tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22987367
Tiểu thuyết
10.09.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

23. MỐI TÌNH ĐẦU


 


Tất cả đã đến đúng lúc thành một tiếng sét ái tình, không nổ ầm như bộc phá thời chiến tranh mà âm vang len lén như một mùi hoa, một sắc màu nhàn nhạt chậm rãi như một mối u hoài. Đó là những bông hoa trên cây khế nhà Hạm hè 1947. Năm đó, anh nó lại dạy hè, có một vị giáo sư tú tài bản xứ từ vùng tự do Quảng Nam tản cư vào ở nhà Hạm. Học trò cả tỉnh kéo tới rất đông. Một chiều sau khi làm bài xong, nó ra vườn chơi thì thấy có bóng người đang vít cành khế hái trái.


Nó kêu lên: – Còn non lắm, chưa ăn được đâu.


Một cô bé tuổi mới mười ba, để tóc bumbê giật mình ngước lên và thả tay. Những bông hoa khế lấm tấm như những cánh hoa tim rụng rơi lác đác, vung vẩy quanh gốc cây. Ô, lại đôi mắt đen lánh, cậu bé mười sáu tuổi ghi vào trong nhật ký của mình:


Mắt em xanh màu đại dương


Tôi nguyền ở mãi cõi vô thường.


Nó tự mình cũng không biết chữ nghĩa, suy tưởng ở đâu mà người lớn tới thế. Từ đó, tất cả chói sáng của toán học, cả những con sóng bạc đầu của Paul và Virginia, tiếng chuông chùa Hàn Sơn ở ngoài thành Cô Tô, những sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ của ca dao đều dồn vào đôi mắt ấy. Kể ra, chưa thể gọi cô bé là nàng được vì mới mười ba và mới chuẩn bị lên Trung học. Và nhà nàng cũng chẳng có gì đặc biệt, một gia đình dân dã ở thôn quê Quảng Ngãi làm nghề dệt vải ở xóm Văn Trường, bên con sông Trà Câu vô danh trên bản đồ Việt Nam, bấy giờ còn vô cùng lạ lẫm với thế giới.


Vậy mà, tất cả những gì nó nghe nhìn cảm nhận được, tất cả những gì nó cảm xúc tư duy lý luận, nắng sớm mưa chiều, mặt trăng mặt trời, sách vở Thánh hiền, lòng yêu quê hương, cha mẹ anh em, nói như lời Phạm Thái, chưa đựng đầy một đôi mắt mỹ nhân. Mười sáu tuổi, biết yêu và làm dáng, bắt đầu chải tóc, vuốt ve áo quần và giữ những trang nhật ký dưới ánh đèn đêm. Hạm đã lớn. Hãy giã từ thằng Hạm của trẻ con để gọi bằng cái tên trong nhà trường của một học sinh đệ tam trung học, hãy gọi là chàng. Phải, chàng mười sáu nàng mười ba. Người xưa nói: nữ thập tam, nam thập lục. Chàng thấm thía, cảm ơn Lý Bạch trong bài Trường Can Hành đã tả mối tình của họ: Thiếp phát sơ trúc ngạch...


Mà Khái Hưng dịch:


Tóc em vừa chấm trán


Bên đường hái quả mai


Chàng cưỡi ngựa trúc đến


Tung mơ chạy quanh giường


Làng Trường Can cùng ở


Hai trẻ một lòng thương


Câm nín, chàng e ấp những gì tốt đẹp nhất, biến nó thành năng lực trí tuệ, nhờ đó chàng luôn luôn đứng đầu về mọi môn học, từ Văn chương, Sinh ngữ cho tới Toán, Lý, Hóa, Sử, Địa, thậm chí cả Âm nhạc, chỉ trừ  Vẽ và Thể dục.


Cùng với người anh kề, chàng luôn đắm mình trong dòng suối lãng mạn. Mập mạnh nhất nhà, người anh kề chàng, anh Mười đang học đệ nhất chuyên khoa đã làm cho chàng vô cùng khâm phục bằng một bài khảo luận nhan đề Đoạn tuyệt với Đoạn Tuyệt đăng trên báo tường, dám phê bình cả giải pháp trong cuốn tiểu thuyết thời danh của Nhất Linh. Anh tài hoa sử dụng một cây sáo to bằng cán rựa và dài nửa sải tay. Những đêm trăng sáng não nùng, chàng cùng anh ăn trộm một tí rượu thuốc của cha và mấy hào bạc của mẹ để mua cho được vài điếu thuốc lá rồi chờ cho mọi người ngủ yên, hai người rủ nhau lẻn ra khỏi nhà, lên tận bến Đình, leo lên ngôi miếu cổ. Sương xuống mênh mông, không biết anh đã yêu ai chưa nhưng chàng thì luôn luôn mang hình ảnh của Nhụy trong lòng. Anh Mười đưa ống tiêu lên môi và thả ra những tiếng réo rắt, khi cao vút, khi trầm lắng:


Âm thầm trên dòng Ô,


Theo gió thoáng mơ hồ,


Tiếng địch não nùng, réo rắt buồn ngân.


Ngu Cơ ơi, em về nhé


Than khóc buồn mà chi, dẫu sầu biệt ly...


Chàng coi nàng là Ngu Cơ của mình, dù mối tình chỉ đơn phương, kín mít, không hé răng. Tội nghiệp, định mệnh con người là vậy, nó tự bày ra những khổ hình để mang lấy, vừa đau khổ vừa thích thú. Félix culpa![1] Đó là cái tuổi sẵn sàng để ngấu nghiến, nghiền ngẫm những tác phẩm về tình yêu dở dang đông tây kim cổ. Chàng tìm mọi cách, mọi cớ để có cho mình một mối sầu thương mênh mông bất tuyệt.


Trong khi đó, cuộc sống vẫn tiếp diễn những người trai trẻ ra đi lính, kẻ ở lại cuốc cày, hạt lúa cái rau ngày càng khó khăn. Tàu chiến Pháp thỉnh thoảng lại từ ngoài khơi vu vơ nã pháo vào cái thị xã đã trống huênh. Đây đó làng quê lâu lâu lại nhận được tin báo tử.


Anh Sáu đã gần ba mươi. Chị dâu cả thì không biết chữ. Cha mẹ lại muốn có dâu mới mà anh Sáu lần khân mãi, không chịu cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy. Lại những bữa cơm mà các lời giáo huấn của Thánh hiền được lặp lại. Thời này, cha có một đồng minh mới: thầy trợ Bích. Thầy họ Trần, xuất thân Nho học ở Quảng Nam rồi theo chữ Tây, lúc tản cư đến Thi Phổ, thầy đi với người con trai duy nhất: giáo sư Trần Như Cảnh. Cô trợ đã mất, thầy đi bước nữa cũng chỉ được hai người con gái. Những bữa cơm của gia đình nầy thật nặng nề. Anh Cảnh lầm lỳ gắp và nhai, thầy Bích thì hầm hầm, đôi đũa còn để ngay ngắn trên chén. Chàng đến chơi, qua khung cửa sổ thấy thầy bỗng dưng quắc mắt như muốn chiếu rọi ánh sáng của trí tuệ, của ý chí lên khắp người anh Cảnh, người con độc đinh của mình, rồi hét lên:


– Cảnh! Sao mày vẫn làm thinh. Mày khinh tao hở. Mày không bằng con vật. Con gà con chó còn có trống có mái, còn sinh con đẻ cái, mà mày không chịu có vợ, tại sao? Mày muốn tao tuyệt tự phỏng? Đồ bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại.[2]


Anh Cảnh vẫn lặng yên ăn cơm, bốn bề tịch mịch, chỉ nghe có tiếng khua đũa muỗng và tiếng nhai lấp nhấp của anh. Anh vừa đi bộ đội về, da còn xanh mét màu sốt rét rừng, chỉ có đôi mắt long lanh nhưng giờ đây đã sụp xuống, chỉ nhìn bát canh rau muống đạm bạc nổi lều bều mấy miếng thịt mỡ bằng lóng tay trên chiếc mâm gõ đã khờn. Bỗng nhiên anh thấy loáng có cái gì chụp xuống mình, vội nghiêng đầu né sang một bên thì nghe có tiếng choang thật to của một cái chén bay vào tường vỡ toang. Không còn chịu nổi những dồn nén trong lòng, người cha nôn có cháu nội, thầy Bích đã vồ lấy chén cơm liệng vào đầu người con trai một.


Liền đó, thầy Bích đến chỗ cha Hàm và có ngay bạn đồng minh:


– Đạo làm người phải từ đạo Trời. Vũ trụ có nhật nguyệt, thì người có vợ chồng. Vậy mà tụi nó vẫn trơ ra là do nhiễm quá sâu cái học mọi rợ của Tây Âu.


Thầy quên rằng mình cũng đã đi học trường Pháp và đã đỗ thành chung.


Đêm đó thầy không ngủ, đốt thuốc cho tới sáng. Hôm sau thầy cùng người vợ kế và hai con gái bỏ về Đà Nẵng, vùng tạm chiếm. Thế là cha con mịt mù ngăn cách, mãi tới 1954.


Mất đi người bạn cùng giãi bày tâm sự, cha biến Hạm thành đứa thính giả bất đắc dĩ, trơ trọi của ông trong cuộc diễn thuyết độc thoại loanh quanh trong phòng: Thái cực sinh lưỡng nghi là âm và dương. Vợ chồng cũng như thân thể có hàn nhiệt nóng lạnh, lệch đi một chút đã sinh ra đau ốm ngay, đừng nói thiếu đi một cái. Nhất định là anh Sáu mày phải có vợ.


Mãi về sau này, khi dạy Đại học phải nghiên cứu thêm sách vở của cổ nhân, Hàm thấy những nguyên tắc cơ bản của âm dương học mà cha nói hồi xưa cũng giống những khái niệm nguyên tử cơ bản trong vật lý lý thuyết hiện đại. Do đó, chàng nghiệm ra rằng các chân lý của phương Đông cổ xưa, như Dịch chẳng hạn, không phải là không cơ sở.


 


24. ANH SÁU CƯỚI VỢ


 


Cũng tội nghiệp cho anh Sáu vốn bị tiếng oan, vì anh đâu có lẩn trốn việc có vợ. Anh cũng từng lặn lội đi lên tới Đề An coi mắt chị Đệ, con ông bang Chương, một phú hào. Hay vào Mộ Đức xem mắt chị Di, tiểu thư một vị Đốc học. Nhưng cái gì cũng có duyên số. Việc hễ chưa tới là chưa tới. Cổ tích ở quê Hàm có kể chuyện một người học trò giỏi, văn hay chữ tốt mà thi mãi vẫn không đỗ. Chàng tức giận quyết tâm tìm cho được đường lên Trời để hỏi cho ra lẽ. Trên con đường huyền hoặc nhưng đầy gian nan đó, chàng phải nghỉ đêm trong một chiếc quán nhỏ, mà bà chủ có một cô con gái tuyệt thế giai nhân, rất mực nết na nhưng ác thay nàng lại bị câm. Cho nên, nàng đã đến tuổi cập kê mà vẫn phòng không chiếc bóng. Tất nhiên chàng cũng được yêu cầu tra hỏi gắt gao đấng Thượng đế về lý do ế chồng của người trinh nữ. Rồi chàng cũng tới được Thiên đình và đánh trống ầm vang cả cửa nhà Trời. Ông Trời bình dân rất dễ thương và vui tính hiện ra cười đùa, vuốt râu trả lời: – Anh Khóa hãy trở về tiếp tục siêng năng đèn sách thì sẽ thấy kết quả. Còn cô gái, khi gặp duyên, thì sẽ bật ra lời. Người học trò hoan hỉ trở về, ghé chỗ trọ cũ, thì cô gái đột nhiên tươi cười bước ra chào, nói: –Kính mừng quan Trạng tương lai.


Rồi chàng lại lai kính ứng thí, lần này chiếm bảng vàng. Bà Trạng, khỏi nói ai cũng biết là cô gái câm đó.


Dù là một thanh niên tân học, anh Sáu cũng đã ép lòng lẽo đẽo theo mấy ông mai nhà quê tới cô này cô nọ. Nhưng người thì anh chê cha mẹ không có văn học, kẻ anh phàn nàn da hơi đen, cô gái cuối cùng anh hơi thích, chị Huynh con ông thừa Ký, cháu cụ Phạm Văn Đồng lại bị phát hiện là có bà con bên ngoại.


Nhưng lâu rồi thì số phận cũng phải lên tiếng. Những cậu học trò đã tò mò theo dõi và đồn to nhỏ với nhau là thầy Diễn dạo này có vẻ chăm sóc áo quần, hay dùng nhíp nhổ râu, và vào lớp giảng Việt văn, có khi đỏ mặt mắc cỡ, khi ánh mắt xa xăm. Có đứa dám nói là đích mắt nó thấy thầy mang tập vở của một nữ sinh về nhà chấm bài rồi chờ lúc đèn khuya đêm vắng đưa lên môi hôn.


Các cô gái thèo lẽo rù rì nhau: – Ai vậy? Thằng Lê Chiêu Thống bé nhất học lớp với em út chàng một hôm tới với đám bạn. Mặt nghênh ngáo như ông tướng, nó ngồi vắt đốc lên mô đá đĩnh đạc tuyên bố: – Tao biết bí mật của thầy rồi. Tao đố bây: Bóng hồng nào học cùng lớp chúng mình mà da trắng tóc dài, con nhà giàu. Mấy đứa khác nhao nhao: – Chị Phi con ông trợ Tiên. Có đứa quyết là chị Vân con cụ đốc Soạn, đứa thì nhất định chị Minh con ông Cẩm, cán bộ chính trị.


Trật lất hết. Thống được dịp chửi rủa những đứa bạn lớn xác như gà tồ: – Tụi bay to xác mà dốt nát. Thôi tao cũng không keo kiệt gì. Hãy nghe trẫm: vua Chiêu Thống tiết lộ thêm: hoa khôi của trường!


Cả bọn ù té chạy như ông Archimède ở truồng, la lên: – Ôrêka, ôrêka chị Nhạn... Chúng đi loan báo khắp nơi. Người được anh Sáu chấm làm ý trung nhân mới mười sáu, đẹp nhất trường và đang có nhiều ông giáo ngắm nghé. Cuộc chiến đấu của anh âm thầm dai dẳng và gay go.


Cha chị trước có một cửa hàng vàng và giàu có. Ông nhất định giữ lấy cái quyền cha mẹ đặt đâu con ngồi đó và đặc biệt ông khâm phục cái nề nếp gia đình nhà anh Sáu, nhất là sau khi tản cư về Thi Phổ, anh là cháu một vị Thủ khoa từng làm quan ở đất Thần kinh[3], quê hương ông. Điển trai, giảng bài rất hay, anh chỉ còn khổ công một chút để chinh phục quả tim đối tượng. Kết quả: hai nhà đã thuận tình tác hợp cho đôi trẻ.


Vậy là mùa hè 1948, đám cưới nửa quê nửa tỉnh, rước dâu bằng ghe, đi từ sông Vệ ngược giòng vòng lên bến Thóc rồi lại xuôi sông Cầu Đập mà về bến Đình. Cũng có mổ heo và pháo nổ.


Sau đám cưới anh Sáu mấy ngày, nhân một hôm rong chơi, anh Mười gặp anh Nghiên, bạn cùng lớp, bà con bên ngoại, cháu cụ Phạm Văn Đồng. Nghiên hỏi: Mày có muốn đi Bắc học tiếp đệ nhị Chuyên khoa không? Trường Lê Khiết Quảng Ngãi sang năm[4] không còn ban tú tài nữa. Anh Mười sung sướng rú lên, có lẽ trước hết anh nghĩ tới non xa đất lạ, và những tháng ngày tự do rong chơi ở xứ người (Thanh Hóa) không bị gia đình kềm chế. Cuối cùng, sau trận dội bom Lê Khiết trường của chàng dời lên xóm Ươm ven sông, núp dưới những tán dừa và bóng tre rậm rạp. Các lớp khác tản cư về An Ba, Nghĩa Hành. Thế là hết, hết những ngày vui. Người yêu cũng đi mất không một lời từ tạ.


Yêu nhau không kịp nói năng


Đến chừng năng nói thì trăng xế chiều.


Như lời ca dao Quảng Ngãi. Mặc kệ, nàng vẫn cứ là người trong mộng của chàng – tức Hạm tổng hợp cái vẻ đẹp của những giai nhân trong sách vở đông tây kim cổ, tóc phải dài như mây cuốn, mắt phải biếc như hồ thu, v.v... Và chàng làm những bài thơ than khóc cho mối tình, tự coi là đã tan vỡ. Vẫn sầu mộng đấy, rên rỉ đấy nhưng chàng vẫn gạo bài một cách chuyên cần. Ai hiểu sao hết được những mâu thuẫn trong một con người? Cùng với hai người bạn ở chung nhà là Phát và Tĩnh, mỗi tối họ ra bãi cát ven sông để học bài thi, vừa quấn thuốc lá hút phì phào cho đỡ buồn ngủ và ra vẻ người lớn nữa.


Công việc đó vậy mà nhiều khi cũng gợi hứng cho những bài thơ ai oán, lẫn lộn mộng và thực. Nhưng tất cả đã không sao chối từ được thực tại, phải làm sao cho xứng với hột cơm mà cha mẹ vất vả lắm mới lo cho được. Năm đó, chàng đỗ đầu kỳ thi tốt nghiệp phổ thông được tổ chức cho cả Trung bộ. Thế là đi đâu chàng cũng được họ hàng làng nước ngợi khen. Sang chơi nhà bà bác Tiên, địa chủ giàu có nhất vùng, chàng được bà tự tay mời nước và đưa mắt nhìn cô cháu nội xinh đẹp tuổi vừa đôi tám: Học giỏi thế, ai có con gái người ta lại không muốn gả cho. Chàng nở mày nở mặt nhưng vẫn xem Nhụy như nhân vật trung tâm của mình, dù lâu rồi không được tin nhau. Chàng nghĩ không biết nàng đã hay mình thi đỗ chưa. Vẩn vơ một thoáng bâng khuâng, tất cả rồi cũng qua đi. Một buổi sáng, Tĩnh lên nhà chơi nói với chàng: Cậu học khá lắm, giờ phải vô đoàn thể để được nâng đỡ.


Đoàn thể nào?


Tớ nói vậy mà cậu không hiểu à? Vô Đảng!


Hóa ra vì học giỏi, chàng được Chi bộ nhà trường phân công Tĩnh đến tuyên truyền kết nạp. Chàng trả lời: Thôi để tôi nghĩ lại đã. Trước khi từ giã Tĩnh còn dặn dò: Đoàn thể sẵn sàng chờ đợi, hy vọng cậu sớm giác ngộ. Như mình.


Thực ra, chàng đánh giá Tĩnh rất khác. Trước đây trong năm, lúc họ cùng ở chung nhà, có một người bạn đến chơi. Anh này đeo một cái đồng hồ Printania bấy giờ rất quý, do gia đình từ vùng Pháp chiếm ở Đà Nẵng gởi cho. Người bạn đi tắm, để đồng hồ trên bàn học. Nó đã không có cánh mà bay. Không một ai nhận. Nhưng mới rồi, sau khi cùng đỗ trung học, Tĩnh đi hỏi vợ là một người em gái họ xa của chàng. Chàng thấy vị hôn thê của Tĩnh đeo nơi cổ tay trắng trẻo của mình chính cái đồng hồ đó. Chàng hiểu ra tất cả, nhưng không nói.


Chàng nghĩ: Một người như vậy mà lại đi giác ngộ mình về những lý tưởng cao cả ư? Thế là chàng lẩn tránh những cuộc săn đuổi kế tiếp của Tĩnh và đánh mất cơ hội để trở thành Đảng viên, điều bấy giờ ai cũng mơ ước nhằm có thế lực và được nâng đỡ mọi thứ. Giá lúc bấy giờ có một người nào khác đến tuyên truyền, với tất cả lòng thành của mình và với một phẩm cách mà chàng khâm phục thì dù chỉ mới học lớp ba như anh Chín Rớ chẳng hạn, có lẽ chàng cũng đã nghe theo. Và nếu thế, toàn bộ cuộc đời chàng sau này thay đổi hết. Con đường mà mỗi con người phải đi trong gần trăm năm của kiếp sống có khi chỉ được định đoạt bằng một sợi tóc. Sợi tóc đó là quyền năng của Thượng đế: số phận. Ở ngã rẽ nào thì cũng vẫn là nỗi thăng trầm với thành công và thất bại, hạnh phúc và đau khổ, tất cả đều như nhau, thật không lôgic chút nào.


 


25. NON BỒNG THÁNG CHÍN DẠO CHƠI


 


Không có gì thay đổi, chàng - tức Hạm- khăn gói vào Bồng Sơn học ban Tú tài, cách nhà sáu mươi cây số. Đường sắt không còn hoạt động, chỉ có những toa tàu đẩy lăn trên đường ray bằng sức người trong đêm khuya: xe goòng. Lớp học tập trung một thành phần thật hổ lốn: phần lớn con nhà khá giả hoặc viên chức từ thời Pháp. Có đứa còn nhỏ như chàng, Lê Khắc Bảo, Đặng Hữu, Nguyễn Cang ranh ma nhưng học giỏi. Có người đã đùm đề vợ con một đống như anh Yêm từng là Thừa phái Nam triều, bây giờ lạc giòng thời cuộc, không có việc làm, phải đi học cho vui. Họ ăn cơm ở nhà bà Hai, một phụ nữ Huế sồn sồn có tài nấu nướng, chỉ độc một thứ khoai mì có thể chế biến thành rất nhiều món thật hoa hòe.


Bên bữa ăn, câu chuyện nổ như pháo vì luôn luôn có những lời lẽ chọc phá của lũ trẻ trộn lẫn với những tranh cãi uyên bác và những quan điểm chính trị thao thao bất tuyệt của những đồng học lớn tuổi cỡ anh Sáu, anh Bảy như Tạ Chí Diệp, người sau này trở thành một chính khách lớn bí danh Nguyễn Phan Châu, bị Ngô Đình Diệm thủ tiêu. Đặc biệt tại hàng cơm trọ bà Hai, chàng cũng gặp các cụ làm trong Ủy ban miền Nam như cựu Án sát Bùi Đặng Độ, cựu Tri huyện Hồ Hưng và thỉnh thoảng, nhà trí thức lão thành mà giới Phật giáo ai cũng biết tiếng, bác sĩ Tâm Minh Lê Đình Thám, Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến hành chánh miền Nam Trung bộ thường cưỡi ngựa ghé lại thăm các bạn già.


Cuộc kháng chiến bề ngoài vẫn vui vẻ cả làng với các nhà hào phú thôn quê, các cựu quan lại cùng đám viên chức từng làm cho Tây cho Nhật. Lâu lâu, máy bay Pháp lại bắn phá các làng mạc. Nhiều người trai làng ra lính, như anh ruột chị Một Rơ đã ngã xuống vĩnh viễn ở Tây nguyên. Mùa màng thất bát, hàng tháng chàng phải về nhà lấy gạo nộp cho nhà trọ trên những chuyến xe goòng từ Bồng Sơn đi Tam Kỳ, những khuya rét mướt. Người trưởng ga xách cây đèn bão huơ lên vừa ra hiệu như đánh nhịp cho những người phu đẩy xe đồng loạt hè hụi nhau: Hò dô ta, là hố dô ta. Tiếng hò vang trong đêm đánh thức những con chim đêm ngủ đỗ trên ngọn dừa. Với cái bụng lúc nào cũng cồn cào, chàng trai tuổi mười bảy mình gầy thầy cơm thì ăn cái gì và bao giờ cũng ngon. Huống chi những nửa khuya về sáng mà qua biển Tam Quan, gió lạnh thấu xương, manh áo phong phanh, con tôm sú đỏ kho mặn nằm cong queo ngoan ngoãn trên dĩa cơm gạo lứt sẫm màu quả là đáng nhớ suốt đời. Trong toa xe, chàng thương nhớ vẩn vơ, nhớ người yêu, tự cho mình là kẻ lãng du mộng nhỏ mộng lớn đều không thành, lẫm cẫm làm thơ:


Đường quê núi dựng trập trùng


Rừng cây xao xác mông lung bốn bề


Ùn ùn vân cẩu trời quê


Một bước quay về muôn nỗi nhớ thương


Đêm mưa tấu nhạc dặm trường


Lòng ơi! Sông nước cố hương nhiệm màu (1949)


Miền Nam Ngãi hàng năm về tháng Mười một, có khi qua nhiều ngày đêm trời mưa bão bất tận rồi đột nhiên có những khuya đất trời như bỗng sáng ra, mưa tạnh gió ngừng và ánh trăng yên tĩnh, điềm nhiên vằng vặc.


Khoảng gần canh năm, chàng xuống ga Lâm Điền đi bộ về nhà, chiếc túi vải trên vai, có khi lẫm đẫm lội qua những vũng ruộng ngập nước. Đến góc vườn, qua hàng tre già thả lá đầy đường, chàng ngạc nhiên thấy cổng mở toang và cha đang đứng chờ như tự bao giờ qua hà hải thời gian.


Cha hỏi:


Con về đấy à?


Sao cha biết mà dậy sớm vậy?


Cha nghe có tiếng xe goòng vọng lại.


Chàng hiểu. Xe goòng chạy hàng đêm, nhưng cha có tiếng réo gọi riêng, của tâm linh, của tình phụ tử, của nỗi chờ mong mơ hồ nhưng tha thiết để biết chắc là khuya này đứa con áp út phóng đãng trở về. Nhà không còn ai, anh Cả đã ra ở riêng. Anh Sáu cùng vợ con lên sống trên An Ba nơi trường Lê Khiết dời về mang cả thằng Út theo học. Anh Bảy đi dạy ở Bình Sơn, anh Mười bặt tin vì cách bức biết bao sơn khê và khói lửa chiến tranh. Tất cả vắng lặng, tóc cha đã bạc. Cha đem thếp đèn dầu phụng từ bàn thờ xuống, bật quẹt thắp, khói lù mù lên soi hai cái bóng chập chờn linh loạn trên vách. Chàng thấy mình đã lớn, mười tám tuổi ta rồi còn gì. Cha giụi mắt, che một cái ngáp dài:


Buồn quá, tao mới làm được bài thơ.


Rồi không đợi chàng hỏi thêm, cha ngâm như một lời ru:


Ngũ thập niên dư, vạn sự không


Khả lân bạch phát đối thanh đồng


Cổ nhân tằng hữu đào hoa tại


Ngã thính cô phòng nhất dạ phong


 


Hơn năm mươi tuổi hai tay trắng


Tóc bạc chuyện trò với trẻ thơ


Người xưa còn có hoa đào bạn


Ta nghe gió thổi, tấm thân cô.


Chàng hít hà. Không phải để vừa lòng cha mà chàng thật sự xúc động.


Phải, đời cha còn gì? Đời cha sinh bất phùng thì, đời con lận đận vui gì, nữa cha! Thương cho cha thì phải, nhưng bỗng dưng chàng cũng thấy thương mình. Chỉ còn một mình, đêm nằm nghe tiếng gió khuya, tội nghiệp cha tôi, thì ra người vẫn trong giòng nghiệp mệnh, suốt đời cô đơn.


Sáng dậy, chàng thăm hàng tre sau nhà. Ô! Sao lá rụng nhiều thế nầy, bao lâu rồi không có vết chân người, đất lạnh, nấm mối mọc lên lú nhú. Chàng la lên: Mẹ ơi, bắt được nấm nầy. Mẹ chạy ra, mừng rỡ: Ừ, để hái khế chua mà nấu canh với nó, ngon lắm đấy. Mẹ không giấu được một vẻ ưu phiền nhè nhẹ thường thấy ở người lớn tuổi khi con cái như lũ chim nhỏ đã bắt đầu đủ lông cánh. Rồi chúng bay đi thôi, cái ổ tranh rạ khô khốc, xác xơ sẽ chỉ còn là kỷ niệm. Tất cả bé thơ của chàng ở đấy. Nhưng bây giờ đã có những hình ảnh khác xâm lấn tâm hồn chàng. Thật vậy, Chủ nhật đó chàng lên thăm anh chị Sáu. Chàng hỏi Chót, em út của mình:


Vậy cô Nhụy có còn học lớp mày không?


Còn chứ, vô hạng giỏi. Lâu lâu có tới đây thăm anh chị Sáu và thằng Uyên.


Chàng giả vờ:


Tao là bạn cùng lớp với anh cô ấy mà mấy năm rồi không gặp, muốn hỏi thăm. Mày biết cổ ở trọ đâu không?- Chàng làm như không quan tâm lắm, cố tình giấu giếm.


Chót ra vẻ thành thạo, mách lẻo:


Tôi hai lần theo thằng Thống tới nhà chị ấy rồi. Này nhé, anh xuống gần cầu sông Thoa, ngó vô phía nam, qua cánh đồng rộng cả một vùng tre nứa um tùm, theo con đường mòn giữa hai bờ lúa mà vào. Hỏi nhà ông giáo Thận, có cái ngõ ngói.


Cơm trưa xong, chàng lấy cớ phải về chuẩn bị để đi Bồng Sơn trong chuyến goòng tối, vội vã xin phép anh Sáu, lại chiếc mũ cối màu tro được bọc một miếng ni lông trong để che mưa, dép râu, quần dài tây xita, ra vẻ người lớn.


 


26. THỬ ĐÁO AN BA EM Ở TRONG VÔ HẠN TRE LÀNG...


 


Em ở trong vô hạn tre làng. Chàng lẩm bẩm như vậy khi băng qua cánh đồng dưới nắng chiều, gió thổi phấp phới, sóng lúa dạt dào. Bên kia bao nhiêu là tre chạy dài đến tận chân núi. Nhà ông giáo là một ngôi nhà cổ, lối vào cây cối mọc đầy, nước mưa vẽ một vệt cát dài nơi đầu ngõ. Chàng gõ cửa, chờ một lát lâu, một cậu bé chạy ra đã làm chàng thất vọng: Cả nhà đi vắng. Chủ nhật, các cô cậu học trò ở trọ đều về thăm nhà. Chàng tự trách mình đi không chọn ngày. Và đoạn đường chỉ hơn vài dặm từ đó về Thi Phổ nặng trịch dưới gót chân chàng.


Thử đáo An Ba sử ngã sầu


Cố nhân vân mấn, lệ thùy châu.


 


Ngã tùng cửu nguyệt giao Bồng lãnh


Dĩ độ tam thu biệt xứ du...


Đó là bài thơ chữ Hán đầu tiên của chàng, nhớ hồi nhỏ mình có thói quen sau bao năm được gối đầu vào cánh tay của cha đang nằm đọc Tam Quốc Chí, mà dò theo từng dòng riết rồi cũng thuộc mặt chữ. Hè rồi chàng đã mượn của một người Tàu làm nghề bán thuốc bắc ở chợ Thi Phổ cuốn Đường Thi Tam Bách Thủ, lõm bõm đọc và cất công chép lại toàn bộ rồi bắt chước cha ngâm nga lẫn với những bài toán lượng giác, hình học giúp quên đi cái hình ảnh ma quái, mộng mỵ của một người con gái có mái tóc mà giờ đây chàng nghĩ đã chấm ngang vai.


Chàng ngâm nga một bài thơ chữ Hán.


 


27. BÁT CHÁO GÀ, VỊ THUỐC TIÊN CHO ANH BỘ ĐỘI  ỐM


 


Cuối năm học, cả nước chuẩn bị tổng phản công, học sinh xếp sách vào bộ đội. Ngày ấy chàng ốm yếu, chỉ làm bàn giấy cho một cơ quan đóng ở miền núi Bình Định, sâu sốt rét lại càng làm cho chàng xanh như tàu lá, gầy như cây sậy và tóc rụng gần như trọc. Một hôm đơn vị dời chỗ, chàng không còn sức để theo chân đồng đội, bị bỏ lại nhà một mẹ chiến sĩ. Giữa cơn sốt hâm hấp người trong mái tranh nghèo tối om, chàng lục cái cặp cũ bỏ lại của Tại, một đồng đội vừa theo đơn vị hành quân. Tò mò, chàng thấy một bức tranh vẽ trên giấy bìa croquis màu trắng, hình một cô gái thả tóc mây bay trong gió, đôi mắt mơ màng. Tất cả chỉ bằng viết chì đen nhưng đẹp lạ lùng, dưới có bốn câu thơ Hoàng Hạc Lâu của Thôi Hiệu mà Tản Đà dịch một cách tài hoa:


Hạc vàng ai cưỡi đi đâu


Mà nay Hoàng Hạc riêng lầu còn mơ


Hạc vàng đi mất từ xưa


Ngàn năm mây trắng bây giờ còn bay


Đẹp biết bao, những người trẻ tuổi ra đi kháng chiến bấy giờ, thường là mang trong tim hình ảnh của người yêu những ngày hẹn về. Nhưng vài ngày sau, tin mặt trận đưa về là Tại đã hi sinh.


Thương Tại biết bao, chàng đốt bức tranh vừa tìm được. Bức tranh đẹp nhất theo như chàng cảm nhận trong đời, giữ nó làm của riêng độc chiếm trong tâm khảm. Bà mẹ chiến sĩ nghèo rớt mồng tơi thấy chàng nằm liệt đã nhín ra nửa bơ gạo nấu cháo cho chàng. Húp xì xụp trong bóng tối giữa vùng thung lũng sương chiều xuống trắng cả vườn đồi, chàng hồi tỉnh nhưng vẫn không đủ sức chống gậy ra sân, đêm nằm thao thức và sự mất ngủ đã hữu ích. Nửa đêm, chàng nghe có tiếng gà quác ở phía sau. Chàng kêu: Mẹ! Mẹ! Mẹ tung chiếu chạy ra, khua gậy đuổi hì hục trong bóng đêm thì lượm được một con gà giò bị cáo vồ chưa kịp kéo ra khỏi chuồng.


Nhờ vậy sáng hôm sau mới có cơ hội hãn hữu, chàng được thưởng một bát cháo gà với mấy lát huyết, vài miếng thịt và nguyên một quả tim. Chao ôi! Như một phép thần, như thang thuốc tiên đại bổ của Hoa Đà tái thế, ăn xong, chàng ngủ lịm đi tới gần trưa, có cái cảm giác như mình vừa được đưa vào người cái sức lực hàng chục năm thần công lực của võ học. Bát cháo gà cho một cơ thể thiếu đói lâu ngày đã như thần thang của Hải Thượng Lãn Ông, chẳng khác nào mấy cái đọt tre trong bài toán cộng hồi sáu tuổi, cả hai đều là big bang. Chàng xin phép bà mẹ chiến sĩ, chống gậy lên đường. Về tới quê, mẹ chàng chạy ra đầu ngõ dìu chàng vô. Mẹ bắt chàng nghỉ ngơi, tắm rửa, bón từng muỗng cơm, giặt vá lại bộ đồ xita. Chẳng mấy lúc chàng đã lành lặn đẹp mã thư sinh.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info


 





1] Tiếng La-tinh, nghĩa là tội ác đáng khen!


 




[2] Bất hiếu có 3 điều, không con nối dõi là lớn nhất.




[3] Kinh đô xưa: TP Huế.




[4] Năm 1949.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 18.06.2018
Trại súc vật - George Orwell 13.06.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.06.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 11.05.2018
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 07.05.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 07.05.2018
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 07.05.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
xem thêm »