tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286136
Tiểu thuyết
07.09.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

 


19. LÊ HỒNG LONG KHÓC 80 NĂM NÔ LỆ


Nhưng cái hình ảnh khiến nó nhớ rõ mồn một đến về sau nầy là cuộc mít tinh ở cấm Ma Gia độ tuần lễ sau khởi nghĩa. Lần đầu tiên trong đời nó thấy đông đảo người như thế lũ lượt từ các xã xung quanh Thi Phổ kéo về, đi chân đất, kẻ gậy gộc, người dao cuốc, tất cả đều cầm cờ đỏ sao vàng, đầu đội nón lá hay quấn khăn, phần lớn là áo quần bà ba đã bạc màu và rách vá. Ai cũng kháo nhau là có đại biểu ở tỉnh về. Mặt bằng tập hợp là lung gò mả rất rộng ở làng, sát đường cái quan bên cạnh chợ. Những nấm đất cỏ khâu xanh rì giúp đám trẻ con ngồi trên khỏi phải kiễng người lên vẫn thấy được diễn đàn là mặt bằng một ngôi mộ lớn bằng gạch xi măng cao và rộng, trên có một cái bàn gỗ tạp khiêng từ lớp học vỡ lòng trong xóm ra. Các đại biểu thượng cấp ngồi trên chiếc băng gỗ dài, sau lưng là một lá cờ to hơn chiếc chiếu hoa căng thật thẳng như bức màn, bằng hai cây tre đực già, cứng cáp chôn sâu dưới đất, chưa có micrô, bình bông và tượng Cụ Hồ như sau này.


Diễn giả được giới thiệu là đồng chí Hồng Long. Khi vị này đứng dậy, cúi chào đồng bào, Hạm thấy đó là một người cao lớn, bận quần tây dài, áo sơ mi trắng, cỡ tuổi anh cả Hạm, ngoài ba mươi. Ông nói:


Kính thưa đồng bào! Ôi, đồng bào ơi! - Rồi ngừng một chút, giọng đột nhiên đổi ra bi lụy: ông ôm mặt khóc. Khóc thê thảm một chặp, ông lấy tay gạt nước mắt đang chảy ròng ròng trên má, vừa nghẹn ngào:


Ôi, Tổ quốc ta nhân dân ta nào có tội gì mà trải qua 80 năm nô lệ.


Hạm cảm động lắm, nó không nghe hết, không hiểu hết những gì ông nói sau đó, vì ông nói thao thao bất tuyệt, rất dài về nỗi khổ của dân ta và kêu gọi mọi người hãy vùng lên cứu nước, giành độc lập tự do hạnh phúc. Nó rất phục ông Hồng Long. Thế là nó có thêm thần tượng nữa ngoài anh Chín Rớ. Nhưng hai hình ảnh trái ngược nhau: anh Chín quê mùa còn ông Hồng Long trắng trẻo lời lẽ văn hoa với một số câu chữ Hán xen vào. Trong ban tổ chức có mấy người cũng làm Bình dân học vụ ở Thi Phổ, cái xã rộng, giàu có và nhiều người đỗ đạt nhất trong huyện. Đêm đó về nhà, trong giấc mơ nó thấy rất nhiều người đi, cờ quạt sặc sỡ lẫn lộn với hoa bướm. Cuộc cách mạng khá êm đềm tươi vui.


Sáng hôm sau anh Mười hỏi: Mày có biết cái ông hôm qua là ai không?


Nó nói: Làm sao biết nổi, ổng đẹp người, cao lớn, thuộc về cấp cao, cao lắm. Anh bĩu môi ra chừng khinh bỉ cái đầu óc kém cỏi của nó:


Ông Hồng Long, tức ông Lê Chẩn, bạn của anh Bảy đó.


Thật là một phát hiện mới mẻ. Cái con người cao cả đó hóa ra rất quen thuộc với nhà nó. Cha nó đã kể nhiều chuyện về nhân vật này. Hồi đó, có lần Hạm phạm tội nói dối, cha bắt nắm xuống đánh cho năm roi, vừa đánh vừa giảng giải: Chết thì chết, nhứt sanh không được nói dối. Tôi mà dối vua, con mà dối cha, như Tần Cối, a Man[1] thì nước loạn nhà tan. Mười năm trước, tao dạy chữ Nho ở trường làng, trong lớp có thằng Lê Chẩn trắng trẻo thông minh. Một ngày trời mưa to nước lớn, tao sợ mấy đứa nhỏ qua cầu Mương Chảy, e có đứa trượt chân té xuống chỗ sâu. Tao kêu thằng Chẩn, biểu nó xuống coi thử ra sao. Đi một chặp, nó trở về báo cáo:


Bẩm thầy nước lụt dâng cao, con đã truyền lệnh thầy cho nghỉ học. Tới gần trưa, lòng tao vẫn không yên, bèn áo tơi nón lá, tao tới tận chỗ xem sao thì thấy mặc dù mưa to, cầu Mương Chảy vẫn không bao nhiêu nước, đường đến trường khô ráo. Tao đã phạt Chẩn cái tội nói dối đó hai chục roi. Đấy, Chẩn trong con mắt của cha, một Lê Chẩn nói dối.


Sau khi đỗ tiểu học, ngoài vài mươi tuổi thì Chẩn lấy vợ, tham gia hội kín bị bắt giam gần một năm, được cha anh xin với quan án cho về, Chẩn đóng vai một nhân sĩ miệt vườn, có tiệm thuốc bắc ở Sông Vệ, nhà có bộ đồ trà xưa, có bình thuốc lào bằng gỗ mun cẩn xa cừ. Chẩn bận áo lụa trắng vạt hò, khi coi mạch kê toa, khi làm câu đối chữ Nho và đặc biệt đánh cờ tướng rất cao. Chẩn tự hào là mình biết dùng quân mưu lược và phóng khoáng như Khổng Minh, thích giao thiệp với người có học. Chẩn kết với anh Bảy dù tuổi tác hơn kém nhau gần một giáp. Có lần anh Bảy trong một ván cờ may mắn dồn Chẩn vào thế bí, hào hứng ra đùa một câu đối: Lê chân đến nhà Lê Chẩn lể chân. Không đối lại được, từ đó Chẩn khen anh Bảy là người thông minh. Đấy, lại khuôn mặt thứ hai của Lê Chẩn, một Lê Chẩn hào kiệt.


Bây giờ nếu cái ông Lê Hồng Long này cũng lại đích thị ông Lê Chẩn thì một khuôn mặt thứ ba xuất hiện, một Chẩn cách mạng. Từ đó danh tiếng của Chẩn nổi như cồn, hãy khai tử Lê Chẩn của ngày xưa, Chúa đã cho phép chúng ta đón nhận từ Chẩn một nhân vật khác: Lê Hồng Long. Những trí thức Quảng Ngãi mỗi khi chê bai cán bộ Việt minh, thường đưa tay làm cử chỉ gạt nước mắt của Lê Hồng Long để đùa cợt với nhau: nước mắt cá sấu Lưu Bị. Đầu năm 1946 Hồng Long đắc cử dân biểu đại diện cho Quảng Ngãi. Anh hoạt động rất tích cực, ngày càng cao ráo đẹp mã, có thể làm rung động được trái tim băng giá của vợ một dược sĩ thuộc một gia đình thế gia trong vùng từng bị xử tử trong khởi nghĩa, khiến cho người quả phụ còn trẻ, xinh đẹp và tràn trề sức sống này từ chỗ bất mãn với chính quyền cách mạng chuyển thành rất nhiệt tâm vì quyền lợi giai cấp công nhân. Bà này đi lại với anh.


 


20. THẦY GIÁO THI KHỎI BỊ CHÔN SỐNG


 


Hãy trở lại với tuổi mười lăm, Cách mạng tháng Tám vẫn là một cái gì mới mẻ dù khẩu hiệu đánh đổ phong kiến là lớp người thân thích gồm ông ngoại, ông nội, bác, cậu, bạn bè của cha nó từng làm quan qua mấy triều vua. Làng Thi Phổ bây giờ mới có mấy người đậu trung học, cách mạng cũng không quá khủng khiếp như ở các xã gần bên mà sau này nó được biết: ở làng Bầu Súng quê của chị Cả, gần hết thanh niên các gia đình khá giả đều bị trói tay chân và thả xuống vực sâu. Tại xóm Bầu, chỉ riêng anh em nhà họ Hồ mà kẻ đi du kích Ba Tơ trở về cũng đã chặt đầu đám bà con của mình làm hương lý có đến vài chục mạng; trong khi viên tri phủ nổi tiếng ăn hối lộ và dê xồm từng dẫn lính Tây về đốt phá nhà dân thì lại được tiếp tục làm Tòa án Liên khu.


Chúa và Phật đã nhiệm màu ban cho mỗi người một định mệnh. Trong tình hình hỗn loạn bấy giờ, kẻ quyết định cho một đời người, một gia đình nhiều khi chỉ là một anh nghèo rớt mồng tơi chưa bao giờ được biết tới chữ a, b, c và chưa ra khỏi chợ Thi Phổ. Đó là trường hợp của Thập Thị, người trai cày mướn ở nhà Hạm, có cái sức ăn hết ba lon gạo, một rổ rau sống, vài cân thịt và nốc cạn một chóe rượu, một mình một chiếu ở đình làng, để coi việc tuần phòng. Cái thân thể đẫy đà của y lại được nguồn thực phẩm dồi dào từ các ngón nghề mọn: trộm gà thuốc chó tự bồi dưỡng, càng trở nên cường tráng. Y không cần phải học võ nghệ mà mắt thì như cú vọ nhìn được cả trong đêm tối và cú đập đánh của y thì như trời giáng, thật đắc lực cho nền trị an của hai chính phủ bảo hộ và Nam triều tại cái làng quê nhỏ bé này. Nhà y cũng nuôi một đàn gà chó nhưng những bữa tiệc của y thì nhắm vào lũ gà chó của láng giềng. Khi có mồi, y tận tình kêu mời bạn bè nên đối với ai, y cũng được hữu hảo. Trở thành đệ tử của anh Chín, y được tin cẩn là lẽ tự nhiên. Ngồi trên chiếc ghế đẩu, cánh tay trái mang chiếc băng đỏ, tay phải cầm một đầu sợi dây buộc vào một cọc tre của chiếc quán xiêu vẹo bên kia đường cái quan, y chặn lại để tra hỏi bất cứ người lạ nào qua lại.


Chiều hôm đó có một người bận quần ka ki vàng, áo sơ mi trắng, đội mũ cối ôm cặp đi qua, vẻ mặt không dấu nổi sợ hãi.


Ê, anh kia đi đâu?- Thị quát.


Người đàn ông dừng chân lí nhí:


Dạ, tôi vừa dự lớp bổ túc Sư phạm ở tỉnh về.


Thị hỏi, vẫn gay gắt:


Họ tên gì, ở đâu?


Dạ, Lâm Xuân Thi.


Nhớ mang máng là ở trong huyện có một họ Lâm giàu có và theo đạo Cao đài. Y nghĩ: Đích thị rồi, tên này phải là phản động có cỡ. Y mừng quá, nghĩ mình chắc sắp lập được công to, bèn tước ngay cái cặp và trói Thi thật chặt, giải về xã gấp.


Tại đây người ta phát hiện thêm là ngoài cái tội đi dạy tiểu học cho Tây, Thi còn là cầu thủ đội banh tỉnh, một công cụ của đế quốc, nhất là Thi làm rể bà viên Hợi, một hào phú trong vùng.


Lai lịch đó đủ cho Thi lập tức bị bịt mắt, ngồi chờ ngoài hè đợi đến nửa đêm sẽ được dẫn xuống gần bãi biển Cà Đó, cùng với những người khác bị xô xuống giếng và lấp đất lại. Số phận run rủi họ gặp gỡ nhau trong một hố chôn tập thể.


Thi đang run lập cập như chờn vờn nổi trôi trong cái cảnh giới mênh mông tàn nhẫn khắc nghiệt một cách vô lý của định mệnh. Không còn được phép nhìn thì lỗ tai của con người trở nên rất thính. Trong đen tối của tuyệt vọng, bỗng anh nghe có giọng nói quen thuộc: Vững! Anh này mới mười bảy, học đệ nhị, chỉ ở cách nhà Thi vài cái vườn. Nghỉ hè, Vững thường vô nhà anh mượn truyện bằng tiếng Pháp đọc. Thi mừng quá nhưng không dám kêu lớn: Vững! Vững! - Có tiếng chân lại gần, khe khẽ: Ai đó?


Tui, Lâm Xuân Thi đây!


Ôi! Sao anh tới nỗi này?


Thi quýnh lên:


Tôi nghe nói chú anh trợ Diễn là ông hương Lễ Đồng[2] làm trong ủy ban huyện. Vững gặp gấp ổng nhờ cứu tôi !


Vững cũng là em út của xã trưởng, thuộc gia đình bị nghi ngờ nhưng nhờ có người bác họ, ông Trần Khuy (tức Trần Nam Trung sau này), làm cán bộ Xứ ủy nên Vững mới được ban Khởi nghĩa xã cho vào làm giao thông, đi giấy tờ cho huyện. Chúa và Phật đã ngó ngàng tới Thi. Chẳng biết cuộc gặp gỡ giữa chú Hai của Hạm với các ông trong huyện ra sao, nhưng sau đó được biết, vì thương và nể cháu mình là anh sáu Diễn, chú đã hết sức thuyết phục để bản án của Thi được giảm dần, từ tử hình vào tối hôm đó xuống còn giam giữ dằng dai nhiều ngày, cuối cùng Thi được cởi trói cho về. Hú vía, tóc Thi bạc trắng - dù chưa tới ba mươi - sau vài tuần lễ lo lắng vì giam cầm sợ hãi.


Về sau, nhờ bị vợ bỏ, Thi dinh tê về vùng Quốc gia, đi kèm trẻ, tự học thi tú tài rồi kỹ sư, rồi sang Pháp du học, trở thành Tiến sĩ trắc địa[3]. Còn ông chú của Hạm, khi đứa con út của ông bị bắt đi sĩ quan ở miền Nam, ông chỉ sớm hôm kinh kệ cầu nguyện Phật tổ từ bi gia hộ cho quốc thới dân an, gia đình yên ổn. Về sau, chú từng vận động cho Hàm đắc cử Quốc hội. Nhưng bản thân chú, cũng đã không tránh được tử thương vì lính Mỹ trong một cuộc càn quét giữa mùa hè đỏ lửa tại Thi Phổ. Chú ơi! Chú đã đi vào vĩnh cửu. Thời thế đã làm nhiều gia đình quấn khăn tang, đã đưa những chiếc Huân chương đỏ rực lên ngực nhiều nông dân không biết chữ. Tất cả đều trả giá, hãy đứng nghiêm chào chấp nhận định mệnh. Cuộc cách mạng đã ngấm ngầm kích thích cái mầm mống chống đối lại những giáo điều Khổng Mạnh trong nội bộ gia đình Hạm. Những lời hô đả đảo phong kiến đế quốc xảy ra như cơm bữa ngoài đường đã vang vọng vào ngôi từ đường thâm u mà hương khói giờ đây đã bớt phần nghi ngút. Nó thúc giục người vợ vốn là tiểu thư con quan, không sao còn chịu đựng mãi được những lời lẽ độc tôn mang danh nghĩa Thánh hiền của cha nữa. Hạm đau đớn chứng kiến những cuộc gây gổ giữa hai đấng sinh thành. Ở thời điểm chưa có cái gì thành hình, từ nề nếp Nho phong cho tới những gì trái lại, một đứa bé non choẹt như Hạm lại luôn mồm nói Cách mạng, Tự do, Dân chủ... lâu ngày nhập tâm, nên, một cách bất tự giác, nó không còn tuân phục cha tuyệt đối như xưa. Và tất cả chỉ chờ dịp biểu hiện. Một chiều nó ở nhà, cha đi đâu trong xóm về, kiếm cái gáo múc nước rửa chân không có. Cha hỏi. Nó thản nhiên, trả lời không cần thưa gửi gì hết:       


  Không biết!


 Cha giận run người lên, bao nhiêu u uất chất chồng trong người, bung ra:


Láo, ai dạy mầy thế?


Không hiểu bị ma hành thế nào mà bỗng dưng Hạm dám vênh mặt lên đối đáp:


  Phải! Cách mạng rồi. Cha không có quyền!


Rồi nó ù té chạy. Cha không đứng vững nữa, ông phải vịn vào chiếc trường kỷ. Chị Mẹo, người giúp việc, phải đến đỡ ông dậy. Ra đường, Hạm đi một mạch xuống nhà chú Mười hai với mẹ. Đó là cuộc khủng hoảng đầu tiên trong đời nó. Tối hôm đó nó bị sốt cao, mẹ phải suốt đêm xoa đầu sức thuốc cho nó. Mãi đến cuối đời Hạm vẫn hối hận vì sự việc nầy.


Tháng Mười năm ấy trường tư bị xóa sổ, trường công chưa có, nhờ mối quan hệ làm Truyền bá quốc ngữ, Hạm được nhận giữ chân Thư ký cho Việt minh huyện, được ăn cơm trưa.


Nó trải qua những cơn mộng kinh dị thấy mình biến thành những con thú, bị người săn đuổi với gậy gộc giáo mác, cả cờ xí nữa. Nó bơ vơ trốn chạy vào một vùng ruộng rẫy hoang liêu nền trời đen sẫm, gió thổi lạnh buốt, chỉ có những cây sậy xào xạc than thở với những ngọn núi cao xa xôi, đen ngòm và lãnh đạm. Nó thét lên, tỉnh giấc. Mẹ rờ đầu thấy nó nóng như lửa, bèn cho nó mấy viên mã bá lương, loại thuốc cao đơn hoàn tán bá bệnh được xưng tụng là thần hiệu thời bấy giờ. Hôm sau nó tỉnh dậy, lại nghiêm túc đi làm thư ký như chẳng hề có chuyện gì xảy ra. Gần cuối năm, cha nó tới thăm chú Hai gặp nó, thằng bé mười lăm tuổi ở ngoài ngõ. Ông nhìn, đôi mắt thật buồn rồi thở dài: – Ô! Sao mày ốm quá vậy. Anh Bảy mầy đã thôi chức Thừa phái ở Vinh về, hiện làm trong Ban Văn hóa tỉnh. Ra ở với nó đi học.


 


21. CÁI CẦU CHÌ CỦA CHỊ SÁU HẠ


 


Thế là Hạm trở lại thành cậu học sinh trung học, lớp đệ nhị. Anh Bảy ăn cơm ở cơ quan, thuê một phòng trọ tại nhà bà đội Đông. Anh có một cái Rado cũ, bấy giờ trong tỉnh mới vài người có. Hạm lại trọ nhà bà Đội, ba phía hàng rào kẽm gai đỏ rực những hoa ăngtigôn. Nhà gần lao xá nhưng không còn những người lính Lê dương chiều chiều đi bắt những con kỳ nhông đang sinh sôi rất nhiều ở cổ thành. Anh Mười học trên nó hai lớp, vừa kèm trẻ ở nhà người ta. Thỉnh thoảng anh đến nhà bà Đội và dẫn theo người bạn lớn hơn anh bốn tuổi: anh Hòe, người ăn mặc bảnh bao, nói năng lưu loát, biết đánh đàn và ngâm thơ, Hạm rất phục: lại một thần tượng nữa ngoài anh Chín Rớ và Lê Hồng Long. Hòe hát rất hay những bài Buồn tàn thu, Trăng mờ bên suối... sầu buồn và lãng mạn nhưng có khi ngâm những bài thơ thật hùng dũng như bài lời con hổ nhớ rừng của Thế Lữ, bài Mã Chiếm Sơn của Tố Hữu. Anh cũng có tài vẽ tranh bằng bút chì đen, khiến Hạm tập tành làm theo mà tác phẩm đầu tiên của nó bị bạn bè phát hiện là cảnh một nghĩa địa với nắng chiều sắp tắt, có một con mèo hoang nằm ngủ trên bia mộ. Bị bạn nó hỏi tại sao, nó chẳng biết trả lời.


Tài năng của Hòe đã làm xáo động trái tim của người con dâu còn rất trẻ và rất xinh của bà Đội. Chồng chị, anh đội Bích nối nghiệp cha, đã có chút chức chưởng nho nhỏ trong hàng ngũ lính khố đỏ Pháp[4]. Nay anh đã sớm gia nhập Vệ quốc đoàn và đang chiến đấu trong mịt mù lửa khói cực nam. Người chinh phụ tràn đầy nhựa sống hừng hực nhớ mùi tân hôn. Mỗi lần Hòe đến chơi, hát hò và bông đùa, chị cười tít mắt lên, má lúm đồng tiền, da ửng hồng; khiến giọng ngâm thơ và tiếng đàn của Hòe càng thánh thót.


Một tối mùa đông không trăng mưa lạnh, Hạm đang học bài, bà Đội đi chùa về ngủ sớm. Quá canh một, Hòe tới chơi, có mấy đồng bạc xòe ra khoe. Đang mệt mỏi chống lại cơn buồn ngủ, mắt Hạm sáng lên khi nghe Hòe tuyên bố sẽ đãi nó và chị Sáu Hạ một chầu phở khuya. Cái dạ dày cồn cào được bồi dưỡng đột xuất đã giúp nó cố thức khuya hơn. Nên khi vào giường, mới đặt lưng xuống nó đã chìm sâu vào trong giấc ngủ ngáy o o, trong khi Hòe còn mải nói chuyện với chị Sáu. Và, họ chỉ chờ có thế.


Gần sáng nó mơ màng nghe có tiếng nói lao xao, tiếng bước chân chạy, chợt tỉnh, nó quờ tay không thấy Hòe còn nằm một bên và không cưỡng lại giấc ngủ, nó lại mê đi. Sáng dậy nó đi học mãi đến trưa mới về, chỉ có mình bà Đội ở nhà. Trong bữa cơm, chỉ có hai cô cháu, bà hỏi:


– Tối qua cháu đi ngủ sau phải không?


Dạ, phải. Có gì không cô?


Cháu có tắt đèn không. - Cô hỏi tiếp.


Dạ, có.


Cô gằn từng tiếng một:


Hồi đó cái cầu chì còn không?


Dạ, còn.


Bà Đội nhìn nó đôi mắt rất lạ:


Hồi nửa đêm, cô nghe có tiếng chân đi. Nghi là có trộm rình, cô mò tới bật đèn, không thấy sáng. Rờ lên cầu chì, cô bị điện giật một cái tê người, té huỵch xuống. Cháu và con Sáu Hạ còn ngủ mê, may sao thằng Hòe nó thức giấc, chạy ra đỡ. Cô lấy bao diêm thắp đèn dầu, mới thấy cái cầu chì bị ai gỡ mất. Cuối cùng, con Sáu nó mới dậy đánh gió cho cô. Không ai hiểu sao cả.


Nhưng Hạm thì hiểu. Sau đó không thấy Hòe tới nữa. Chị Sáu thì ôm gối về với cha đẻ, nói là để giúp ông làm thuốc Bắc. Người ta đồn là cặp này đã kín đáo rủ nhau xây tổ ấm ở đâu đó, hình như cũng không mấy bền.


Chị Sáu Hạ, người đàn bà trẻ có chồng là đội khố đỏ, theo kháng chiến trong đoàn quân Nam tiến và ông bác Chánh tổng Trần của nó là hai hình ảnh mâu thuẫn khó phai mờ. Cả hai cùng chịu sự cô đơn, mỗi người một kiểu. Chị Sáu chẳng hơn gì nhưng đã từ chối nó. Còn bác Chánh tổng? Nhân vật đầu đinh trong đám cưới anh Cả giờ đây đã như hùm xám sa cơ, bị bắt giam tại nhà lao Quảng Ngãi lâu rồi mà Hạm không biết. Một hôm nó đi học về, giữa đường gặp mấy người tù đang khiêng một cái xác, chắc là của người bạn tù mới chết, vào chôn dưới chân núi Thiên Bút, một thắng cảnh nên thơ của tỉnh. Tất cả đều đi chân đất, nón mê, áo quần rách rưới và dơ dáy. Họ lầm lì chịu đựng, im lặng răm rắp theo lệnh người cai ngục ít tuổi vốn là dân quê trong khi chính họ, những người tù, trước kia đều là những kẻ quyền thế nhất trong tỉnh. Thấy họ lủi thủi đi ra, ớ kìa, Hạm trực nhìn: Ai như bác Chánh tổng. Nó kêu: – Bác ơi, Bác!


Người đàn ông gần sáu mươi tuổi ngẩng lên, ánh mắt vẫn sáng quắc nhưng bây giờ là từ một hốc mặt xương xẩu xanh lè, chỉ có chiếc cằm én cương nghị là nguyên vẹn và rậm rạp, một hàm râu hùm quai nón lâu ngày không cạo đâm tua tủa lốm đốm bạc.


Bác hỏi:


Con là đứa nào?


Hạm thưa:


Cháu là em anh Sáu Diễn.


Hình ảnh con ngựa ô hùng dũng, cái nón ngù bạc và chiếc roi oai phong không còn nữa. Bác nó chỉ còn đôi mắt trắng xác và sâu như vực thẳm luân hồi. Bác xúc động nhìn nó. Bao nhiêu tự ái gia tộc đã dấy lên. Ông cảm thấy bị tổn thương và sỉ nhục lớn lao về công việc đang làm: một tên phu chôn xác chết. Bị người cai tù thúc giục, bác chỉ kịp thều thào nhắn với nó:


– Con nói với anh Khuê[5]... - chưa dứt câu, bác đã bị một dùi cui vào vai và ngã chúi tới trước.


Hạm sợ hãi quay đi. Anh Khuê là con cả bác đã có vợ. Bác bị bắt mấy ngày sau khởi nghĩa. Có lẽ cho tới lúc đó, bác cũng chưa biết người em đồng cha khác mẹ của mình, Cửu phẩm mạch nha Trần Kỳ đã bị giết. Hôm ấy là thứ Năm. Chờ đến Chủ nhật, Hạm về quê rồi đi bộ vô Đồng Cát tìm anh Khuê thì thấy nhà cửa đông đảo. Bà con bu lại, Hạm biết là tất cả đang làm đám ma bác Chánh tổng.


Tối thứ Năm rồi, bác đã dùng chiếc thắt lưng quần tự treo cổ lên xà nhà giam kết liễu đời mình. Những người bà con đến đưa bác ra nơi yên nghỉ cuối cùng là những người can đảm nhất lúc bấy giờ, những đồng đạo Cao đài. Hạm thấy đau nhói trong tim và mặc cảm phạm tội, như chính việc nó bắt gặp bác Cửu đi chôn xác người đã khiến bác hổ thẹn và muốn chấm dứt đời sống. Biết đâu nếu nó không gặp bác, bác vẫn yên ổn chịu đựng cảnh lao tù như bao kẻ khác, quen dần đi và cuối cùng, cùng với tháng năm dài, cũng sẽ được tha. Người kỵ sĩ cô đơn nhưng đầy ấn tượng đã ra nghĩa địa trong một chiếc quan tài bằng gỗ tạp. Kẻ đi tiễn đưa ông gồm một ông giáo hữu Cao đài còn sống sót qua cơn giết chóc mà lý do chính trị được nêu lên trong các bản án chỉ là để che giấu sự trả thù riêng tư nhiều khi rất vụn vặt, nhỏ mọn, rất nông dân lúc bấy giờ.


Nó trở về nhà trọ, chỉ còn bà Đội, một trẻ một già như hai chiếc bóng. Toàn quốc kháng chiến bùng nổ, tàu thủy của Pháp từ biển bắn lên thị xã Quảng Ngãi. Sau một đêm đạn pháo rền trời, tất cả nhốn nháo tản cư về thôn quê. Trường Lê Khiết dời lên Chợ Chùa. Bà Đội lưu lạc những đâu không ai rõ. Năm 1951, Hạm đi dạy trường cấp hai Đức Phổ, trong lớp sáu mà chàng phụ trách có một cậu học sinh da trắng, khá thông minh. Hạm ngờ ngợ như đã gặp ở đâu. Hỏi thăm thì đích là em chị Sáu Hạ, nhà gần trường. Đến thăm chị, chị không đá động gì đến việc hồi xưa nhưng ngầm biết ơn Hạm đã không tố cáo việc chị đã toa rập với Hòe gỡ bỏ chiếc cầu chì cho chắc ăn, trước khi anh chạy lẻn vào buồng chị, ôm lấy cái tấm thân tròn lẳn, căng phồng đang nóng hổi đợi chờ. Chị nói: – Chồng chị, anh Bích đã hi sinh ở Quảng Nam.


Rồi chị làm gà đãi thầy học của em mình một chầu no say. Khi về, Hạm được chị biếu một gói thuốc tễ cây nhà lá vườn. Sau Hiệp định Genève, Hạm gặp lại chị ở thị xã Quảng Ngãi, đã tái giá, nếu được nói như vậy, và trở thành một thương gia giàu có. Gần ba mươi tuổi, chị còn phốp pháp, trẻ đẹp hơn xưa. Trời Phật đã tha lỗi cho chị, chị Sáu đáng thương như hầu hết đông đảo con người bình thường của chúng ta, chưa bao giờ là tiên, là thánh. Từ đây cuộc đời chị đầy đặn như mảnh trăng tròn của Thúy Vân trong Truyện Kiều.


Người lính khố đỏ vốn phục vụ trong quân đội Pháp tiến lên theo cách mạng và tử trận thì ông giáo từng vào hội kín lại thối về nghề gõ đầu trẻ. Ai cũng nhớ là sau khởi nghĩa, anh Sáu làm bí thư cho người bạn và là bà con của cha bấy giờ cầm đầu Ủy ban tỉnh, Thúc [6].


 


22. NHÀ CÁCH MẠNG THOẢI MÁI VÀ ANH SÁU, NHÂN VẬT TRẦN CUNG CỦA THẾ KỶ 20


 


Thúc vừa bí mật làm cách mạng, vừa hào hoa phong nhã và làm thơ rất hay. Một trong những bài Đường luật nôm được cha nó thuộc lòng, khen ngợi hết lời và nói là của ông, vịnh ông Táo:


Cục đất ngày xưa nó thế nào


Ngày nay ông Táo chức quyền cao


Và ngày sau khi khởi nghĩa, anh Sáu được làm thư ký cho ông, thư ký cho Chủ tịch Ủy ban Cách mạng lâm thời Quảng Ngãi, vinh dự biết bao.


Một chiều tháng Tám đang làm việc thì có một người đàn bà đứng tuổi áo dài nghiêm chỉnh đến xin gặp ông Chủ tịch. Anh Sáu vào báo cáo và được Chủ tịch sai trở ra hỏi là ai. Người đàn bà khóc nói bà là vợ của ông xã Thanh bạn xưa nay của ông Chủ tịch. Ông Chủ tịch truyền cho bà ngồi chờ. Thời còn hoạt động bí mật, Thúc vẫn phải tá túc tại nhà ông xã. Song song với việc đi vận động quần chúng, thỉnh thoảng cái tính trăng hoa của ông lại được dịp phát huy tác dụng mê hoặc của nó với một số bà sồn sồn có vấn đề gia đình hay nửa đường gãy gánh. Rất mến bạn, xã Thanh khi dấm dúi cho Thúc một hai đồng, khi yểm trợ một bữa rượu, hết lòng bao bọc. Nay thì Thúc làm quan lớn, Thanh ở tù. Trông thấy bà Xã, Thúc hất hàm: – Cho vô.


Bà Xã ngồi sụp xuống đất lạy Thúc lia lịa rồi khóc bù lu. Không cần hỏi han gì, Thúc dõng dạc: – Chị nín đi. Bà Xã chăm chú, sợ hãi lặng thinh, uống từng lời nói gằn tiếng một của Thúc: – Chị yên trí về đi. Tôi sẽ báo cáo cấp trên. Thả.


Bà Xã lại sụp lạy Thúc nhưng người cận vệ đã nhanh chóng tới dìu bà ra ngõ. Anh Sáu rất cảm kích cho cái tình nghĩa trước sau của Thúc còn đang phân vân ngơ ngác thì Thúc vẫy tay gọi ủy viên quân sự tới, lạnh lùng ra lệnh:


– Truyền cho các đồng chí du kích ở Đề An tối nay giải quyết ngay xã Thanh. Đối tượng nầy là phải tiêu diệt, nhổ cỏ tận gốc!


Chứng kiến sự thay đổi trắng trợn trong thái độ của Thúc, anh Sáu rợn người. Thúc sợ để xã Thanh sống thì sau này lộ ra việc trai gái và lấy tiền lung tung trước đây của Thúc, chắc chắn cái ghế Chủ tịch của Thúc khó vững. Thúc học ngay cái tâm địa của Tào Tháo đối với Lữ Bá Xa: giết, thà phụ người ta trước, không thể sơ suất để bất cứ ai có cơ hội phụ mình: Ninh ngã phụ nhân, bất ninh nhân phụ ngã. Tối hôm đó anh Sáu không sao ngủ được. Hóa ra người bà con, người bạn của cha mình, nhà cách mạng từng làm những bài thơ hay, cả người nghệ sĩ mà khi cần tới danh lợi cũng chỉ vậy sao? Phải cách mạng bằng cách khác, anh tự lấy cho mình một quyết định: trình cho Thúc một lá đơn xin trở lại nghề dạy học.


Từ đó anh thành một giáo sư giỏi, về sau, từ 1955, anh tham gia Quốc dân đảng, chống Ngô Đình Diệm. Hạm nghĩ: Có lẽ Cách mạng dưới mắt anh, phần lớn gồm những con người như Thúc. Anh không may mắn gặp những người tốt trong những cơ may lịch sử. Số phận cả thôi.


Quả đất tròn, anh Sáu trở lại trường học lại phụ trách ngay lớp của Hạm. Nghiêm khắc và nhiệt tình muốn em học giỏi, anh không từ việc bạt tai, đá đít và xé cả sách vở. Sân banh thị xã lớn hơn nhiều so với sân Chợ Chùa sáu năm về trước, nhưng nó ít có dịp ra đó quần thảo. Sau này lớn lên, qua bao chứng kiến và học hỏi về tính đột biến của phép biện chứng, về trực giác của Bergson, về nạt ma thức của nhà Phật nhưng rốt cuộc với cái nhìn rộng ra vũ trụ, con người và muôn vật, Hạm thấy mọi cái đều có lúc phải vượt qua một mắt xích nào đó để tiến lên, như có lần nó được chị Một Rơ dùng mấy cái đọt tre đơn giản bày cho cách làm bài toán cộng. Phương pháp đã đến như một sự lóe sáng. Bấy giờ còn ngồi lớp đệ tam trung học, sau nhiều lần giải sai mấy bài toán biểu thức đại số nó tự rất lấy làm vô cùng uất ức.


Cuối cùng nó nghĩ: Trong lớp đã có đứa làm được thì nhất định ta cũng phải làm được. Cước, người bạn cùng ngồi một bàn nổi tiếng giỏi đại số. Hạm tới nhà thăm hỏi để tìm bí quyết của Cước. Cuối cùng nó khám phá ra: chẳng có phép màu gì ráo. Cước được người anh ruột từng đỗ tú tài để lại cho mấy cuốn sách Toán cả Đại số lẫn Hình học bằng tiếng Pháp của các trường Đạo in mấy năm trước. Thế là tiền góp để mua bóng đá, Hạm mang đi đổi sách, cuốn Mathématiques của tác giả Une Réunion de Professeurs. Mười lăm tuổi, nó tự giam mình trong phòng, bắt đầu từ từng bài một, làm hết tất cả các bài tập mới chịu sang chương khác. Kết quả chỉ sau ba tháng nó nổi tiếng là vua toán của toàn trường. Mới học đệ tam, nó có thể làm những bài toán lớp trên nhanh như gió, thậm chí có khi còn hay hơn lời giải của thầy. Cuối năm nó được phê trong học bạ: Rất thông minh về Toán. Từ đó, nó theo Đạo Toán: đọc kinh toán, ăn ngủ, nghĩ toán, tất cả toán, toán... Tụi nó thách nhau mỗi ngày thi giải những bài toán khó mà chúng cầu kỳ sục tìm trong số sách cũ bằng tiếng Pháp hiếm hoi thời ấy, cường điệu việc tôn sùng Toán lên một khẩu hiệu thời danh ở liên khu Năm: Nhất nhật tam tỉnh ngô Toán, bắt chước Trình Tử, mỗi ngày ba lần coi... Toán!


Sự đột biến nơi tuổi dậy thì của Hạm có tính đa diện: nó vừa mê cả toán lẫn văn chương. Có lẽ do cái máu di truyền của ông Ngoại và cha nó, nhưng cũng nhờ một nguyên nhân ngoại lai phụ vào các ông giáo trẻ.


Bấy giờ trường có thầy Võ Thu Tịnh, con cụ Cử tài hoa chiến sĩ Văn thân Võ Hoành của đất Ngũ phụng tề phi. Thầy đỗ tú tài, đi làm công chức cho Tây ở Lào, cưới một công nương của Vương quốc nhiều voi. Cách mạng nổi lên, đi bộ đội chưa sờn cái cổ áo xita, thầy đã giải ngũ về đi dạy. Đẹp trai, lúc nào thầy cũng mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao, giọng Quảng pha Huế cực kỳ văn hoa, dịu dàng. Học chữ Tây, dạy sử Việt, thầy lại chuyên ngâm và giảng những bài thơ Đường, nhất là khi trong sân trường có bóng của một mỹ nhân: cô giáo Hoa, bậc nữ lưu thời đó mà có cái học lực tú tài. Thằng Quí, em cô học lớp với em Hạm. Cho nên, giọng thầy lại càng du dương ru hồn đám trẻ vào những tuyệt tác của Lý Bạch, Trương Kế, Vương Xương Linh...


Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô.


Bình minh tống khách, Sở sơn cô


Với lời dịch bay bướm của Ngô Tất Tố hay Tản Đà:


 


Vào Ngô tầm tã đêm mưa


Tiễn người sang Sở, núi vừa tan sương


    Hay:                          Dương Tử giang đầu, dương liễu xuân.


Hoặc có khi là một đoạn trong bài Sonnet d' Arvers:


Lòng ta chôn một khối tình


Tình trong giây phút mà thành thiên thu


Học trò đồn rằng, dù đã vợ con đùm đề, thầy dư sức đánh bại những ông giáo trẻ trai tơ để ngự trái tim của cô. Bên vợ, bên người yêu, nhất là thời buổi kháng chiến khắt khe, mối tình nào cũng nặng. Nhưng, tàu bay Pháp đã dội bom dữ dội xuống trường Lê Khiết, hàng chục người chết, trong số đó có cô. Chẳng biết vì vết thương chiến tranh hay vết thương lòng, thầy trốn về Đà Nẵng, nghe nói nhận ngay một chức vụ rất cao tại tòa Thủ hiến Trung Việt. Tâm hồn Đông phương của Đường thi trộn lẫn cái sầu muộn lãng mạn Pháp, của các thầy đã đánh thức cái không khí lau lách đìu hiu trong Tì bà hành mà Hạm từng nghe giữa giấc ngủ huyễn hồ từ bé qua giọng ngâm thơ ru con của cha.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Tào Tháo trong Tam Quốc Chí. Tần Cối là gian thần đời nhà Tống bên Tàu.


 




[2] Chú ruột Hạm, sau khi làm hội kín năm 1930, bị tù, về được cha nó thu xếp cho làm viên chức trong làng, phụ trách việc tế lễ: hương lễ.




[3] Cùng bằng cấp với Thi ở miền Nam trước 1963, chỉ có người em ông Diệm, ông Ngô Đình Luyện. Còn chú Mười hai của Hạm, đến năm 1954, hai trai lớn đi tập kết, người con trai út ở nhà.


 




[4] Thời Pháp cai trị Việt Nam, trong quân đội người bản xứ ba sắc lính, phân biệt nhau bởi màu của khố, trong binh phục: khố đỏ là lính chiến, khố xanh là lính chuyên trật tự và nghi lễ, khố vàng hầu hạ ở Kinh đô.


 




[5] Tên con trai Cả của bác Chánh Tổng.


 




[6] Hình như cũng có bà con với cha nó và nó kêu bằng chú.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 10.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
xem thêm »