).


Nhưng nghề nấu nướng với cha là một nghệ thuật. Cha có một câu thơ bếp núc vui vui:


Thịt bò, lá lốt, lá sưng [4]


Cá tràu[5], thịt vịt, có gừng mới ngon.


Cha nói, mọi việc ở đời, từ bốc một thang thuốc bắc hay dọn mâm cơm cũng phải có tôn ti trật tự, cả quân thần tá sứ,[6] đầy đủ Tam cang ngũ thường của Thánh hiền trong đó.


Con người đó, của mệnh Trời, của nguyên lý Bất thiên chi vị trung, bất dịch chi vị dung[7] của Âm Dương luôn biến hóa, luôn chính tâm, thành ý, cách vật, trí tri[8] mà tề gia trị quốc bình thiên hạ đó, giờ này nằm một chỗ, trong cơn tỉnh thức chỉ phát biểu cái nguyện vọng giản dị là mong được ăn con cá trê nướng, rồi lại chìm vào cơn mê sảng.


Rồi lại một đêm, không phải cha mà chính chàng nằm mơ thấy có con chim lạ bay về đậu trước cây đào đầu ngõ mà cất tiếng hót lảnh lót. Tiếng hát cô đơn như muốn tra hỏi điều gì, muốn kêu mây gọi gió.


Nhưng giây lâu không nghe có tiếng vang vọng gì đáp lại, nó dáo dác nhìn và như thấy mọi thứ, cảnh vật xung quanh đã đổi thay, nó sợ hãi kêu lên mấy tiếng tha thiết rồi vỗ cánh bay đi tận cõi sa mù. Sực tỉnh, trong lòng bần thần không hiểu sao chàng vẫn muốn đặt tên cho nó là Chuy, con chim đã bay đến đậu trước sân nhà Khổng Khâu khi ông này mở mắt chào đời, như lời cha thường kể lại cho chàng thời bé.


Cả đời cha, sách vở Thánh hiền, ruộng mẫu trâu bầy, tất cả đang trên vực thẳm để trở thành quá khứ. Hai hôm sau, cha lại ra ngồi sưởi nắng. Một đợt gió thu ào ào thổi tới, xác lá tre bay tán loạn rụng đầy sân. Cha rên lên một tiếng rồi ngã ra bất tỉnh.


Chàng cùng người anh em bà con vừa mới đến thăm chạy vội lại, đỡ khiêng cha vào chiếc giường gỗ, nơi cũng trên đó, đã hai thế hệ ông bà cố, ông bà nội chàng vĩnh biệt cõi đời.


Gia đình anh Ba, anh Sáu được tin hốt hoảng tụ về mời sư An Phước lên bày bàn thờ Phật và dóng chuông tụng kinh, cầu đức Phật Di Đà tiếp dẫn độ đường.


Tiếng chuông mõ đều đều, lệ nến chảy rưng rưng. Trong khói hương bát ngát, Hàm hỏi:


Cha có nghe không?


Rõ. Và thanh tĩnh nhẹ nhàng lắm, cha thấy Đức Phật. - Cha thều thào.


Cha vẫy tay ra hiệu, mấy người con nghiêng mình xuống giường. Cha ráng lắm mà tất cả cũng chỉ nghe lắp bắp như hơi thở xa xôi:


Bất ninh… ngã… phụ nhân


A, lời cha không ngớt dặn các con thuở bình sinh: Ninh nhân phụ ngã, bất ninh ngã phụ nhân, mà cha dịch:


Thà rằng người nỡ phụ ta


Đừng bao giờ để ra ta phụ người


Cha ứa nước mắt khóc. Lần đầu tiên trong đời chàng thấy cha khóc. Cha thường nói: Con trai không bao giờ được quyền có nước mắt.


Bấy giờ, cha đảo mắt từ từ nhìn khắp mọi người. Trừ chàng và anh Bảy, tất cả đều khóc rống lên. Cha đã tắt thở nhưng mắt vẫn mở. Anh Bảy nói:


Cha còn nuối thằng Nha.


Rồi anh vuốt mắt cho cha. Cha chết trong cảnh nghèo, cha không di ảnh. Cha đã ngủ giấc bỏ đời. Quan tài của cha chỉ bằng gỗ tạp. Tiếng cá săng đóng vội, khép kín nhanh chóng một thi hài mà sinh thời cực kỳ thanh cao, nhân hậu đã không tròn giấc mộng khoa danh. Người ta mặc cho cha bộ đồ lụa thư sinh đã cũ từ lâu cha để dành, không dám bận tới.


Con đường nhỏ ra nghĩa địa còn ngập lụt, và trong xóm giềng, người thương cha quá đông, đám ma phải băng qua một vùng ruộng mới cấy, không kèn ma, không nhà cửa ngựa xe đốt theo, chỉ có mấy mảnh giấy vàng bạc rải đường và ngọn đuốc bằng xác mía bùi ngùi, hiu hiu lên khói, giữa một buổi chiều đông không mưa.


Ôi! cái nắng hanh vàng tử biệt ngày ấy tại một miền quê nhuộm lên cây lúa, bờ tre cả một màu thê lương. Cha yên ngủ ở Gò Găng, giữa đám ruộng nhà mà chỉ một năm sau, cỏ may đã lên um tùm bia mộ. Chiếc bia mộ cũng nhỏ nhoi, khiêm nhường, chỉ là một viên đá ong cũ, mỗi bề không quá vài mươi phân, không sao mang nổi một nét chữ nào về cái con người thiên kinh vạn quyển nằm dưới.


Cha gối đầu phía đỉnh núi Dàng quen thuộc của quê hương Thi Phổ, mặt nhìn vùng nước tụ Bầu Súng. Chỉ có anh Cả mới được may cho bộ sô gai bằng vải màn, kỳ dư chỉ có miếng mũ mấn trên đầu. Se thắt từng khúc ruột, lũ con cháu, dù lớn dù nhỏ, phút chốc cảm nhận tất cả mất mát lớn lao khi trở thành côi cút, trơ trọi giữa đời.


Cha mất, gia tài của cha, không còn ruộng mẫu trâu đôi, chỉ có chín chữ đơn giản, sáu người con chia nhau làm cái vốn ở đời:


Thà rằng người nỡ phụ ta


Đừng bao giờ để ra ta phụ người.


Nhiều tháng sau đó, chàng vẫn như kẻ mộng du. Vẫn dạy học, nhưng những chiều từ trường về, chàng hay ghé thăm mộ cha. Người yêu lấy chồng, cha chết, hai bàn tay trắng. Trí óc chàng rỗng không, nhiều lúc chàng thừ người ngồi nhìn xa xăm như kẻ mất hồn. Nhưng thời gian là liều thuốc thần, nó băng bó vết thương trên thân cây lệ liễu, nơi người ta bẻ cành tặng nhau ở Trường Đình trong cơn li biệt ngày xưa.


Đêm đêm, ngồi trước trang nhật ký, chàng thương xót cha. Lạ quá, nước mắt ở đâu bây giờ mới chảy, lai láng lã chã rơi loang lổ những dòng chữ của chàng, những trang giấy nhật ký mà chàng quý hơn bảo vật, giữ mãi tới cuối đời.


Quá đau khổ, bỗng dưng một hôm trong một cuộc học tập chính trị thời kháng chiến chống Pháp ở Quảng Ngãi, chàng phát hiện ra một điều vô cùng mới mẻ: Tình yêu cá nhân, lối sống cao ngạo, lập dị cũng chẳng để làm gì. Chỉ còn con đường duy nhất: phải hữu ích cho người khác, bắt đầu là người thân nhất: Mẹ, anh em rồi tới đồng bào.


Xong nghĩa vụ của ông giáo hò lơ, chàng lột xác tìm quên trong việc cuốc đất, ra đồng lượm phân, tưới nước, trồng rau giúp mẹ kiếm thêm chén cơm.


Nhìn cải cà lên mụt hoa bí ra vàng, con bướm nhỏ nhởn nhơ, chàng thấy dấy lên niềm bình an và nhận thức rằng lối sống kênh kiệu cũ thật là lạc điệu. Lại như một kiểu thức tỉnh, giống hồi làm bài toán cộng đầu tiên, chàng xung phong vào du kích, tự nguyện gác biển chống tàu thủy Pháp đổ bộ càn quét miền Duyên hải vùng Tự do và tối nào cũng đều đặn đến lớp, đem cái chữ tới cho những người dân quê nghèo khổ, chưa bao giờ được cắp sách tới trường.


Siêng năng len lỏi vào giữa các bạn học viên nông dân, khai nồng mùi mồ hôi và nước tiểu của những bộ quần áo rách rưới, vá chằng vá đụp lâu ngày không tắm giặt, chàng cầm tay từng người, tập cho họ viết chữ và thật sự hạnh phúc khi thấy có kẻ đã bập bẹ tập dịch và nguệch ngoạc viết được tên của mình.


Tất cả đã giúp chàng cảm hứng để có khả năng sáng tác được ngay những bài thơ kịp thời, khi nghe về một gương người tốt việc tốt trong đời sống, một cảnh đẹp. Một vài bận, chàng đã được giải thưởng thơ. Thế là nơi nào có Đại hội Chiến sĩ Thi đua, chàng cũng được mời và bắt đầu có chút tiếng tăm trong tỉnh.


Say mê công việc bất kể nắng mưa, da chàng cháy sém. Một hôm, trong xóm họp nhân dân tại nhà ông bác Tiên, người địa chủ giàu có nhất vùng. Cô Liên, cháu gái của ông, học xong lớp bảy nhưng vì là địa chủ, không được học tiếp lên lớp trên, mặc dù đã vào Đảng, phải ở nhà phụ mẹ cấy nhổ.


Liên thấy chàng người đen nhẻm, quần đùi te tua, bèn chọc:


Tiến bộ quá nhỉ, công nông hóa tới gần bằng cục than rồi.


Bỗng dưng chàng thấy Liên đẹp một cách khỏe mạnh, chắc chắn mặn mà, chàng nhìn nàng chọc:


Nhưng mà đâu được vào Đảng như Liên?


Nàng bẽn lẽn, thật dễ thương:


Muốn đổi không, em sẵn sàng đấy!


Chàng cũng không chịu thua:


Thôi, ta gộp vào nhau, chia đôi.


Liên liếc chàng một cái mê hồn. Hai bên đều choáng váng, từ đó họ nhen nhúm một mối tình, gần gũi nhau hơn trong các đợt công tác tổ chức văn nghệ giúp vui xóm làng. Có lần, sau một buổi hát hò, cùng ra về trên một quãng đường vắng qua cánh đồng, sáng trăng vằng vặc, vừa đi vừa tâm sự, họ cố ý tụt xuống sau. Liên ngả người vào ngực chàng, đôi môi họ tìm nhau và đấy là lần đầu tiên trong đời, chàng hôn lên mái tóc ngát mùi hương tự nhiên của người thiếu nữ trinh trắng. Xung quanh, trăng sáng rợn người.


Rồi ai về nhà nấy. Cuộc kháng chiến hút mọi người, cày bừa cấy nhổ, thuế nông nghiệp, đi dân công. Có đêm đã khuya chàng còn rít thuốc rê khét lẹt cho khỏi buồn ngủ trên vọng gác canh chừng tàu địch ở bãi biển Cà Đó, mà sáng ra đã quần áo chỉnh tề, viên phấn trắng trên tay, vẽ bản đồ Liên Xô trong giờ địa lý, giảng bài cho đám học trò nhỏ mà chàng quấn quít thương mến như em ruột.


Có khi chàng thần người ra nhớ tới Liên, chàng nghĩ là mình phải có vợ. Nhưng mối tình đầu gãy gánh còn xót xa và cái khăn tang trên đầu còn quá mới. Con tim ơi! Đừng vớ vẩn nữa, chàng tự nhủ: Hành động, chỉ có hành động mới thật sự hữu ích.


Dạy học, cuốc vườn cho mẹ, vắt áo lên vai, lao vào lớp học bình dân, hãy quên đi, thời gian là thứ thuốc thần. Sáng tác thật nhanh những bài thơ theo toa đặt hàng miễn phí, chàng được mọi người quý trọng, được mời tiêu biểu vào Ban chấp hành Thanh niên Việt Nam tỉnh, một vinh dự bấy giờ hiếm có với lớp trí thức trai trẻ con nhà hào phú. Vào Đảng, điều trước đây chàng đã từ chối với Tịnh, mà bây giờ thì chàng thấy rất nên.


Một hôm, Hàm tới thăm nhà Phạm Bao, một nông dân ngoài bốn mươi, cháu kêu mẹ bằng cô, đang làm Bí thư xã.


Túp lều xiêu vẹo, trước sân chỉ có vạt rau muống xanh tốt, mấy con bướm trắng đang bay lạc trong vườn. Tưởng nhà không có ai, chàng bước thẳng vào sau bếp. Trong xó tối, chàng bắt gặp Bao cùng vợ và bốn đứa con đang chồm hổm, châu đầu vào một nồi cháo, chỉ lõng bõng tí gạo và rau muống, húp xì xụp.


À, anh! - Bao ngước lên, ngạc nhiên.


Chàng lại còn ngạc nhiên hơn:


Cứ ngỡ nhà không có ai.


Rồi chàng nhìn mâm cơm, lắc đầu:


Sao không mượn mõ nhà chòm xóm chút gạo mà độn khoai cho lũ nhỏ?


Đúng là tôi có thể. Nhưng gặp cảnh thất mùa như năm nay, lấy gì trả?


Bao buông đũa đứng dậy, chàng thấy Bao cao lớn lạ thường, trong căn nhà thấp lè tè ám khói. Nước da ngăm ngăm đen, vầng trán rộng, Bao là cháu họ của ông ngoại chàng, vị Thủ khoa làm quan lớn trong triều đình, nổi tiếng thanh liêm mà khi về trí sĩ, dân làng phải hùn tiền làm cho ngôi từ đường nhỏ để thờ phụng.


Chàng bắt gặp màu sáng tinh khiết và sự cương quyết trong đôi mắt của Bao, như một thứ nghệ thuật thanh khiết. Phải, chính đôi mắt của người nông dân trong sạch này đã giác ngộ chàng nên khi Khanh, đại diện Chi bộ truyền đạt lời mời vào Đảng thì chàng vui vẻ chấp nhận ngay. Chàng nói:


Bao thật xứng đáng để tôi theo!


Tình yêu của thân thuộc, lý tưởng xã hội hồi ấy đã giúp chàng thoát khỏi cơn đau buồn, sầu mộng và các bệnh lặt vặt khác, chàng không thể nào quên. Ngô bung thay cơm, áo vải chân đất và sự toại lòng đã cải tạo chàng thành một thanh niên yêu đời. Nhưng giữa năm 1953, để chuẩn bị cho công cuộc đấu tố, Đảng đóng cửa. Chàng cũng chẳng có tâm tư gì. Cuối năm, chàng được triệu tập dự lớp chỉnh huấn của khu Năm mở tại An Lão, Bình Định. Mẹ lại úm cho chàng một mo cơm lớn, ép mấy con cá nục kho mặn, món ăn truyền thống nhà chàng.


Dép râu, túi vải, chàng lên đường. Em ơi, em ở lại nhà! Liên còn cách xa chàng bằng cả một khoảnh ruộng hương hỏa to rộng tên gọi Bầu Xuân ở trước nhà hai người đang mùa nước nổi mông mênh.


Hôm qua chàng gặp nàng lội nước ngoài đồng, quần xăn quá gối, chân trắng nõn như một khúc khoai mì vừa bóc vỏ ngon lành, ai thấy cũng phải thèm. Chàng bỗng nhớ tới một câu thơ của Bích Khê:


Gặp tình cờ tuy chẳng biết vì đâu


Chân em trắng vậy mà lòng tôi lạnh


Nhưng lặng thinh vẫn ngự trị trong mối tình của họ. Đi bộ vào Bình Định, gần chiều, qua khỏi Sa Huỳnh, chàng gặp anh Tú Châu. Anh cùng tuổi với anh Cả chàng, người Thi Phổ, đỗ tú tài Tây ở Sài Gòn, hiện cũng đi dạy học.


Nắng vàng hấp hối trên bãi biển, họ ngồi trên một tảng đá lớn, bằng phẳng nhô ra mặt nước, cùng giở cơm ra ăn. Chị Tú đã gói tình yêu của mình vào cái đùi gà quay giòn cho anh. Anh trao đổi với chàng, bữa cơm bụi ngon làm sao.


Trong lớp Chỉnh huấn, lần đầu tiên trong đời, chàng chứng kiến cảnh hội trường trong rừng sâu, dù bằng cây lá, nhưng rộng mênh mông, có bàn thờ Tổ quốc chói chang ánh điện và những bữa cơm ê hề những thịt cá, so với cuộc sống rau khoai quanh năm suốt tháng ở nhà, thật đầy ấn tượng cho một ý nghĩa về sự tất thắng: Thế giới chia làm hai phe, Đế quốc do Mỹ cầm đầu, Dân chủ mới do Liên Xô lãnh đạo. Ta nhất định thắng, địch nhất định thua. Muốn thế, phải trường kỳ kháng chiến, cán bộ phải cần kiệm liêm chính, chí công vô tư…


Đấy là những đề tài trong khóa học. Cán bộ phải biết căm thù.


Cảnh trí hùng vĩ, cơm thịt tươm tất, lý thuyết Cách mạng và Triết học biện chứng thật hợp với cái vốn học hỏi và hoài bão tu thân tề gia để tận trung báo Quốc gia truyền mà cha thường dạy, nên chàng tiếp thu một cách tâm đắc.


Cùng trong tổ tam chế [9] với chàng là anh Hồ Cơ và bác sĩ Võ Tố mà chàng đã kể.


Khóa học bế mạc, chàng chất chứa tất cả những gì tiếp thu được, thành một bầu nhiệt huyết, nôn nao thực hiện, gói gọn trong mấy xấp tài liệu in trên giấy Phù Mỹ cho vào túi vải cùng các bạn ra về, tự thấy mình có kiến thức rộng mênh mông, vô cùng hào hứng, như một sĩ tử đỗ đại khoa vinh quy bái tổ.


Tách khỏi con đường cái quan, rẽ vào xóm vườn nhà mình, chàng là kẻ độc hành cuối cùng, chỉ mấy hôm trước tiết Đông chí Quý tỵ nhằm ngày giỗ đầu của cha.


 


6. MẸ GIÀ TRỞ THÀNH ĐỊA CHỦ


 


Nhưng tất cả đã sụp đổ, làm cho bao nhiêu hào hứng tan đi hết: mẹ bị quy là địa chủ, không còn một thước ruộng trong tay vẫn phải gánh trách nhiệm nộp một số thuế nông nghiệp khổng lồ, bị gán cao lên hàng mấy chục lần. Mảnh ruộng duy nhất là hương hỏa, chẳng còn đem chút hoa lợi cho việc cúng giỗ ông bà và giúp gia đình duy trì sự sống vốn đã thiếu thốn cùng cực, thì nay trở thành tai họa.


Mẹ và anh Bảy chỉ còn dựa vào vạt rau muống nhỏ bên giếng, bữa đói bữa no, sức đâu nộp hàng chục tấn thóc?


Vị tiểu thư con quan Đốc học văn hay chữ tốt thanh liêm ngày xưa, nay đã gần sáu chục, chỉ còn cái quần đùi rách, dầu dãi dưới cái nắng chang chang, kéo chiếc cần vọt cô đơn khóc kêu kẽo kẹt, rên rỉ những trưa hè, để múc từng gáo nước nhỏ, rưới nuôi từng đọt rau. Anh Bảy sử dụng bàn tay vệnh vẹo của mình mà bó thành từng lọn, sao cho rau ít nhưng vẫn có vẻ sởn sơ. Người nghệ sĩ tài hoa một thời đó hàng ngày gánh rau ra chợ cho mẹ để đổi lấy vài lon gạo. Đấy hai đối tượng mà công cuộc đấu tố lớn lao phải đánh gục.


Cùng với bà bác Tiên, ông quản lí Choát, tất cả đang già yếu và ốm đói bị buộc phải quỳ ở sân đình. Bốn phía người ta đốt bùng lên những bó đuốc soi sáng những khuôn mặt dữ dằn, hết lớp tới lớp, những nông dân trẻ, đàn ông lẫn đàn bà, cả đám nhóc con, xông vào xỉa xói, chỉ vô mặt chửi bới, kể ra bao nhiêu tội ác được dựng lên.


Họ giơ những nắm đấm, nghiến răng, thét: Đả đảo địa chủ gian ác! Tiêu diệt địa chủ, tiêu diệt cường hào ác bá!


Bà bác Tiên, bà nội của cô đảng viên Liên xinh xắn bị mang ra trước hết. Kế đó là ông quản lý Nguyễn Đức Choát, bạn chí thân của cha chàng.


Đến lượt mẹ chàng, Bí thư Chi la lên: Địa chủ gian ác, bà giáo Bẫm đã ra đấu trường, hãy tố cáo tội ác của nó.


Đồng chí Khôi đâu?


Mọi người đang chờ sự xuất hiện của ông Khôi, một tá điền thân thiết với nhà chàng. Ai cũng nghĩ là ông lại sẽ như bà trùm Chở. Bà này bà con với ông Bác Tiên đã mất. Bà đã xông ra lớn tiếng tố cáo ông đã hãm hiếp bà lúc bà ở đợ nhà ông. Người ta mớm sẵn cho bà, nói ông có dã tâm chiếm đoạt ruộng đất của dân nghèo trong họ để trở thành người giàu có nhất Thi Phổ. Đôi mắt bà đỏ ngầu, sâu ngoắm, mái tóc bạc bù xù dơ dáy, gò má cao và đôi hàm răng chiếc nào còn lại cũng nhọn hoắt, mỗi khi nói cắn khít vào nhau, rít lên ghê rợn. Chàng nghĩ, một loại chằn tinh gấu ngựa như thế thì làm sao cái ông Bác Tiên đẹp lão hồi còn sống lại có thể, trong tuổi thanh xuân của mình, muốn làm tình với một phụ nữ còn xấu hơn Thị Nở. Vẫn không thấy ông Khôi. Bí thư Chi lại hét: Đồng chí Khôi đâu? Không ai trả lời. Yên lặng. Chờ đợi. Những bó đuốc lép bép đánh rơi các tàn lửa, cháy lèo xèo. Một lúc sau mới có đứa con ông Khôi đến báo là hồi chiều ông bị trúng gió.


Thế là nhân vật được xây dựng lâu ngày để tố khổ mẹ đã vắng mặt. Viên bí thư hầm hầm tức giận nhưng đành tuyên bố:


Cuộc đấu tranh chống địa chủ giáo Bẫm dời đến một ngày khác.


Rất may, ngày đó không bao giờ đến. Một trưa hè, thiếm Khôi đến thăm mẹ, cùng bắt chí cho nhau ở đầu hè. Gió nồm thổi, những con chuồn chuồn nhỏ bay vu vơ như say nắng. Thiếm kể:


Chị có biết bữa đó tại sao nhà em trốn không?


Mẹ nói:


Không.


Tại vụ đấu tố đó. Ổng làm Nông hội, bị ông Bí thư Chi phân công phải đứng lên tố cáo chị gian ác, nào áp bức bóc lột tới tận xương tủy dân nghèo. Họ chuẩn bị sẵn, buộc nhà em phải đội một cái khăn đầu rìu đỏ, phải trợn mặt la lớn: Con địa chủ kia, mày gian ác, bóc lột mấy đời nhà tao, bây giờ mày phải đền tội. Nhưng nhà em nói với em, ổng không thể làm vậy.


Tối đó, nhà em kêu ớn lạnh, trùm chiếu nằm. Em tưởng ổng bệnh, lấy dầu xoa cho ổng. Ổng nói: Tui chẳng gió máy gì hết. Nhưng tối nay, tôi không thể đi tố khổ chị giáo được đâu (cha chàng có lúc làm thầy giáo, dạy chữ Nho). Tôi không thể làm trái lời cha tôi dạy trước khi chết. Em gạn hỏi, ổng kể:


“Nhà mình xưa cũng gốc thi thư lễ nghĩa và giàu có. Nhưng ông nội lũ con chúng ta sinh ra cờ bạc hút xách, không bao lâu tiêu tán hết. Một mùa đông hồi tui còn nhỏ, gặp năm thất mùa và trời mưa to gió lớn. Anh giáo đang làm cái nhà mái đất to hiện còn cho tới bây giờ đó, gỗ mít to cỡ người ôm, chất ngổn ngang đầy vườn mà hũ gạo nhà ta thì đã cạn. Không nỡ nhìn lũ con đói, cha tui chẳng cầm được lòng. Ổng qua nhà anh giáo, nhằm lúc bên trong thì đèn đuốc sáng choang, trai bạn hàng chục người đang ăn cơm, nói cười rôm rả. Thừa khi bên ngoài đêm tối đen như mực, mưa tầm tã, ổng nhìn dáo dác rồi nhanh như chớp khom người xuống, lén vác trộm một cây cột lim, nghĩ là sẽ bán đổi gạo, cứu cả nhà tạm qua cơn ngặt nghèo. Nào ngờ ngay chính lúc ấy, ông giáo vô tình ra chỗ nước giọt mái tranh, vén quần đứng đái, trực nhìn thấy. Cha tui sợ quá, quýnh quáng, lẩy bẩy làm cây gỗ trên vai rớt xuống mà ổng cũng té luôn. Chẳng những không tri hô là có trộm, anh giáo chạy tới ôm, đỡ cha dậy, vỗ về:


Quân tử bất đắc dĩ nhi vi chi[10], ông hãy đem khúc gỗ nầy về mà đổi gạo, tạm qua cảnh khó. Tôi sẽ không nói với ai hết. Mai, ông nhớ kêu thằng Khôi sang nhà, tôi biểu vợ tôi đong cho mấy ang lúa, sống đỡ.


Trước khi cha mất, cha có kể lại câu chuyện này, dặn tui rằng anh giáo là người nhân hậu, hiếm hoi trên đời. Sống để bụng, chết mang theo, không bao giờ nhà ta được phụ ảnh.


Chôn cha xong, tôi đi Đà Lạt làm thợ hồ, nửa chừng không chịu nổi sốt rét phải bỏ về. Hồi đó, mình nhớ không, chúng ta chỉ có hai bàn tay trắng mà đã có con trai đầu lòng. Ảnh kêu hai vợ chồng mình, giao cho cặp trâu và đám ruộng vườn bà để làm ăn. Ơn ảnh như Trời, giúp mình nuôi được đàn con, trai có gái có ngày nay. Bây giờ ảnh mới mất, mồ chưa xanh cỏ, ta nỡ lòng nào theo những kẻ phao vu, đặt điều vu cáo chị Giáo? Cho nên tui…”.


Mẹ hiểu tấm lòng chú Khôi còn nhứt điểm lương tâm.


 


7. ĐÁM RUỘNG VÀ TIẾNG KHÓC MẸ GIÀ


 


Năm đó, giỗ đầu của cha chỉ có con gà luộc nấu cháo và vài nải chuối xanh của vườn nhà. Trời lại mưa mù, thôn xóm ảm đạm. Chỉ có năm anh em chàng, hai người dâu, mấy đứa cháu nội còn bịt khăn trắng và lơ thơ mấy người bà con rất gần: hai ông chú ruột và bác Hương bộ Cán, vai lớn nhất trong họ. Thời đấu tố, ai dám đến nhà địa chủ, nhất là không còn xôi thịt, giỗ chạp linh đình.


Chiếc chiếu hoa đã sờn trải lên bộ ván gỗ tạp kê ở hàng ba càng làm cho cái mâm cỗ sơ sài, không che giấu hết sự xuống dốc của một gia đình. Ông Hương bộ vừa nhắm cái đùi gà hiếm hoi trong thời buổi kháng chiến mà ngay cả khoai mì cũng không đủ no nầy.


Ông vừa đưa chén rượu lên môi thì nghe có tiếng than khóc, nỉ non từ chiếc buồng gần đấy vọng lại.


Tiếng khóc của mẹ. Mẹ kể lể, như đang đối diện với người chồng mới mất:


Ối! Ông ơi! Ông có biết là ra đi, ông đã để lại gì trên vai tui không? Bốn đứa con trai chưa thành gia thất, tang cha còn trắng trên đầu thì họ dòng đã đến đòi lấy hương hỏa, đám Đồng Găng là nơi ông đang nằm đó, cỏ chưa kịp mọc. Ới ông ơi!


Ông hương Bộ dừng đũa. Ông nghĩ: Cái bà em dâu này đích là con cái nhà khoa bảng, quan quyền. Lúc nào bả cũng im im mà cái gì cũng biết tỏng. Thật vậy, gia đình chàng đang có mấy sào hương hỏa, thừa tự từ bà cao ngoại. Nay cha đã mất, quá ngũ đại qui từ đường[11].


Ông hương Bộ đã kín đáo bàn bạc nhau với mấy vị trong họ, chờ tuần giáp năm của cha thì đặt vấn đề. Ông đưa mắt nhìn hai người chú chàng cũng đang chưng hửng như con bài tẩy bị lật một cách quá sớm.


Giọng của mẹ vẫn tiếp tục ai oán:


Hồi còn sống, ông đối với anh em ra sao mà bây giờ người ta nỡ làm vậy, ông ơi.


Đám thực khách bỗng dưng cảm thấy hơi rượu cay đắng lạ thường và mấy miếng thịt gà trở nên dai nhách. Luôn luôn đóng vai lãnh tụ, biết quyền biến, ông Hương Bộ dõng dạc.


Họ yêu cầu thiếm đừng khóc nữa. Mời thiếm ra đây nói chuyện.


Mẹ im bặt và hiện ra khung cửa nguyên vẹn vành khăn trắng, nước mắt đầm đìa. Ông hương Bộ tằng hắng cho giọng oai nghiêm thêm một chút:


Tôi nói đây cho cả họ cùng nghe, cả hàng con cháu nữa. Ruộng quá năm đời, phải giao là phải. Nhưng nay hoàn cảnh của thiếm vợ góa con côi nên họ nhất trí để thiếm tiếp tục trông coi và lo cái giỗ hai mươi tám tháng sáu, tới mãn đời thiếm hễ hay.


Không có lời cãi lại. Cũng không có tiếng vỗ tay hoan hô. Bữa giỗ đơn sơ lại tiếp diễn, với tiếng nhai tóp tép và tiếng húp cháo sụp soạt. Màn kịch chấm dứt trong hòa bình với nỗi đớn đau nhè nhẹ thấm dần vào từng người và trùm lên khắp gia tộc, như bóng hoàng hôn. Giỗ cha lại đem nước mắt vào trong nhật ký của chàng.


Tai họa còn nữa: trường Tư Thục bị giải tán. Hai đồng nghiệp của chàng người là trí thức tư sản, người kia địa chủ quan lại đều không được bố trí công việc gì. Cả hai yên trí về bổn xã, chẳng vui thú mấy cũng phải về điền viên.


Còn chàng trẻ hơn, phải thất nghiệp luôn mấy tháng, cơm chẳng có ăn. Tết năm Ngọ (1954) gạo không đủ trong ba ngày, mẹ bán được mẻ rau muống đổi lấy đòn bánh tét và cục thịt ba rọi nhỏ bằng nắm tay đem về muối. Dưa cải thì vườn nhà có sẵn. Không còn gì nữa để háo hức, không hương trầm, không hoa quả không pháo nổ của thời thơ dại. Hạnh phúc chóng qua. Nàng Xuân về âm thầm không còn nuôi nổi một giấc mộng tình. Nàng Liên vẫn ở bên kia bờ ruộng lúa trước nhà mà xa xăm diệu vợi, như phía đối diện của cả một dòng sông Ngân. Khi người ta đói, tình yêu bốc thành mây, cao thượng đến độ gần triệt tiêu.


Không có việc làm, đọc sách mãi cũng chán, sau Tết trời nắng gắt, chàng đi tát nước thuê cho anh Cả kiếm cơm qua ngày. Ngày hạ nêu[12], may mắn quá người phát thư đưa tới cho chàng một phong bì. Ông ấy nói, thư này dán con tem thóc[13], phải phạt hai lon gạo. Chàng lính quýnh chạy vô buồng quờ quạng kiếm khắp các hũ vại đều cạn không còn một hột, phải chạy qua hàng xóm năn nỉ mãi mới mượn được hơn một cân khoai mì khô. Người bưu công tỏ vẻ không mấy bằng lòng nhưng cũng chìa túi ra cho chàng đổ vào.


Chàng xé phong thư reo lên:


Mẹ ơi! Con có giấy báo được tuyển đi dạy ở trường cấp hai Hành Thiện, Nghĩa Hành.


 


8. ĐƯỜNG VÀO XỨ THỤC


(CẬU ẤM CHỐI TỪ CHỮ NGHĨA)


 


Đang đói dài dài thì một cái tin vui cũng là liều thuốc hồi sinh biến thành sức mạnh cho một cơ thể đang rệu rã.


Chàng chạy hỏi khắp nơi mới biết đó là một thung lũng nhỏ cách Thi Phổ mười cây số, phải qua một cái đèo hiểm trở nếu đi bộ và nếu ta sống lại cái thời Tam quốc xa xưa bên Tàu thì các danh tướng dẫn quân qua những chỗ như vậy phải đề phòng sợ nỗi phục binh.


Nhà tại miệng, bề gì cũng phải giặt bộ đồ xi ta màu tro cho thật sạch sẽ rồi xếp lên trên đầu giường mà gối cho thẳng nếp. Tháng Giêng cỏ non, chàng chống cây gậy tre từ Thi Phổ cuốc bộ 15 cây số lên đường đáo nhiệm. Để chắc ăn, chàng đi xéo về phía tây bắc tới An Chỉ, đến nhà ông hương kiểm Cúc, người chú họ xa cháu của bà nội chàng để hỏi đường. Ổng là thổ địa của đất Nghĩa Hành. Tới nơi, ông nghênh đón chàng rất niềm nở khác thường, bảo người nhà mang nước cho chàng rửa mặt như một thượng khách rồi đãi cơm trưa thật sang với thịt gà xào mặn và cá lóc nấu canh măng. Nhà chú được bình nghị xếp vào hạng trung nông, lúa đầy vựa, đường một cót lớn, gà vịt chật sân, cá đồng, mắm cái[14] mấy ghè.


Chẳng mấy khi được cơm no ngon lành và trong căn nhà mái đất rợp mát bóng cây, trên bộ ván gõ bóng lạnh, chàng đánh một giấc tới mãi xế chiều. Chú hương kiểm đến gần, ân cần:


Anh Một nó ngủ ngon quá. Chú không dám đánh thức. Giờ cũng gần tối rồi, cháu ở lại nay đêm nay đi. Chú có mỗi thằng Luân là con trai mà nó chỉ rong chơi, không chịu học. Nay cháu lên ngồi dạy Gò Eo, chú muốn gởi nó cho cháu. Tối nay, chú biện con gà trống làm lễ tấn tràng[15]. Ngày ai nhờ cháu dẫn nó đi theo, dìu dắt em dùm.


Sau hàng tháng đói khát, nghĩ tới một bữa rượu thịt ê hề nữa, chàng được lời như cởi tấm lòng, vui vẻ ở lại. Chú sai dọn mâm cỗ khá tươm tất, thành kính niệm hương, lâm râm khan vái. Sẩm tối, xôi thịt dọn xuống mới thấy thằng Luân cùng lũ bạn đi bắt cá ngoài sông trở về, đầu tóc bồm xồm da cháy nắng khét lẹt. Được cho biết là mai sẽ theo anh đi học, nó vẫn lặng yên ngoan ngoãn ăn uống no nê rồi đi ngủ, như sẵn sàng chờ một cuộc hành trình vào tương lai xán lạn mà cha nó mong đợi. Nhưng, ngày mai không bao giờ tới.


Khi mọi người dậy sắp xếp đồ đạc, chuẩn bị lên đường thì không thấy bóng thằng Luân đâu. Cả nhà bủa đi tìm mãi gần trưa, đành bất lực trước cái cậu ấm biệt vô âm tín, quyết tâm từ chối văn chương chữ nghĩa đó. Chàng đành phó nhậm một mình theo lối chỉ đường của chú.


 


9. ĐẤNG CHÍ TÔN Ở ĐÂU?


 


Từ An Chỉ lên Chợ Chùa rồi vượt đèo Eo Gió, đường quanh co, chim kêu vượn hú, chàng vừa đi vừa ư ử ngâm bài Đạo Thục Nam của Lý Bạch để tự chế giễu mình:


Y hu hi, Thục đạo nan!


Thục đạo chi nan hề!


Nan vu thượng thanh thiên! [16]


Rồi qua bến đò Huyện thượng nguồn sông Vệ, chàng tới đất Vạn Xuân non xanh nước biếc, thực sự là một thung lũng phì nhiêu, bóng núi xanh nghiêng trong lòng mây trắng, sẫm tối thì tới nơi. Cước, người bạn cùng lớp chàng, Đảng viên, được cử làm Hiệu trưởng đã đến trước một tuần, đang ở nhà một lão nông theo đạo Cao đài, ông Tám Tụ. Người con trai duy nhất của ông Tám đang làm Bí thư xã. Tất nhiên, chàng tấp ngay vào đó. Nhưng chờ tới bữa ăn tối đầu tiên đón người mới đến, ngoài cơm không độn khoai và những con mắm cơm đã qua cuộc hành trình từ biển lên nguồn. Muối mặn, đỏ hồng, đặc sến màu ớt bột, lại còn những con cá rô mà người nhà đi làm cỏ lúa bắt được ngoài ruộng, nướng lên thơm phức. Dưới ánh đèn dầu, chàng được tra hỏi tới tấp về lý lịch của mình. Chàng thành thật tự khai: Cháu ngoại quan đốc Phạm, cháu nội cụ bá Năm ở Thi Phổ. Chủ nhà đầu vẫn còn búi tóc, đôi mắt sáng long lanh, vuốt chòm râu đã điểm bạc, bất ngờ ồ lên một cách rất vui sướng tự hào:


Vậy là mày kêu tao bằng dượng rồi. Bà nhà này trước là chị gái ông Mạch nha cửu phẩm Trần Kỳ.


Không biết sự vui khoan khoái của người nho sinh thời xưa tha hương ngộ cố tri nó lý thú tới chừng nào nhưng với chàng việc nhận bà con của ông Tám Tụ thật có ý nghĩa: Chàng mới ra dạy chắc chưa có lương ngay, thế nào mấy tháng đầu cũng phải nợ tiền cơm. Được là cháu vợ của chủ nhà, yên tâm quá rồi.


Trường Gò Eo chỉ có hai lớp lợp lá, ở ngay chỗ đèo núi cong queo, đường heo hút gió, trên con lộ từ thị xã Quảng Ngãi lên Chợ Chùa, đi tiếp qua đó mới đến Ba Tơ để tới Tây nguyên, nơi chiến tranh đang ác liệt, mỗi ngày hàng vạn dân công qua trước cổng. Từ mờ sáng tới thâu đêm, họ đi thành hàng, hát hò không dứt, gạo gánh rơi rớt lâu ngày thành lớp dầy bên bờ cỏ, lẫn với cứt trâu, bụi bặm thành một màu vàng kệch.


Chàng vui lòng dạy gánh cho bạn hai phần ba trong cái số bốn mươi tám tiết đứng lớp hàng tuần. Nhưng không sao. Dạo đó, chàng còn trẻ, mỗi bữa lùa một hơi trong nháy mắt bốn năm chén cơm. Hằng ngày, dạy môn Vạn vật (nay gọi là Sinh học) giảng giải về cấu tạo và đời sống của cỏ cây, động vật theo thuyết tiến hóa Darwin, lại phải bao sân hai môn Việt văn và Sử Địa cấp hai, chàng buộc phải mượn mõ, lục lọi tài liệu khắp nơi, nên chẳng đặng đừng, kiến văn của chàng nhờ đó mà mỗi ngày một khá lên.


Quen sống với học trò như anh em, chàng được rủ cùng lên bến Hóc Đồng đầu nguồn sông Vệ, Quảng Ngãi tắm sông, vừa mò bắt những con bống nặng nề chậm chạp dưới đáy nước cát mịn vì cái bụng căng đầy trứng trước mùa sinh đẻ, chàng thấy cuộc đời không một thoáng u sầu.


Nhớ mẹ ở quê Thi Phổ, chỉ cách nửa buổi đi đường qua đèo Quán Thơm, tháng một vài lần, trong cái ruột nghé, chàng mang về nhà mấy lon gạo. Mẹ vẫn càng lúc gặp khó khăn vì bị gán cho thành phần địa chủ với khoản thuế nông nghiệp cao ngất do cán bộ sáng tác ra. Tất nhiên, mẹ không sao trả nổi, nên luôn bị bao vây, cô lập, chửi mắng là kẻ thù không đội trời chung của giai cấp.


Xóm Vạn Xuân nơi chàng ở trọ dạy học bốn bên là núi chỉ chừng vài chục nóc nhà, đều anh em bà con với nhau cả, xài chung một cái giếng nước trong mát, dưới bóng râm của một cây đào cổ thụ ra hoa trong sương muối, áp Tết quả bằng nắm tay, đỏ ửng tuyệt đẹp. Tháng Ba, trái vừa chín tới, cơm trắng như tuyết, vừa chua vừa ngọt, đậm đà làm sao. Hơn nửa thế kỷ rồi, cũng như con tu hú, nó đã vĩnh viễn biến mất trong bóng đêm dày đặc kỷ niệm của quá khứ đời chàng.


Chính lại cũng bên giếng này, chàng gặp người con gái mười lăm, tóc thề vừa chấm ngang vai, da trắng như củ mì bóc, mắt huyền long lanh, cháu kêu dượng Tám bằng bác ruột. Năm rồi, nàng vừa học lớp Năm ở Lê Khiết, nhưng nay đã thôi, ở nhà phụ mẹ làm cỏ, đi cấy. Lại Juliete mười lăm tuổi của Roméo.[17] Chàng đã hăm lăm. Nàng Nhụy lấy chồng đã hơn hai năm nay chắc đã tay bồng tay mang. Còn Liên, cháu gái ông Bác Tiên giàu nhất vùng, đối diện nhà chàng, cũng lâu rồi không gặp bên kia ruộng Bầu Xuân tím ngắt màu hoa súng, cái ngõ ngói có bức tường vôi trắng, lãnh đạm như một Vạn lý trường thành trong cơn bão tố thời đại.


Kháng chiến đã kéo dài 9 năm. Hai ông giáo thay đổi nhau coi trường. Chủ nhật nào Cước về nhà thì chàng phải ở lại, ăn cơm tối với cô dượng và người con trai duy nhất của họ. Dượng đã ngoài sáu mươi, má hóp, bao giờ cũng vào mâm trước, so đũa và đơm cơm sẵn, nghiêm nghị ngồi chờ những người khác. Chiều đó, dượng vui mừng tột độ vì người con dâu mới ở cữ thêm một đứa cháu trai nữa cho cái gia đình vốn hiếm muộn này. Anh Bốn Khâm, tên người con trai, về trễ. Anh hối hả đi vào, đeo nguyên cả cái xắc cốt[18] đựng giấy tờ làm việc, mau mắn ghé đít ngồi vào mâm.


Được dượng Tám giới thiệu chàng là bà con cô cậu, dù xa xôi cỡ đại bác 105 ly cũng bắn chưa tới, nhưng anh vô cùng hoan hỉ. Bằng nét mặt rạng rỡ, anh loan báo một tin, có lẽ theo anh, rất vui:


Tôi vừa đi họp trên huyện về. Cấp trên tính lấy cái Thánh thất Cao đài ở xã này làm trường học, chuyển trường Gò Eo về đó.


Nói là Thánh thất cho oai, kỳ thật chỉ là ngôi nhà nhỏ xây hồi còn Pháp, nổi bật khắp thung lũng Hành Thiện, Hành Tín này vì toàn vùng hầu hết nhà tranh.


Chính dượng Tám là người đã dày công gầy nối đạo ở đây, theo ảnh hưởng bên vợ, em ông Chánh tổng Trần, người đã oai hùng xuất hiện ở đầu truyện này và đã chết bi thảm trong tù.


Dượng Tám trân trối nhìn vẻ hoan hỉ trên mặt người con trai duy nhất như với một ánh mắt tóe lửa, không giấu được vẻ căm giận. Ông gằn từng tiếng hỏi anh Bốn:


Mầy thấy việc đó thế nào?


Phải quá đi chứ. Thánh thất bây giờ không còn ai tu hành thì dành cho học trò, thế hệ tương lai.


Dượng Tám không còn dằn lòng được nữa, ông ném đôi đũa đang cầm tay trong tay xuống mâm:


Mày nói vậy không sợ tội với đấng Chí tôn sao?


Làm gì còn đấng Chí tôn! - Người bí thư Xã ủy thản nhiên trả lời.


Năm nay, anh đã ngoài ba mươi. Năm mười tám, anh đã từng theo cha xuống tận sông Vệ dự hội bổn đạo với cả hàng ngàn người khắp vùng Nam Ngãi. Anh thuộc kinh đạo Cao đài hơn bất cứ ai và từng hân hạnh được làm quen với hai vị giáo sư tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ ở Quảng Nam.


Dượng Tám huơ tay, xưa nay ai cũng biết ông võ nghệ cao cường. Chàng vội thụp người xuống. Loáng một cái, mâm cơm đã bay đánh sầm vào vách, dĩa chén vỡ tan tành, canh rau lai láng. Anh Khâm đứng dậy kinh hãi. Dượng rít lên:


Không có đấng Chí tôn à? Không có đấng Chí tôn thì làm sao có tao có mầy, làm sao có thằng Khâm cháu đích tôn quý báu của tao và mới đây thêm thằng Phụng, bụ bẵm trắng trẻo, con mày? Tao làm Cộng sản từ năm ba mươi, nhưng tao vẫn tin có đấng Chí tôn. Có ngài mới có ông Mác, ông Lê, ông Mao, ông Hồ. Mày đi đi. Sao lại không còn ai tu? Còn tao đây, Chủ tịch xã năm bốn lăm. Tao còn tu. Mày báo cáo với cấp trên mày về đây. Chúng nó đã giết hết cả họ ngoại nhà mày[19], mày biết không. Nói với chúng hãy lại đây lấy luôn cái xác tao - Những lời lẽ của dượng không khác mấy với cha chàng và thầy trợ Bích.


Bây giờ chàng mới hiểu rõ dượng Tám. Cái ông già lầm lì, suốt ngày ít nói, chỉ sai khiến vợ con, trai bạn [20] bằng ánh mắt, đánh cờ khá cao, nuôi chim gáy cực giỏi. Hóa ra ông là con nhà võ, từng theo cách mạng vào tù ra khám. Ông tin ở Thượng đế, nguyên lý ẩn tàng khắp mọi vật, mọi nơi, mọi thời trong vũ trụ, điều động mọi thứ. Thượng đế ngủ trong lòng ông, xin ai đừng đụng đến.


Anh Khâm được bà vợ lén chi cho vài chục lon gạo, kiếm cớ đi công tác mấy ngày mới về. Cha con gặp nhau lặng thinh. Anh nhượng bộ, không ai còn nhắc tới chuyện lấy Thánh thất làm trường học nữa. Hú vía. Và như vậy, đủ biết uy lực của dượng Tám.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Cái lý của Trời, cái lý của Đất đều do cái lý của con người mà ra. Đạo của Thần (chỉ đạo Thiên chúa) đạo của Phật cũng cùng với đạo Thánh (chỉ đạo Khổng của cha) đồng nhất ở sự chân thật.




[2] Tức ung thư gan.




[3] Theo y học Đông phương, khi tỳ vị bị bệnh nặng (sách), khiến người bệnh ăn uống nhiều.




[4] Một loại dây leo mọc hoang dã, ở hàng rào, có hột giống hạt tiêu, đặc biệt lá rất thơm.




[5] Tức cá lóc.




[6] Vị thuốc chánh là vua (quân), vị thứ 2 là tôi (thần), vị thứ 3 là phụ tá, vị thứ 4 là sứ.




[7] Tóm tắt đạo Trung Dung: không thiên lệch gọi là Trung, không thay đổi gọi là Dung.




[8] Đạo học ngày xưa, bắt đầu là phải chân chánh cái Tâm của mình (Chính tâm), tiếp theo ý tứ là phải thành thật (Thành ý), phải học hỏi tới cốt lõi của sự vật (Cách vật), cho tột cùng sự Biết (Trí tri). Từ đó, xếp được việc nhà ổn định, rồi mới tham gia việc nước, bốn phương nước được trị, thiên hạ thái bình.


 




[9] Cứ tổ chức 3 người làm một tổ nên gọi là tổ tam chế.




[10] Nghĩa: Người quân tử chẳng đặng đừng mà có hành vi này.




[11] Ngũ đại qui từ đường: Ruộng mà một người thừa hưởng để cúng kiếng một bậc ông bà, kể từ đời thứ năm, nếu người đó (cha chàng) mất thì ruộng phải trả lại cho tộc họ.




[12] Mồng 7 tháng Giêng âm lịch. Xưa nhà chàng còn phong túc thì thịt cá, bánh trái, rượu chè… bày ra cúng kiếng, 2 lần trong ngày, sau đó thỏa thuê chè chén.




[13] Tem của nhà nước, người nhận thư phải căn cứ vào giá trị tem để trả tiền.




[14] Mắm cá cơm hay cá nục nhỏ.




[15] Hồi xưa, trước khi đi học xa nhà, gia đình sĩ tử thường có mâm cơm cáo gia tiên cho con em đến trường, gọi là lễ Tấn Tràng.




[16] Dịch:   Ôi! Than ôi! Đường vào Thục khó


Cái khó của đường vào Thục hề


                Khó như đường lên Trời…




[17] Truyện tình nổi tiếng của Shakespeare, đại thi hào Anh.




[18] Túi xách của cán bộ thời kháng chiến chống Pháp ở miền Trung.




[19] Ý ông Tám chỉ hai người anh vợ ông, là ông Chánh Tổng Trần và ông Cửu phẩm Mạch Nha đã bị giết tháng 8 năm 1945.




[20] Chỉ những người đàn ông làm ruộng mà hồi xưa địa chủ mướn cày, cấy.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
Biệt ly huy hoàng - Thanh Giang 30.07.2018
Tình yêu và lý tưởng - Thomas Mann 28.07.2018
xem thêm »