tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22307409
Tiểu thuyết
06.09.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

14. NGƯỜI ĐỜI, THẦN LINH, MA QUỶ CÙNG VUI SỐNG


Hạm có một bà dì lấy chồng mắc bệnh tâm thần: dượng xã Chưởng. Ông nói năng ngọng nghẹo và chân tay lúc nào cũng run lẩy bẩy, cứ đi lang thang ngoài đường, vồ bắt trẻ con. Tụi Hạm vừa sợ lại vừa thích thú đi theo sau dượng, hò hét trêu chọc. Trưa nọ, một biến cố được loan đi rất nhanh trong xóm: dượng không về ăn cơm. Lập tức người con cả đang làm cai lính tập ở tỉnh được kêu về và người con thứ, Bốn Thiệu, phải bỏ buổi cày để cùng ông chú ruột, ông đồ Hiên đi tìm kiếm. Với một nhà nho học: sống, ứng thiên thuận nhân[1], giữ cái tâm cho chánh, luôn ung dung thanh nhã thì ông đồ Hiên như một số nhà sư sau này, coi đạo là một cách kiếm sống. Dù kỳ thi chữ Hán đã bị bãi bỏ, nhiều người vẫn cho con đến nhà ông đồ mua lấy một ít đạo lý Thánh hiền theo kiểu chi hồ giả dã. Ông ngồi trên chiếc phản gõ nhẵn bóng, đám học trò lổm ngổm bò xung quanh, ê a học bài nhơn chi sơ tánh bổn thiện[2]: người chưn đầu, tánh vốn lành. Bà đồ có một gánh trầu cau bán ngoài chợ. Sau khi cho tìm đến các nhà bà con, không thấy người anh tâm thần của mình ở đâu, ông đồ quyết định mời thầy ngồi đồng. Bàn thờ được bày biện ra nhanh chóng. Cai Lộc cởi bộ đồ nhà binh để vận quốc phục áo dài khăn đen quỳ mọp trên chiếc chiếu hoa, khấn vái đức Thái thượng Lão quân. Bốn Thiệu, người mà mấy năm sau là bí thư Đảng Cộng sản xã, đứng bên cạnh, cầm chiếc quạt thỉnh thoảng lại phẩy một cái vào ông đồng, mắt bịt kín một chiếc khăn trước bằng một lá mâm đồng đầy gạo, khỏa bằng như mặt giấy trắng, một cây cọ, dùng như cây viết trên tay. Người phụ lễ bắt đầu ngâm:


Ba lăng nhất vọng Đông đình thu


Nhật kiến cô phong thủy thượng phù


Văn đạo thần tiên bất khả tiếp


Tâm tùy hồ thủy cọng du du.


Dịch:


Ba Lăng thu ngút Đông đình


Nổi trên bóng nước một mình núi xa


Thần tiên ở cõi bao la


Nước hồ cùng với tâm ta một màu.


Rồi tiếp theo là một bài hát cầu đồng, đọc với giọng thật là trầm buồn, ai nghe cũng thấy như đang bị ru vào một thế giới thần tiên ma mộng, thế giới của giấc hồ điệp, theo như Trang Chu, người hóa thành bướm, và khi tỉnh giấc phân vân tự hỏi không biết Ta vừa hóa Bướm hay Bướm đã hóa ra Ta:


Trên bửu tọa khói hương chất ngất


Cảnh Bồng Lai năm thức mây tuôn…


Cùng với mùi hương ngai ngái tiếng ngâm trầm buồn như tiếng ru con, đưa hồn ta vào một thế giới quạnh quẽ ma mộng. Đám trẻ con không còn dám phá nghịch nữa, rón rén đến tò mò nhìn. Hạm cùng chen vào ngồi bệt xuống đất, tiếng cầu hồn dìu dặt lạ lùng thay, đã đưa nó vào giấc ngủ, nó không sao cưỡng lại được. Mãi khi người nhà kiếm về ăn cơm, nó mới được nghe kể lại là, có một ông tiên tên Hi Di nhập vào xác đồng, ngúy ngoáy cây cọ thành những chữ ngòng nghèo mà thầy đồ Hiên đã đọc và giải thích rằng dượng nó đã chết. Khi được hỏi: Xác bây giờ ở đâu thì ông đồng vụt đứng dậy chạy cà thọt (ông bị tật ở chân) lên đến bến Đình. Cả xóm túa theo đến một lùm tre gai mọc um tùm. Ông đồng dừng lại và người ta phát hiện ra xác dượng lều bều giữa bao rêu rác, dưới tán của một gốc sung già. Xác dượng xã Chưởng, đã trương phình nổi lên.


Hồi còn sống, dượng là một nhân vật thừa, chỉ làm trò chơi cho trẻ con, bao giờ cũng ra đường với lũ nhóc kéo theo sau inh ỏi reo hò. Đột nhiên, dượng quay lại cho chúng vừa sợ hãi ù té chạy vừa cười. Dượng cũng có vẻ thích thú với vai mình đang đóng. Ai biết dượng điên hay tỉnh? Nhưng dượng mặc nhiên cũng có công với nhà nước bảo hộ là đã cung cấp một người con trai phục vụ trong quân đội của mẫu quốc. Người con trai thứ của dượng về sau tập kết ra Bắc, tỏ lòng trung thành với giai cấp vô sản bằng cách kiên quyết ngăn chặn sự tiến thân của những cán bộ sĩ quan đồng hương. Cụ thể, với ai ông cũng phê vào lý lịch của đồng hương rằng: là gốc địa chủ phản động cả nên không mấy ai là người bổn xã đi tập kết mà ngóc đầu lên được. Theo lẽ trời, đám ma dượng được làm rất to. Thầy đồ Hiên mời ông từ của chùa làng đến tụng kinh siêu độ suốt ba ngày đêm và trước khi an táng, người ta đã cẩn thận đánh đồng thiếp cầu hồn dượng lên để hỏi nguyện vọng, theo đó dượng muốn được yên nghỉ ở Đồng Găng, nghĩa địa duy nhất của làng. Người ta còn đốt cho dượng bao nhiêu tiền bạc, cả một cái nhà bằng giấy mái ngói đỏ tươi, niềm ao ước mà có mơ cũng khó thành của người dân quê bấy giờ. Chắc rằng linh hồn dượng sẽ rất thoải mái khi phát hiện ra là đối với những người cõi âm bao giờ trần gian cũng lo lắng chu đáo hơn. Làng quê của Hạm trước năm 1945 còn rất nghèo nàn, có người phải mãi ấp ủ niềm hạnh phúc ở cõi lai sinh, đối trước thực tại là một đời sống đói rét quanh năm, phải chăng đó là nguồn gốc của tôn giáo?


Lên lớp nhất, Hạm rất giỏi. Giờ rảnh nó cùng bạn bè nói chuyện với nhau về kỳ thi tiểu học sắp tới với hai lần thi viết và một lần vấn đáp. Thi viết lần đầu ba môn: Toán, Luận và Chính tả, tất cả đều bằng tiếng Pháp và phải được mười tám trên ba mươi điểm. Lần thi viết thứ hai là Thường thức, Sử, Địa mà điểm số cộng với lần đầu phải được trên sáu mươi mới cho vào vấn đáp, cũng toàn bằng tiếng Pháp. Không phụ lòng kì vọng của anh nó và chúng bạn: Hạm đỗ đầu kỳ thi tiểu học Pháp Việt làm rạng danh trường Mộ Đức, đánh tan cái tiếng ham mê cờ bạc của thầy đốc Cự. Nó kể cho mọi người là trong giờ Chính tả, bà đầm Tây đọc lê troa sơ manh nó viết trúng chóc là l' étroit chemin thay vì les trois chemins như chúng bạn.


Rồi nó thong dong lên đệ nhất niên Trung học ở thị xã Quảng Ngãi. Nó ở trọ nhà bà đội Đông trong thành tỉnh. Thành xây bằng gạch đã đổi màu xám đen, cao chừng ba sải tay, theo kiểu Vauban có hào sâu, nước đen ngòm, hoa súng màu thiên thanh nở đẹp. Bà đội Đông là vợ góa một ông đội khố đỏ. Người con trai duy nhất của bà, hân hạnh thay, đã nối được nghiệp cha; anh đội Bích mới khoảng hai mươi lăm tuổi cũng đã là thầy đội và mới có một người vợ trẻ từng đỗ Rime, tóc xõa hoa cài, răng đen nhưng nhức. Thầy đội thường vắng nhà. Cô vợ thì đang mắt sắc như dao, da trắng tuyết in, miệng cười hoa nở. Nhà lại có hàng rào kẽm gai, hoa ăntigôn lấm tấm hồng lại càng khiến các chàng trai hay qua lại bên đường có cớ chằm chặp nhìn vào cái bóng dáng xinh đẹp, nhẩn nha ra phơi áo ở ngoài hiên đầy ánh nắng. Những tối mùa đông mưa phùn bay, gió bấc thổi tạt những con thiêu thân bu đông đảo quanh những bóng đèn đường. Hết canh một, trong bóng đêm rải rác lập lòe ánh lửa của một xe phở hay lục tàu xá mà tiếng rao chốc chốc lại vang lên đơn độc nhưng âm vang đánh thức cái đói cồn cào đang quấy rối dạ dày của những cậu học trò rỗng túi phải thức đêm để gạo bài cho những kỳ thi lục cá nguyệt lúc nào cũng có vẻ cấp bách. Hạm học chữ Tây nhưng tâm hồn nửa quê nửa tỉnh, bán Á bán Âu đó vẫn mơ tới cái hình ảnh hoa cù hồng phấn nữ- đường hoa son phấn đợi, áo gấm về xênh xang như thơ Vũ Hoàng Chương mà cha nó thường ngâm nga. Nhà nghèo, lại ở cái tuổi ăn, tuổi ngủ thì cái cảnh học trò đời nào cũng vậy với những cơn gục xuống trên sách, ngắn ngủi nhưng thật ngon lành khi chợt tỉnh. Ngoài kia, mưa vẫn rơi tí tách và tiếng giun dế êm đềm, mái tranh xao xác thở dài mang cái hiu hắt của một lũ lau sậy ngơ ngác bên bến Tầm Dương nào đó vào tâm hồn nó. Mỗi tháng một lần, vào chiều thứ Bảy, nó đi xe ngựa về nhà để đem ra sáu chục lon gạo và hai đồng bạc cho bà đội. Có khi, để hà tiện một vài hào, nó cuốc bộ mười bảy cây số trong suốt bốn tiếng đồng hồ liền. Nếu trốn được giờ thể dục thì cũng phải gần tám giờ tối mới mò về đến nhà. Đến con đường đất tre cù ngả rạp um tùm. Nó phải lần theo những vệt sáng xanh nhạt, lập lòe của hàng ngàn sâu đóm lúc nhúc trong bụi gai mới đến ngõ. Bữa cơm trễ tràng, ngọn đèn khuya leo lét, nó kể chuyện ngoài tỉnh cho Thọ và em nó nghe. Chuyện một người lính Nhật Bổn cỡi trên lưng một bác phu xe kéo, bắt bác công kênh. Người lính cười hô hố, đấm thùm thụp vào đầu mình rồi ôm mặt khóc. Không ai tin câu chuyện đó. Cả Thọ, bấy giờ đã bị buộc thôi học để ở nhà chăn vịt. Thọ luôn nghĩ trái lại: Nhật là thần tượng, là sự tôn trọng danh dự, sẵn sàng mổ bụng để thanh minh, Nhật là Á đông, một Á đông hào hùng, khí tiết. Là tất cả những gì tốt đẹp.


Sáng Chủ nhật bao giờ nó cũng dậy trưa. Mẹ giặt giũ quần áo xếp vào cái bị vải để chiều nó lại mang đi. Ôi con đường đưa nó đến trường, nơi nó chẳng bao giờ mong chờ nhất là bao giờ cũng bịn rịn khi xa mẹ, mặc dù nó đã lớn. Đường ra thị xã, khỏi cầu Sông Vệ chừng một cây số thì có một cây cầu nhỏ chỉ khoảng vài mươi bước, bắc ngang sông Cây Bứa. Hồi nó đi học, cây bứa vẫn cao và rậm rạp như một cây đa cho những quả chín vàng vừa chua vừa ngọt mà nó chỉ thấy trong hình vẽ minh họa, thơ ngụ ngôn Lafontaine của Mạnh Quỳnh. Nhưng nếu cầu Cây Bứa là một cây cầu bình thường thì đâu có gì đáng nói. Cha nó thường đọc: Sơn bất tại cao, hữu tiên tắc linh, thủy bất tại tâm, hữu long tắc linh. Núi không cần cao, có tiên ở là nổi tiếng, sông chẳng cần sâu, có rồng ở là linh thiêng. Tháng nào Hạm cũng phải một lần về nhà rồi ra tỉnh. Ngày Chủ nhật ngắn ngủi đã thành thói quen đó đã mang lại cho nó niềm lưu luyến khó tả đối với ngôi nhà tầm thường mái tranh xám vàng, giếng nước, hàng tre, ruộng Bầu Xuân trước nhà sau mùa nước lụt có tiếng khua lộc cộc của người thuyền chài đuổi cá ban đêm. Vậy nên, mỗi lần đeo túi xách vải lên vai nó cứ chần chờ mãi, đợi cho mẹ la mắng thúc giục mới chịu rứt ra đi.


Mà khi đã lên tới đường cái quan thì nó rảo bước thật nhanh để có thể qua cái cây cầu Bứa nhỏ xíu đó trước khi mặt trời xuống núi. Dù là hoàng hôn sáng rạn nắng hè hay chiều đông u ám, những người lớn đi một mình ban đêm qua cái cây cầu này, trống ngực cũng đánh liên hồi huống chi là nó, mới mười ba tuổi, nhất là sau khi được nghe kể lại câu chuyện này :


 


15. HÀNH TRÌNH SUỐT ĐÊM CỦA MỘT NGƯỜI CHƯA QUA HẾT CÂY CẦU NHỎ LẮM MA


 


Một thầy lý trưởng[3] ở tận miệt biển Sa Huỳnh có việc phải ra hầu tỉnh gấp. Thầy khăn đóng áo dài tề chỉnh cắp ô lên xe ngựa từ Đức Phổ lúc gần vãn chợ chiều. Nhưng đến làng Bồ Đề, quê của Tả quân Lê Văn Duyệt, gần sông Vệ thì xe long bánh. Thầy đành cầm dù cuốc bộ, chập choạng tối thì đến cầu Cây Bứa. Đêm tháng Chạp trời không mưa, không trăng sao, hơi rét, heo may lất phất thổi tạt tà áo dài. Chiếc cầu bê tông quét vôi trắng chập chờn hiện ra như một nét quan tài nổi trên các nấm mộ nhà giàu ở miền quê lúc bấy giờ. Đường vắng hoe, thầy sực nhớ nơi này nổi tiếng lắm ma. Bụng đói, thầy nghĩ đến tô don[4] nóng hổi lều bều những miếng bánh tráng dầy nướng vàng thơm nức mùi gạo và ly rượu thuốc cùng ánh mắt đưa tình của cô chủ quán quen thuộc ở thị xã mà lòng thầy rạo rực. Bỗng có ai đó vỗ vai. Thầy quay lại: Ồ! Chào ông xã Trân! Ông Trân quê ở Chánh Lộ mà nhiều lần ra tỉnh thầy đã kết bạn, rất thân tình bên chiếu bạc cũng như bầu rượu.


Xã Trân nói: Lại việc quan hở? Vội vàng làm gì? Nghe lời tôi đi: Quan cần dân trễ. Bây giờ mình có dân trễ thì quan mới cần. Qua đây đêm hôm rét mướt tối tăm, ma nó bắt đi mất.


Thầy Lý nghe rợn người. Như chết đuối vớ phải bọt, thầy mừng rỡ ra mặt. Nhằm lúc thầy sợ muốn vãi đái ra thì gặp được tri âm, thầy lắp bắp:     Được, được.


Xã Trân thầm thì: Tôi có người ơn nghĩa, chục năm trước từ Nghệ vô đây dạy học nhưng ổng léng phéng mà chữ nghĩa Thánh hiền của ổng lại chun vô làm bầu cái bụng của con gái ông chủ nhà. Làng toan bắt tội, tôi sắp xếp cho hai người lấy nhau, nay đã có con, ổng mời tôi bữa rượu. Đi với tôi, mai hãy ra tỉnh cũng được. Nghe thấy tiếng rượu thịt, thầy lý mừng húm đi theo. Xã Trân đưa thầy tới một đám tân gia đông đảo và linh đình, khói hương mù mịt, tiếng chúc tụng huyên náo. Ông được mời ngồi ở chiếu trên, rất tiếc không quen một ai, người nào hình như cũng len lén mình ông. Ông thấy kỳ kỳ làm sao nhưng ngại chưa tiện hỏi cứ hẵng ăn uống thỏa thuê đã. Chén chú chén anh, thầy Lý say túy lúy, chẳng còn biết trời đất gì nữa.


Sáng hôm sau ông thức giấc thì thấy mình nằm vừa qua đêm trên một ngôi mả mới, ngôi mả duy nhất gần cầu Cây Bứa. Thầy thất kinh đọc trên bia mộ tên tuổi của vợ chồng ông đồ Nghệ. Kinh hoàng, ông tất tả chạy ra khỏi vùng cầu Cây Bứa, nơi cây cầu mà suốt đêm qua ông chỉ đi được một đoạn ngắn không quá vài bước.


Ra tới tỉnh, ông hỏi thăm được biết xã Trân mới chết chưa tới tuần bốn mươi chín ngày. Câu chuyện trở thành đề tài tán gẫu của lũ học trò những giờ rảnh rỗi. Thằng Tuyên con ông từ đình Chánh lộ thì nhất quyết là phải có ma, chỗ nào có người thì cũng có ma. Theo ý nó, tính tình của ma mỗi nơi mỗi khác: ma cầu Cây Bứa thì nhát người, trêu chọc hiền lành chứ đến cái đám ma ở bến Tam Thương dưới chân cầu Trà Khúc thì ghê lắm. Giữa khuya những đêm trăng mười sáu ma hiện thành những cô gái trẻ, khỏa thân lõa lồ trắng toát, xõa tóc tới gót chân, té nước đùa nghịch nhau trên sông rồi bay lên ngồi vắt vẻo ở thành cầu. Giờ đó mà có chàng trai nào đi ngang là chết, ma sẽ kéo anh xuống bãi cát bắt anh ta làm tình cho kiệt sức, rồi dìm vào nước, mấy hôm sau thây mới nổi lên. Tao thấy rồi. Nó nói như thật.


Còn thằng Trai, con thầy Hiệu dạy chữ Hán tán thành: Đúng. Đúng. Chắc cô gái xưa kia bị phụ tình nên đã nhảy xuống sông tự vẫn. Hồn ma loại này ham trả thù dữ lắm. Còn như ở Cống Kiểu nơi có trường tiểu học mà Tây đã lập để thay thế trường Đốc dạy chữ Nho thời xưa thì có hồn ma cụ tú Liệu. Hồn ma này hiền lắm, chỉ một lòng hoài cổ. Người ta nói thỉnh thoảng thấy cụ Tú hiện về, quốc phục đàng hoàng, chỉ đứng trầm ngâm lặng lẽ thở dài.


Thằng Tráng con nhà quê, đen đủi nhưng rất giỏi Toán luôn luôn quyết liệt bác bỏ: Bây nói không khoa học gì hết. Ông Lý bị chứng mộng du. Báo khoa học của ông Nguyễn Công Tiễu đã chứng minh rành rành.


Nó đứng dậy, giơ cú đấm, hùng hổ thách thức: Ma đâu, dẫn tao đi coi. Còn thằng Rừng sau này đổi tên là Lê Lâm làm chính trị lên tới hàng Vụ trưởng ở Bộ Ngoại giao thì khẳng định: Láo tuốt, chẳng có ma ông xã Trân, cũng chẳng có ông Lý mộng du gì ráo. Theo tao Việt minh đang hoạt động âm thầm và mạnh mẽ. Phần lớn họ hội họp về đêm, nhất là từ sông Vệ trở vô lên tận núi Ba Tơ. Họ bịa ra chuyện này cho người ta sợ, bớt đi đêm, khỏi lộ bí mật của họ đấy thôi.


Hạm chẳng có ý kiến gì dù nó là người được nghe chuyện ông xã Trân và đã hào hứng kể lại, không quên thêm mắm dặm muối vào. Cha nó từng giảng dạy: hữu sinh khí phách hoàn thiên địa (khi người ta chết thì cái khí phách lúc còn sống được trả về cho trời đất). Cha bảo, ma cũng do người mà có, nên người giữ được chánh khí của mình, giữ được tam cương ngũ thường thì có ma đi nữa cũng phải kiêng sợ.


Tết năm đó là cái Tết tương đối đầy đủ và êm đềm nhất đối với gia đình nó, nó cũng vừa đủ sức lớn và hiểu biết để nhận thức được. Được mùa, nhà nó và anh xã Thọ chung nhau hạ một con heo. Chiều ba mươi Tết năm nào nó cũng theo cha mẹ về ăn giỗ bên ngoại ở xóm dưới, bao giờ cũng được cậu Cửu phẩm chuồng trâu (cậu làm chuồng trâu đúng cách vệ sinh, súc vật không bị bệnh, lại lấy được phân, triều đình ban cho cậu Cửu tước Cửu phẩm) cho mấy chiếc pháo tre và vài cây vạn thọ đang độ đơm bông. Cha nó dùng một túm lá tre, ròng rọc và một sợi dây, kéo treo trên ngọn mai trước nhà một cái đèn bão có mặt kính màu hồng, đấy là cây nêu mà theo phong tục, trừ được tà ma và thể hiện ước vọng quanh năm luôn sáng sủa. Sau khi quét dọn nhà cửa, cha tụng kinh Quan Công. Cha nói: Phải rước ngài về cho ổn môn hộ rồi mới đón ông bà. Anh em nó vừa bày bàn cờ tướng vừa canh thức cái nồi bánh tét đang sôi sục trên bếp lửa hồng luôn luôn lay động những chiếc bóng đen lố nhố chập chờn trên vách. Đêm trừ tịch trời tối đen như mực, lất phất mưa bay, nhìn ra rải rác thấy chấm phá những ánh đèn nhỏ ở xa, thỉnh thoảng có tiếng chó sủa vang. Trong nhà đầm ấm và êm ái làm sao. Mẹ lại kể chuyện như mọi lần. Mọi lần đây là những chuyện đáng nhớ thuộc về một quá khứ xa xôi, có tươi vui cùng khi thảm sầu nào đấy, hải hà trôi qua trong suốt đời sống của một thế hệ. Mẹ vừa têm trầu vừa kể:


Tết hai mươi năm trước, hồi mới đẻ thằng Xùng chưa có thằng Xòn, cha bây không có nhà. Ổng ra Huế lo cái sắc phong Hậu hiền của hai làng Thi Phổ cho ông tổ họ Nguyễn Văn nhà bây. Hồi đó, họ Phạm của ông ngoại cũng nhắm tranh cái vinh dự đó. Nhưng cha bây cương quyết lắm. Ổng biện một con heo xuống lễ ông ngoại, lạy ông ba lạy, thưa rằng:


Lo cái sắc phong Hậu hiền trước cho họ Nguyễn Văn nhà con, con biết rất mất lòng thầy. Nhưng đắc tội với thầy, con xin cam chịu, lạy thầy cho con được báo hiếu với tổ tiên nhà con.


Rồi ổng đi Huế, ở ngoải tới sau Tết mới về, việc đưa rước, cúng ông bà ngày ba mươi, mùng một mùng hai mùng ba, buổi sáng cúng bánh, trưa chiều cúng cơm, một tay mẹ lo hết. Năm đó mẹ mới hai tám tuổi. Mẹ cười tự hào, đôi hàm răng đen nhánh, ánh mắt lên sáng trong bóng đêm, anh em Hạm cùng cười theo. Hạnh phúc nhỏ nhoi mà êm đềm làm sao.


 


16. ĐẢO CHÁNH NHẬT 9-3-1945


 


Lại tiếp tục niên học. Ngày mồng chín tháng Ba năm 1945, thị xã Quảng Ngãi thức giấc vào lúc quá nửa đêm với tiếng súng lớn nổ từ trại binh Nhật ở đồn Khố Đỏ bắn sang đồn lính Khố Xanh. Sau đó họ bắt viên Công sứ Pháp. Thế là quyền cai trị toàn cõi Đông Dương đã về tay quân đội Thiên Hoàng. Dân An Nam, không một ai biết đầu đuôi ra sao. Gần trưa, thầy Hiệu dạy chữ Nho nhìn qua cửa sổ, thầy thấy người bạn từng đánh bài với mình, ông thông Luyện đang làm y tá ở nhà thương tỉnh đi ngang qua. Ông Luyện người Huế, nghe nói chỉ đậu tiểu học, có bà vợ người đẫy đà da trắng, tằng tịu với một viên quan Tây. Đổi lại, Luyện được giới thiệu vào làm thông nhà thương. Thông Luyện chạy hớt hơ hớt hải, nói vọng từ hàng rào bên ngoài trường học một câu tiếng Tây bồi: Les Japonnais frapper les francais! Biến cố quan trọng, Nhật Bổn đảo chánh Pháp. Cả lớp nhốn nháo. Ông giáo tái mét, chạy lên văn phòng Hiệu trưởng một lát ông trở lại lớp và cho học trò ra về.


Tụi Hạm bất ngờ được nghỉ, chẳng vui gì hơn. Ngoài đường vẫn mọi người đi lại buôn bán, nói cười, xe kéo, xe ngựa như chẳng có chuyện gì xảy ra.


Tuần lễ sau, tất cả được nghe một đạo Dụ của Hoàng đế Bảo Đại tuyên bố nước Việt Nam độc lập với sự bảo vệ của Thiên Hoàng. Cờ Tam tài được thay thế bằng một lá cờ màu vàng có hình quẻ Ly[5] màu đỏ ở giữa. Ít lâu sau đó, xuất hiện nội các Trần Trọng Kim, tác giả bộ Việt Nam sử lược nổi tiếng, với giáo sư thạc sĩ toán Hoàng Xuân Hãn làm Bộ trưởng Giáo dục. Các bài học từ đó đổi sang tiếng Việt hết.


Ở Quảng Ngãi, cụ Tuần vũ[6] Chơn An Lê Định, người sáng lập hội Phật học An Nam có chức danh mới: tỉnh trưởng. Ai nấy vẫn tiếp tục công việc của mình. Anh Sáu vẫn làm truyền bá quốc ngữ, anh Cả vẫn đêm đêm đi học võ tại ngôi chùa Thi Phổ, cả hai đều bí mật tham gia Việt minh. Về sau Hạm mới biết vậy mà anh Cả thâm trầm. Trong việc tranh chấp dai dẳng với anh xã Thọ về mấy tấc đất ranh giới hàng rào chỉ có mấy cây chuối còi ở ranh giới phía tây của khu vườn nhỏ mà thường khi anh phải đánh lộn u đầu sứt tai. Dùng tới sức lực thì anh Cả luôn luôn yếu thế. Anh cắn răng, âm thầm luyện đường quyền, mưu việc trả thù.


Tại thôn quê, ông bác họ nó, người Chánh tổng oai quyền từng xuất hiện lẫm liệt trong đám cưới anh Cả vẫn vững chân. Thỉnh thoảng, người ta thấy bóng người kị sĩ khả kính đó, chiếc roi lăm lăm vút gió, cái nón Gò Găng ngù bạc lấp lánh, tiếng nhạc ngựa hối hả reo vang dọc con đường cái quan đỏ sẫm, ông đi đi về về các xã đôn đốc việc quan.


Cái gọi là tờ báo bây giờ thì hồi đó kêu bằng nhựt trình. Cả làng Thi Phổ chỉ có một ông cậu nhà nó mới có. Ông học trường bá công (công nhân kỹ thuật ngày nay) ra làm thợ sửa xe hơi rồi chủ nhân hai chiếc ôtô hành khách Quảng Ngãi- Tuy Hòa. Ông nói ngọng, thỉnh thoảng tới thăm chị, thường được mẹ Hạm rót cho một ly rượu con. Vừa nhấm nháp, ông độc quyền loan ra những tin mới: Mỹ nhảy dù xuống Lạng Sơn. Bên Tây, Đức sắp thua. Còn về Nhật thì cái ông cậu ba hoa này đặc biệt cẩn thận. Ông sợ vạ miệng làm trở ngại hoạt động của hai chiếc xe đò đang đem về khoản thu nhập kha khá.


Điều Hạm thấy rõ hơn hết là những chiếc máy bay hai thân B-26 của Mỹ đã xuất hiện trên bầu trời xanh quê nó, có khi những ba chiếc, chín chiếc... thành đoàn như lũ cò sếu đi tránh rét mỗi độ thu sang. Có điều là chúng gầm rú ầm ĩ. Biển Cà Đó của những người nghèo lom khom như những bóng ma gánh những đôi ky lảng vảng đi lượm phân người khô trên những cánh đồng xa để tăng cường cho những mảnh đất cát trắng khô cằn chỉ trồng được khoai mì và thuốc lá, không còn lặng yên như hồi nó lên bảy tuổi nữa. Biển cũng bị khuấy động liên tục. Tàu thủy của Nhật ì ùng bắn đại bác lên máy bay Mỹ phun những mụn khói đen. Có tiếng nổ lớn hơn rồi lóe sáng chấn động khắp cả vùng thôn quê từ lâu vẫn yên tĩnh: máy bay Mỹ đang oanh tạc.


Một xã hội bề ngoài im ắng nhưng bên trong có sóng ngầm rung chuyển. Chính phủ Trần Trọng Kim đã cố hết sức nhưng vẫn không sao ngăn được số người chết đói ở ngoài Bắc. Hàng triệu, hàng triệu con người lũ lượt như những bóng ma rách rưới hôi hám chỉ còn da bọc xương và đôi mắt trắng dã, họ lang thang hàng mấy trăm cây số đi vào miền Trung, miền Nam xin ăn ngang qua tỉnh Hạm, phần lớn gục chết trước khi đưa được miếng cháo cứu trợ vào miệng. Nghe nói ở Bắc kỳ xác chết không ai chôn hóa thành ruồi. Ruồi bay vù vù làm thành những cơn bão đen sầm. Từ nỗi khổ của dân, Việt minh tuyên truyền và tổ chức tới tận thôn xóm.


Về sau, Hạm đi dạy Trung học ở An Phong năm 1952, một đêm trăng ngồi uống trà với một đồng nghiệp lớn tuổi ở ngoài sân nhà trọ là thầy Trần Ỷ. Ông ấy kể:


 


17. HAI THIẾU NỮ MA


 


Dạo ngoài Bắc đang chết đói thì tôi làm Bưu điện ở Qui Nhơn. Một tối thứ Bảy trăng sáng như đêm xay, tôi về thăm nhà trên một chuyến tàu chợ. Đường xe lửa bị dội bom nên tàu đến và đi sớm trễ bất thường. Bữa đó tôi xuống ga Lâm Điền khoảng ba giờ sáng. Nhìn chiếc bóng dưới chân mình tôi lủi thủi ôm cặp ra cổng ga. Qua khỏi xóm nhà nhỏ là đến cánh đồng lúa tháng năm vừa gặt mênh mông một màu ánh trăng ướp sương trắng đẹp lạ lùng. Hồi đó, lũ thanh niên tân học tụi tôi rất mê chuyện Liêu trai. Bỗng phía sau lưng tôi nghe có tiếng chân người. Tôi ngoảnh lại, dưới ánh trăng sáng như ban ngày là hai cô gái, chắc là hai chị em ruột, độ trên vài mươi, da trắng, tóc xõa, áo lemur tân thời, đẹp cực kỳ. Bấy giờ tôi mới ba mươi, làm Cò mi[7], bận đồ Tây, đội mũ phớt, đi dày souliers[8], một mình giữa cánh đồng ban đêm.


Một cô lên tiếng:


Có người cùng đi rồi, đỡ sợ ma.


Cô kia đùa:


Coi chừng, đàn ông còn đáng sợ hơn ma đó -  Họ cùng cất tiếng cười trong trẻo.


Tôi bạo dạn lên đáp lại:


Đàn ông này thì hiền lắm, chỉ sợ ma phăm (ma femme). Nhưng rất tiếc tôi chưa có ma phăm. Xin kính chào các quí nương, hai quí nương từ đâu về?


Chúng em ở Qui Nhơn ra.


Vậy mà hồi nãy tôi tưởng chỉ có tôi xuống ga một mình.


Lại tiếng cô gái trẻ hơn:


Bây giờ tới ba mình.


Như được khuyến khích, tôi tiến tới làm liều nắm tay cô gái. Cô để yên bàn tay dịu dàng mát lạnh. Đâu đây một mùi hương hoa lài nhè nhẹ tỏa ra, hương người hay hương tóc hay hương ánh trăng đêm. Tôi cho biết mình ở Quýt Lâm[9], đi học ở Sài Gòn, đỗ tú tài Tây rồi thi vào Bưu điện. Hai nàng nói họ học ở Qui Nhơn về nghỉ hè, giọng lanh lảnh chen với tiếng cười ròn rã. Tôi nhen nhúm một niềm hy vọng mơ hồ khi nghĩ đến một tiểu thư tân học, một người vợ trẻ trong mái ấm gia đình. Nhưng khi tôi hỏi địa chỉ, các cô như tránh đi:


Biết chỗ anh rồi, tụi em sẽ đến thăm và mời về nhà chơi.


Trong câu chuyện vừa đi đường với nhau, các cô mách lẻo thêm là Nhật sắp thua, học sinh các trường xôn xao, nhiều người bỏ lớp đi theo Việt minh. Bỗng, một cô bị trật quai guốc, cô nầy rút tay ra như có ý đứng lại chờ. Trăng sắp xuống núi, có tiếng gà eo óc gáy sương từ xa vọng lại. Tôi quay lại nhìn thì rợn người sởn gai óc, hai cô gái biến mất. May quá chỗ đó gần xóm có nhà dân, tôi vụt chạy như ma đuổi đến cái ánh lửa bên đường, trong một túp lều, một cụ bà đã già đang nhóm bếp thổi cơm sáng. Tiếng chó sủa ran, trời sáng hẳn. Tôi đinh ninh đó là hai bóng ma hiện ra trêu chọc tôi nhưng sau cũng có kẻ nói đó là hai nữ cán bộ Việt minh thời trước khởi nghĩa trên đường công tác quần chúng của họ.


Bề ngoài anh Cả vẫn đi cày, trông coi ruộng nương. Chợ sáng chợ chiều vẫn họp. Cha vẫn hằng ngày đọc những lời giáo huấn rút ra từ sách vở mấy ngàn năm trước của Thánh hiền Khổng Mạnh. Mẹ vẫn dậy sớm vo gạo và thỉnh thoảng vẫn dẫn Hạm đi về tám cây số đường khuya mà coi hát bộ ở cái rạp duy nhất trong Phủ Mới[10], ghế gỗ ọp ẹp, người xem say mê đến nỗi quên mất là khi ra về mông người nào cũng bị đỏ rần như lên sởi vì rệp cắn. Anh Sáu vẫn đi dạy, vẫn hăng hái tranh luận bằng tiếng Tây với đồng nghiệp về tình hình đất nước. Hạm thì khoái coi máy bay Mỹ bay đi thả bom. Nghỉ hè năm đó anh Sáu phải đi học bổ túc Sư phạm. Nó tha hồ tự do đọc truyện, hàng chục cuốn tiểu thuyết vừa Việt vừa Pháp, lại phụ việc làm ruộng, lại tắm sông, đá banh và đi làm Truyền bá quốc ngữ. Ruộng gặt xong người ta dùng cuốc bàn cuốc dựng từng tảng đất rồi để cho khô, thoáng khí dưới nắng gắt và gió mát mùa hè. Đêm trăng, đám thiếu niên rủ nhau ra đất ải làm công việc bài tiết, đất từng cục lổm chổm, gió mát vuốt ve khu đít, chúng vừa ngồi chồm hổm vừa kéo dài công việc để chuyện vãn, hoặc về một cuốn sách đã học từng gây tranh luận, như cuốn Đoạn tuyệt của Nhất Linh hay những chuyện đường rừng của Lan Khai, chuyện dã sử của Nguyễn Triệu Luật, truyện trinh thám của Thế Lữ đặc biệt là nhân vật Kỳ Phát của Phạm Cao Cũng, một thứ Sherlock Holmes Việt Nam thời bấy giờ.


 


18. KHỞI NGHĨA 1945


 


Một chiều cuối hè, Hạm theo lời mẹ, tới nhà ông Kít đặt may cái áo sơmi ngắn tay vải trắng và chiếc quần soọc xanh chuẩn bị cho năm học mới. Về tới Cầu Đập, nó nghe có tiếng mõ thất thần vang lên lốc cốc, rồi dân quê từ các thôn xóm tràn lên đường cái quan, tất cả áo bà ba bỏ vào lưng quần xà lỏn, tay thủ con dao bảy to hay gậy gộc nhọn hoắt, người nào cũng cầm một khoanh dây dừa. Nó tò mò đứng lại xem, lòng vừa nôn nao sợ hãi lại vừa là lạ thích thú. Nó gặp Trần Sa, con vị võ quan Thống chế Nam triều đã về hưu, người cùng làng, mới rớt kỳ thi tốt nghiệp, đang làm ban Truyền bá quốc ngữ xã. Lạ quá, anh ta bị đám đông vây quanh, chỉ trỏ vào mặt hô to:


Đồ con cái quan lại! Đả đảo phong kiến, tay sai đế quốc.


Hàng trăm tiếng đáp lại: Đả đảo, đả đảo rung chuyển cả bờ tre ruộng lúa khiến mặt nước con sông Cầu Đập vốn im lìm nhỏ bé cũng gợn lên những nét nhăn cau có. Nó chạy một mạch về nhà. Anh Cả cho biết: Việt minh đang khởi nghĩa, lật đổ chính phủ Trần Trọng Kim và phát xít Nhật vì Thiên Hoàng vừa đầu hàng đồng minh. Anh Sáu từ lớp huấn luyện cũng đã công khai làm thư ký cho một người bạn vừa là bà con của cha, bấy giờ đang cầm đầu cả tỉnh. Anh Cả vui mừng ra mặt. Đám anh em, ai cũng có được chút chức vị ở thôn xã, riêng anh thì giúp việc cho ông chú ruột phụ trách giao thông. Mười lăm năm trước ông chú hoạt động Cộng sản, bị Tây bắt bỏ tù hơn một năm, cha Hạm đã bán mấy đám ruộng tư của mình để chuộc em về. Vậy là cả dòng họ nhà Hạm chẳng những không mất mát gì mà có vẻ còn lên chân trong cuộc nổi dậy long trời lở đất tháng Tám mùa thu năm ấy.


Cơ quan thôn được thành lập nhanh chóng. Tại đường quốc lộ ngang xóm Cầu Đập, một sợi dây chắn ngang đường. Người anh ruột của chị Một Rơ là một trai làng mạnh khỏe đã bỏ cây sào chăn vịt để cầm thanh dao bảy sáng quắc. Dù không có mấy chữ nghĩa, anh ngồi chồm hổm trên ghế dựa sau bàn giấy ban lệnh cho toán tự vệ. Nước da rám nắng, giọng nói oang oang thừa hưởng từ cái oai quyền làm phó đề[11] của cha, anh Chín trở thành thần tượng của Hạm lúc bấy giờ. Viên chức hương thôn trước Cách mạng, các cụ Hương, Lý, ông Tú, ông Trợ giáo bị bắt giải tới đang âu sầu khúm núm ngồi ngoài hè. Anh đưa mắt cho họ khiếp sợ, nép vào vách, rồi buông thõng: Chờ tôi trực tiếp thượng cấp đã. Anh xài từ mới.


Lũ Hạm thành lập ngay một nhóm đồng ca để hát hò giúp vui cho những cuộc họp hành xảy ra liên miên của dân quê, nam phụ lão ấu đủ mặt. Phần lớn người ta tới dự vì sợ hãi và hiếu kỳ.


Quên đi nhanh chóng những lời ca ngợi nước Pháp: Cờ ba sắc đại Pháp kia kìa. Chúng hát những bài mới không mấy khó khăn: giang tay ta tung hô muôn năm bóng cờ. Muôn năm cờ bay trên quân hồng. Chúng rất kiêu hãnh được bà con dân quê, dù không biết một chút gì về nội dung những bài hát nhưng đã vỗ tay hoan hô lép bép. Khán giả của các cuộc trình diễn lôi thôi này thường áo quần lam lũ, ngồi chồm hổm trong sân, hoặc vừa nhai trầu hay vừa vén quần đái tồ tồ, vừa nghe cán bộ hùng hồn diễn thuyết. Thi Phổ là quê của một người bà con nhà Hạm, anh Tám Khuy tức Trần Nam Trung, người có công thành lập chiến khu Ba Tơ uy tín lẫy lừng, nên xã phải có ngay đội du kích. Anh Nhì Quế, em ruột anh xã Thọ người đã chèo ghe với cha vào một đêm mưa gió, bốc thuốc cứu Hạm, người thoát ly lên chiến khu cách đó hơn năm, nay đã trở về với tư cách phái viên của huyện. Một lời anh hô trăm kẻ dạ ran. Các thanh niên đen đủi khỏe mạnh sẵn sàng nhai khoai sắn của nhà mà vác ngà voi cho đại cuộc. Băm sáu người làm một trung đội với dăm khẩu súng trường cũ, còn lại là dao rựa. Luyện tập cấp tốc. Cái không khí Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu của thời nhà Trần hồi sinh rừng rực, ai cũng ngứa ngáy chân tay, mong có ngay một kẻ thù nào đấy để ăn xương uống máu, bày tỏ nhiệt tâm, khả năng chiến đấu và lòng dũng cảm của mình.


Vận may đã đến.


Tin từ trong huyện báo ra là có một toán lính Nhật còn kẹt ở Ba Tơ theo đường tỉnh lộ xuống Đồng Cát mà ra thị xã, để nhập vào hàng ngũ của họ, chờ giải giới. Không rõ có ai chủ trương không, nhưng khoảng xế chiều người ta thấy du kích Thi Phổ kéo ra Mỏ Cày nằm phục kích. Chợ vừa vãn thì quả có hai xe nhà binh Nhật chạy theo hướng Nam ra Bắc. Mọi người nín thở chờ đợi. Bỗng có tiếng súng trường, lác đác tiếp theo là vài tràng liên thanh kêu xình xịch, rồi thôi. Tối đó, có tiếng loa gọi bà con đi mít tinh. Dưới ánh đèn măng sông của chú hương Hường cho mượn treo trên giàn mướp, đại biểu huyện gắt gao hài tội phát xít Nhật đã thua trận mà còn ngoan cố, tàn ác. Đồng chí nói tiếp:


Chiều nay tại Mỏ Cày, chúng đã tấn công quân ta. Ta đã anh dũng chiến đấu và đồng chí Trần Thuẫn đã hi sinh. Tôi tuyên dương công trạng của tử sĩ và đề nghị lấy tên đặt cho xã nhà. Từ đấy làng Thi Phổ mang tên làng Trần Thuẫn, một cái tên không mấy thọ.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Cảm ứng với lẽ Trời, thuận hòa với người đời.




[2] Người mới sinh ra, tánh vốn thiện.


 




[3] Lý là xóm. Nhưng đây chỉ chức sắc hành chánh coi cả làng hồi xưa, trước tháng 8 năm 1945.




[4] Don: Một loài ốc nhỏ, đặc sản của Quảng Ngãi, nấu lõng bõng rất ngọt, múc từng tô, có lá hẹ, bỏ bánh tráng nướng vào, rất ngon!


 




[5] Cờ vàng, giữa có 3 vạch đỏ, vạch giữa đứt làm đôi, ly theo Bát Quái là phương Nam.




[6] Quan cai trị tỉnh. Bấy giờ, tỉnh lớn như Quảng Nam, Thanh Hóa thì có quan Tổng đốc, tỉnh vừa như Quảng Ngãi thì có quan Tuần vũ, tỉnh nhỏ như Phú Yên có quan Bố chánh.




[7] Quan chức thông phán trong cơ quan tỉnh thời Pháp (trước tháng 8/1945).




[8] Tức giày da, bao cả mu bàn chân.




[9] Thuộc xã Đức Phong, huyện Mộ Đức, Quảng Ngãi.




[10] Phủ mới: phủ lỵ mới của Mộ Đức, ở làng Thiết Trường, nay là xã Đức Tân.




[11] Chức coi đắp đập thủy lợi trong làng. Đề : đê điều.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.04.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
xem thêm »