tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19701539
Những bài báo
07.09.2013
Nhiều tác giả
Nhớ Chu Hoạch

Tưởng niệm sáu năm ngày nhà thơ, họa sỹ Chu Hoạch qua đời: 04-10-2007.


 Vĩnh biệt hoạ sĩ - nhà thơ Chu Hoạch


"Vào hồi 23 giờ 21 ngày 4-10-2007, hoạ sĩ - nhà thơ Chu Hoạch đã từ trần, thọ 67 tuổi". Tin do một người bạn nhắn vào máy di động của tôi chắc từ giữa khuya. Buổi sáng, mở máy, thấy ngay một tin nhắn, mà lại là một tin buồn, lòng lặng đi xa xót.


Sau ngày thống nhất đất nước vài năm, tôi về công tác tại Hà Nội. Trong câu chuyện bạn bè thù tạc nơi quán rượu, anh em hay nhắc đến các nhà thơ "chân đất" của một thời như Chu Hoạch, Phan Đan, Lê Huy Quang, Tường Vân... và hay đọc những câu thơ của họ một cách rất đắc ý, những câu thơ chỉ "xuất bản miệng" từ quán này sang quán khác.


Tôi rất thích những câu thơ Chu Hoạch như: "Thu rất thật thu là lúc chớm đông sang/ Em rất thật em là lúc em hoang mang lựa chọn/ Anh rất thật anh là biết ra đi nhẹ gọn/ Để đỡ cho em mất một lời chào/ Để đỡ cho trời một chút gió xôn xao". Câu chuyện về các nhà thơ "chân đất" kiêm hoạ sĩ tài hoa thường được đem ra "nhắm" ở các cuộc rượu khiến tôi sinh tò mò, muốn gặp.


Chu Hoạch là người tôi gặp muộn nhất trong số đó, là một người dung dị, dễ gần, cởi mở. Anh đọc cho tôi nghe rất nhiều thơ. Số sổ tay thơ của Chu Hoạch làm từ ngày anh đi bộ đội, rồi đến lúc ra làm nhân viên công trình đô thị chuyên đi vét cống ngầm dưới mặt đất HN và tới những ngày lang thang chỉ làm thơ và vẽ, hình như chồng lên còn cao hơn cả chiều cao của anh.


Chu Hoạch vẽ và làm thơ cũng như thể nhập đồng. Làm thơ xong và vẽ xong thì mang đến các quán rượu triển lãm. Bức nào cho "đi ở" được thì là có ít tiền để sinh sống. Còn nói chung là cứ "gặp đâu uống đấy" cùng bạn bè.


Thời ấy đói khổ, nhưng con người thương quý nhau hơn bây giờ. Mấy bài thơ mà Chu Hoạch "xuất bản miệng" không biết bao nhiêu lần khiến nhiều người thuộc lòng, trong đó có bài tôi đã kể ở trên, còn bài nữa cũng dễ thuộc vì ngắn: "Có một nấm mồ không đáy: - thời gian - Có một nỗi buồn không tan trong thời gian không đáy/ Đó là nỗi buồn của chiếc giày chân trái/ Không tìm thấy chiếc giày chân phải để thành đôi".


Nhưng độc chiêu nhất là các bài "Cống", "Quê" và "Gió đầu ô", đến nỗi nhiều người gọi Chu Hoạch là "thi sĩ cống" hoặc "thi sĩ quê". Anh luôn có một niềm tin hồn nhiên rằng dù thế giới có tốc độ đến mấy, hiện đại và tiện dụng đến mấy thì "mãi mãi tình yêu cứ là điều bí mật/ Và thơ tình vẫn có giá riêng".


Bài "Gió đầu ô" có nhiều người thích thú chép vào sổ của mình. Bởi thế, có người khi thấy bài này trong sổ tay Trần Vũ Mai đã nhầm "Gió đầu ô" là của Trần Vũ Mai. Bài này và nhiều bài trên, Chu Hoạch đã in vào tập thơ của mình vài năm nay sau khi được trao giải thưởng ở Hội Văn nghệ Hà Nội.


Còn về vẽ, Chu Hoạch cũng đứng riêng một "cõi" chẳng giống ai. Tranh Chu Hoạch luôn bị ám ảnh bởi gam màu trầm với những nét khúc khuỷu đan chéo nhau thường toả ra một nỗi buồn khó tả.


Cứ sống, cứ yêu, cứ làm thơ, cứ vẽ quên thời gian, quên đói nghèo, Chu Hoạch xác tín rằng những gì mình rung cảm thật, dâng hiến thật sẽ còn lại mãi với cuộc đời. Bởi thế, bên anh luôn có những người bạn chia sẻ cùng anh, nhất là những năm tháng cô đơn cuối đời.


 


Cũng bởi thế, đối với anh, cái chết là điều mà anh đã tự chuẩn bị cho mình từ lâu: "Ngày hôm nay, tôi nhắc đến chữ chết nhiều/ Chết đâu phải là điều cần tránh/ Chết đó là phần chia tư chiếc bánh/ Mỗi đời người nên biết cách ăn...".


Không biết có phải vào cuối ngày 4.10.2007 đã đúng là lúc định mệnh nhắc anh chưa mà anh đã sớm ra đi khỏi cõi đời còn nặng nhiều duyên nợ này. Ra đi với nhiều nỗi băn khoăn: "Lời trăn trối dành cho các con, tôi sẽ hỏi: /Bố có phải người vô tội không con?".


Nhưng với những gì mà anh để lại, anh có thể yên lòng "hoá đá lặng câm" được rồi.


Vĩnh biệt anh!


Nguyễn Thụy Kha


laodong.com.vn


Một nhà thơ Hà Thành bị lãng quên với “Gió đầu ô”


Nhiều người đã quen đọc những bài thơ, nghe những bản nhạc về Hà Nội mà trong đó nhan nhản hai chữ “Hà Nội”, “Hà Thành”, “Thăng Long”…  Nhưng khi đọc một bài thơ không hề nhắc một chữ nào đến Hà Nội mà cái khí vị của mảnh đất vừa thanh lịch lại vừa giản dị, vừa hào hoa lại vừa lãng du ấy vẫn thấm đẫm trong tâm hồn ta, thì đó chính là bài thơ “Gió đầu ô” của nhà thơ lang thang Chu Hoạch.


Gió đầu ô vào mùa chớm lạnh


Mạnh hơn và có lẽ sạch hơn


Hè bạc nắng rõ đường viền ô gạch


Gió đầu hè che ngực tấm chăn đơn


Cả trời nữa cũng chuyển vần vân sắc


Tán bàng xanh đỏ rám tới đường gân


Cũng không thiếu những cành khô ngúc ngoắc


Chẳng buồn giấu mặt giữa không gian


Thu có vẻ như cời than bếp lửa


Ta lại buồn như sắp sửa vào yêu


Ta muốn yêu như kiểu những con tàu khao khát mãi một màu viễn xứ


Ta muốn yêu như thuở hồng hoang dã thú


Tổ tiên loài người vốn sợ cô đơn


Ta lại buồn như sắp sửa vào say


Say cuồn dại rồi lăn quay xác thịt


Ta lại sợ cái già đập cửa


Đã đổi buồn vui lấy được bao nhiêu


Biết chạm cốc cùng ai trong ý nghĩ


Biết tìm mắt ai màu tri kỷ


Ai bảo trót sinh ra làm kiếp ôm chân thần Vệ Nữ


Hỡi anh chàng ra vẻ phớt buồn đau


Ta đã đi rất lâu sao chưa hết một chiều sâu khuôn mặt


Một lần trở lại chợt nhận ra em


Em là một màu em có sắc tên riêng


Ta không muốn lôi em ra khỏi nơi em đứng


Đen anh đứng kề vào để nổi trắng em lên


Gió đầu ô vào mùa chớm lạnh


Mạnh hơn và có lẽ sạch hơn


Mẹ ơi mẹ ở lại nhà


Con bất hiếu con ra đi từ sớm


Mẹ nhớ phần cơm con ủ ấm


Ngoài kia lạnh lắm gió đầu ô


Không giống những nhà thơ salon, ôm ấp giấc mộng lãng mạn theo một bóng hồng xa vời, Chu Hoạch là thi sĩ của đường phố – những góc phố Hà Thành. Ông thuộc thế hệ thơ cầm bút từ sau năm 1975 và cũng mới chỉ qua đời vào năm 2008 (tác giả viết sai, CH mất ngày 04-10-2007-TX). Tóm gọn lại số phận của Chu Hoạch, có thể mượn mấy câu thơ:


“Quê hương thời có, cửa nhà thời không


Một đời Nam, Bắc, Tây, Đông


Bạn bè sum họp, vợ chồng biệt ly”


Tản Đà


Chu Hoạch không in nhiều thơ, người ta nhớ thơ ông qua các trận rượu của ông, trong đó nổi tiếng nhất là bài thơ “Gió đầu ô”. Mỉa mai thay! Bài thơ là nguyên nhân khiến ông bị quy kết là thành phần tiểu tư sản, phải cải tạo bằng cách cho đi móc cống. Nhưng cũng chính bài thơ ấy sau này, người ta chấm cho ông cái giải thưởng thơ danh giá của Hội nhà văn. Nhưng với Chu Hoạch, ông chẳng thèm quan tâm tới mấy cái giải thưởng, bài thơ, ừ thì “mua vui cũng được một vài trống canh” đưa cay giúp bạn bè.


Lần đầu tiên tôi được biết đến bài thơ cũng trong tình cảnh như thế. Khi ấy, nhà thơ đã ngà ngà say sau một trận rượu từ “vươn thở” đến “tiếng thơ” cùng mấy tay “ẩm giả”. Trời hôm đó se se lạnh và ông bắt đầu nâng chén rượu đọc trong nước mắt.


“Ta lại buồn như sắp sửa vào say


Say cuồng dại rồi lăn quay xác thịt…


Ta lại sợ cái già đập cửa


Đã đổi buồn vui lấy được bao nhiêu!”


Bài thơ mang nặng trĩu nỗi đau thân phận của cả đời người, cái “say” cũng là cái “say” như muốn quên hết cả sự đời. Sinh ra trong thế sự đảo điên, trong cái cảnh “hoa sen xuống dưới, bèo trèo lên trên”, người ta chẳng có thể biết làm gì hơn ngoài việc say, say trong rượu, trong ma túy, say trong nỗi sầu nhân thế.


Mở đầu bài thơ, tác giả đã đưa ra một khái niệm “gió đầu ô”. Trong từ điển Tiếng Việt, có lẽ sẽ chẳng thể tìm được giải nghĩa nào cho ba chữ này. Tôi xin mạn phép được cắt nghĩa theo cách hiểu của mình như sau. Thành cổ Hà Nội gồm có tất cả 5 cửa ô: ô Quan Chưởng, ô Cầu Dền, ô Chợ Dừa, ô Cửa Bắc, ô Cửa Nam. Cửa ô là nơi bắt đầu để ai đó có thể bước vào thành Hà Nội. “Gió đầu ô” là một cách gọi chung cho những cơn                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                   gió đầu mùa, cho dù là mùa đông hay mùa hạ. Miêu tả cơn gió ấy, tác giả dung hai tính từ rất giản dị: “mạnh” và “sạch”. Không phải những cơn gió “đìu hiu” hay “xao xác”, mà “mạnh” – một vẻ đẹp đầy nam tính. Lạ lung hơn cả là tính từ “sạch”, thể hiện tất cả sự trong lành, tinh khiết của luồng không khí “chớm lạnh”. Và cơn gió đầu ô ấy đã đưa ta về một góc phố rất Hà Nội với “hè bạc nắng rõ đường viền ô gạch”, “những cành khô ngúc ngoắc – chẳng buồn giấu mặt giữa không gian, tán bàng xanh đỏ rám tới đường gân”… giữa một bầu trời “chuyển vần vân sắc”. Thật là một bức tranh u uẩn của một buổi vào đông.


Tiếp sau đó là dồn dập những khao khát của một chàng thanh niên trí thức tiểu tư sản, ôm ấp trong bao nhiêu thang bậc:


“Ta muốn yêu như kiểu những con tàu khao khát mãi một màu viễn xứ


Ta muốn yêu như thuở hồng hoang dã thú


Tổ tiên loài người vốn sợ cô đơn”


Và nỗi cô đơn ấy cứ nhân lên khi con người gặp phải những va vấp trong cuộc đời – nỗi đau, sự thất bại trong tình yêu, khi tất cả thế giới quanh ta đều quay lưng lại với ta và ta rơi vào trong tuyệt vọng. Lúc ấy, ngay cả một tri kỷ có thể “chạm cốc cùng ta trong ý nghĩ” cũng không. Bài thơ quả là một khúc du ca của những kẻ “sinh ra làm kiếp ôm chân Thần Vệ Nữ – Hỡi  ạnh chàng ra vẻ phớt buồn đau”


Tác giả không tả nhiều về cảnh sắc hay cái thú ăn chơi của người Hà Nội, nhưng rõ ràng cái tâm thế ngồi nhâm nhi tách café, giữa vài ba bức tranh phố phải tương phản với phố phường tấp nập ngoài ô cửa, để thưởng thức tuyệt phẩm thơ để mà chiêm nghiệm về sự đời… lại khiến ta có cảm giác Hà Nội hơn bất cứ một bài thơ nào khác nói ra rả hai chữ “Hà Nội”. Đến cuối bài thơ, tác giả lại day lại hai câu:


“gió đầu ô vào mùa chớm lạnh


Mạnh hơn và có lẽ sạch hơn”


Nhưng luồng gió đầu ô này không chỉ phác cho long người đôi nét buồn man mác của đất Hà thành mà nó còn xoáy sâu vào lòng người đọc.


“Mẹ ơi mẹ ở lại nhà


Con bất hiếu con ra đi từ sớm


Mẹ nhớ phần cơm con ủ ấm


Ngoài kia lạnh lắm gió đầu ô”


Một tâm trạng tưởng như chẳng ăn nhập gì với mạch thơ trên nhưng lại khiến bất cứ ai xa xứ đề phải rỏ lệ. Sau một đời người phiêu lãng, ta lại nhớ về “mẹ”, ta lại mong được quay trở về trong vòng tay yêu thương của “mẹ”. Đôi khi đọc bốn câu thơ kết ấy lên ta lại có cảm giác như lời tuyệt mệnh, lời của vong linh một khách giang hồ đang tự chiêu hồn mình. Nhà thơ Chu Hoạch qua đời cũng trong những ngày gió đầu ô thổi, sau một trận say rượu đến “điên cuồng rồi lăn quay xác thịt”. Gia đình ông không đoàn tụ ở bên ông vào những ngày cuối nhưng bạn bè gần như đều có mặt gần đông đủ. Và cơn gió đầu ô đã đưa tiễn ông về với thế giới.                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                          Cơn gió đầu ô ấy đưa về cho ta mùi hương của một Hà Nội thuở xưa giữa cơn lốc dữ dội toàn cầu hóa. Cũng cơn gió đầu ô ấy mang theo chút hồn Hà Nội vượt qua khoảng cách hàng vạn dặm để xoa dịu nỗi nhớ quê hương của người dân xa xứ.


Ngọc Cầm


phiatruoc.wordpress.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »