tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23575696
Tiểu thuyết
06.09.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

11. CÔ BA NHÀ TRỌ, VỊ NỮ THÁNH KHÔNG BIẾT CHỮ


Anh Sáu và nó đều ở trọ nhà cô Ba, gần trường. Năm đó cô trạc bốn mươi, lưỡng quyền cao, người quắc thước, đang là vợ thứ thất của ông Cửu phẩm mà bà Cả mới đích là cô họ xa, thật xa của nó. Ông Cửu trước khi mất đã cho cô hơn một mẫu ruộng để nuôi đứa con trai duy nhất: Chi, hơn Hạm chừng năm tuổi, đang theo học năm thứ ba Trung học ở Huế. Cô nấu cơm tháng cho một số thầy giáo và học trò trường Huyện. Nhà cô ngay ngã ba quốc lộ I và một con đường đất chạy về miệt biển Quýt Lâm cách đấy một giờ đi bộ về phía Đông. Những chiều đông không mưa, Hạm ra đường thơ thẩn nhìn về phương Bắc, thấy mây trắng la đà, Hạm đoán chừng giờ đó mẹ đang lui hui trong bếp lửa. Ôi, nhớ mẹ biết bao!


Còn về phương Đông, con đường cát trắng này về đâu? Qua cánh đồng mênh mông loáng nước sóng dồi của xứ Văn Hà, với chiếc cầu tre lênh khênh thấp thoáng bóng người đi. Dưới đó cũng có một người con gái, da trắng nõn nà, tóc dài phủ vai, học cùng lớp. Nàng chỉ ăn cơm buổi trưa nhà cô Ba, chiều thì nàng đi bộ về nhà.


Cô ta và Hạm bị đám cùng trọ cặp đôi nhau, vậy mà hai đứa bé phải hàng ngày đối mặt nhau qua cái mâm gỗ là cả một cực hình. Nhưng sau đó, trong giờ im vắng buổi chiều, một nỗi gì nhẹ nhàng gợi nhớ vẩn vơ? Có một cái gì đó nhưng cũng như không có gì, như cái sắc sắc không không của đạo Phật, như cái hư ảo có thật của kiếp người. Họ thầm lặng lén nhìn nhau. Còn trong tuổi thơ, chưa tới ngưỡng cửa tình yêu, câm nín và tiềm sinh, chưa đủ sức để biểu hiện dù chỉ trong ý nghĩ. Và như thế thời gian qua, trôi nhanh như giòng nước hiền.


Hết lớp nhất, Lợi - tên người con gái, ở nhà giúp mẹ, mười năm sau lấy chồng bộ đội. Chồng tập kết, Lợi là Việt cộng bị bắt ra tỉnh. Hạm đi dạy học có quen với một Công an, xin cho nàng được thả. Hôm được về nhà, Lợi ghé ngang thăm thằng bé Văn, con đầu lòng của chàng, cho nó một chồng bánh tráng. Thấy Lợi ngồi nói chuyện với vợ chàng, Hạm chỉ gật đầu chào, đôi mắt nhìn nhau xao động cả cái quá khứ hai mươi năm. Đấy, đáy sâu của luân hồi.


Cô Ba coi Hạm như con. Hồi đó, ở miền quê trẻ con nào cũng ghẻ chốc đầy mình, khổ nhất là loại ghẻ ruồi, chỉ nhỏ bằng đầu con ruồi, mọc ở chỉ tay, kẽ tay cực kỳ ngứa ngáy. Có khi rựng mủ lên, cầm viết rất khó, còn mình mẩy chỗ nào cũng lốm đốm mà chữa trị chỉ có lưu huỳnh trộn với dầu dừa xức lên. Có người nói do vùng Thiết Trường này nước có quá nhiều chất sắt làm hại gan; có người cho rằng do học trò nhà quê lúc ấy ăn uống quá thiếu thốn. Buổi sáng thì bốn mùa tám tiết là cháo trắng với muối đã đành, trưa và tối thì chủ lực vẫn là cơm với mắm nêm tỏi ớt chấm rau muống luộc hay rau sống hoặc cá mòi muối chưng chín rắc hạt tiêu với mít non. Ôi cái con mắm mòi dầu béo ngậy năm đồng ăn sáu, những con mắm mòi ranh nhỏ dẹp sáu đồng ăn ba, đã được người dân nghèo Thi Phổ tôn vương trong những bữa ăn của mình hằng ngày đi vào huyền thoại bằng lời ca dao:


Tiếng đồn chị Bốn có duyên


Anh Bốn đi cưới một thiên mắm mòi.


Chẳng tin chị mở xiểng ra coi


Mít non để dưới mắm mòi để trên


Hào phóng lắm mới có quả trứng vịt luộc hay ít thịt cá kho mặn hoặc nấu canh. Cha mẹ học trò mỗi tháng chỉ đem đến cho cô Ba năm chục lon gạo và ít tiền củi lửa rau mắm. Cô Ba bản thân cũng khá chật vật để xoay xở cho đám trẻ nhiều khi chẳng có mối quan hệ thân tộc nào mà cô thương như con đẻ. Năm giờ sáng, mặc dù vào mùa đông trời rét căm, lũ trẻ con còn ham ngủ, cô đã dậy, lăm lăm chiếc roi trong tay, hét thúc chúng phải thức dậy học bài. Ngọn đèn dầu hỏa được thắp lên trong đêm, lũ trẻ vừa trùm mền, ngồi xổm trên giường sát bàn học, mắt nhắm mắt mở lật từng trang sách vừa ê a đọc, những bài học tiếng Tây, ngủ gà ngủ gật nhưng vẫn cố làm ra vẻ tỉnh táo nhìn cô Ba đang đứng cạnh. Cô vừa trông coi nồi cháo, vừa đến gần cửa sổ thao láo theo dõi từng đứa một. Thỉnh thoảng lắm, vào dịp giỗ chạp hay rằm tháng Mười, hay sau mùa gặt, hay nhằm khi bán được món gì có lời, cô thường đãi chúng một chầu bánh xèo hoặc một nồi bún cua. Tiếng tốt của cô đồn xa, sau mỗi năm thi Tiểu học người ta kháo nhau: Ở trọ nhà cô Ba là phải thi đỗ!


Có lần luôn một tháng trời cô không cho Hạm về thăm mẹ. Cô nói Chủ nhật phải ở lại để cô tắm và xức ghẻ cho. Hạm rợn người với những quyết định đó, nhưng ý cô cũng là ý trời. Cô hái lá sầu đông nấu một nồi nước sôi, pha còn quá nóng rồi xối vào người nó, móng tay cô cào cấu khắp mình mẩy, nó giẫy nẩy rên la kêu khóc mấy cũng mặc. Cô chặm khô mủ máu rồi lấy mấy đồng tiền kẽm nướng trên lửa than đỏ rực xong để nguội mà tán ra bột, trộn với dầu dừa phết trên mặt các mụn ghẻ thười lười đỏ lòm, nó đau rát tới phát sốt lên. Kỳ lạ thay tấm lòng thương yêu và thứ thuốc quê mùa của cô thật hiệu nghiệm. Chỉ qua một vài bận như thế Hạm hết ghẻ chốc.


Cô không cao lớn nhưng tiếng nói rổn rảng. Ở quê Hạm người ta có câu ca dao:


Đàn ông rộng miệng thì sang


Đàn bà miệng rộng tan hoang cửa nhà.


Người ta kể lại rằng, hồi còn con gái, cô là Thứ thất một ông bá hộ giàu có và oai quyền, làm chánh tổng. Một hôm cụ chánh tuổi còn sồn sồn này sàm sỡ với một thôn nữ con nhà tá điền nhan sắc mặn mà. Cô kiểm tra chắc chắn tự sự, nhưng vẫn làm thinh chẳng nói gì. Tối đó, gần nửa đêm, sau khi cho thầy tổng một chầu nhục dục mệt nhoài, cô lấy cọng dây dừa đã mua sẵn giấu trong buồng trói thầy lại. Rồi đánh thức đức ông chồng, tạt nước lạnh lên mặt cho ngài tỉnh ngủ để dóng tai lên nghe cô chậm rãi, đĩnh đạc hài cái tội bê bối không chối cãi được kia. Cuối cùng, cô dùng roi mây đét vào đít ông chồng hư vài chục cái. Thầy tổng gầm gừ tru tréo và hạ giọng xin lỗi, cô cũng chẳng dừng tay. Hả lòng ghen giận, cô gói ghém áo quần gọn ghẽ rồi ra ngoài khóa trái cửa lại, lẳng lặng về nhà cha mẹ ở vào lúc trời còn tinh mơ.


Thầy tổng được giải cứu, ít lâu sau nguôi ngoai, cho người đi tìm. Cô thách thầy có gan thì tới gặp. Nhợn mặt sư tử Hà Đông thứ thiệt, thầy làm lơ luôn. Về sau do duyên trời định, cô thế chân vào vị trí bà cô họ xa của Hạm sớm vắn số. May thay ông dượng này nhút nhát nên chưa ai được nghe nói là đã bị cô cho ăn đòn. Cô trị cả ba người con chồng, một trai hai gái bằng tất cả thương yêu bao dung và ngọn roi mây nghiêm khắc, nên nhờ đó người nào cũng đỗ được tiểu học và người con trai lớn, con riêng của chồng, cô cũng cho ra tận Huế dùi mài kinh sử.


Ba chục năm sau (1971) Hạm đã lớn, ra ứng cử Quốc hội ở quê nhà. Trong đợt vận động, Hạm cùng anh Sáu ghé nhà cô, mái tranh xiêu vẹo bên đường. Bấy giờ cô đã già, một mình một bóng. Người con trai duy nhất vốn là huấn luyện viên thể dục thời Pháp nay đã đi tập kết, người con dâu bỏ quê vào Vũng Tàu cạo đầu đi tu, pháp danh là ni cô Diệu An nương tựa cửa chùa Linh Sơn cổ tự để bán tương chao mà nuôi ba đứa con trai dù không có cha, cũng được ăn học tới nơi tới chốn.


Cô giận lẫy nói với anh em Hạm:


Nếu không có ứng cử, chắc hai đứa bây cũng quên nhà cô rồi.


Không đâu cô ơi, tụi cháu vẫn nhớ cô hoài. Không có cô tụi cháu đâu có ngày nay- Hàm nói.


Thôi, tao bắc nồi cơm đây rồi có công chuyện phải đi, hai đứa ở nhà tự dọn cơm trưa mà ăn. Có cái trứng vịt và đĩa rau muống luộc trong lồng bàn, mắm ớt sẵn đó. Tao cũng phải vô khuôn hội Phật giáo mà vận động cho mầy.


Hai đứa. Cô vẫn kêu hai đứa như xưa, dầu anh Sáu đã ngoài năm mươi và Hạm đã quá cái tuổi tứ thập nhi bất hoặc.


Hôm đó quá trưa bụng hai đứa đói cồn cào. Sau khi cô đi, anh em Hạm lục cơm ra ăn, có lẽ không có thứ sơn hào hải vị nào trên thế gian này ngon tới thế. Nhà cô xiêu vẹo hơn xưa, thanh bạch tới độ không có cái gì để sợ mất, lũng ruộng nhỏ sau nhà đã cầm cố vào tay thiên hạ, hũ gạo đã vơi.


Sau khi đắc cử, đi công tác, Hạm ghé thăm cô mấy lần. Lần nào cũng biếu cô tí tiền nhỏ, đều bị từ chối đây đẩy:


Mày còn có lũ con, phải lo cho chúng. Cô già rồi, không cần.


Mấy năm sau được tin cô mất, cũng chỉ hàng xóm tới tẩm liệm đưa đi chôn. Cô thật vĩ đại. Bình sinh giọng cô sang sảng, lí lẽ cô ít học mà đanh thép, tới ông đề[1] trong huyện cũng phải kiêng dè. Vậy mà cô lại sợ con dòi trong mắm[2]. Có lần mở tĩn mắm ra, thấy có con dòi, cô sợ chết khiếp đi, té ngửa ra bất tỉnh. Bởi vậy, mắm cái của cô muối không bao giờ có dòi. Cô thuộc về một cái gì rất dân dã, không uyên bác trí thức, nhưng chống lại mọi loài dòi bọ trên thế gian. Chắc chắn bây giờ cô đã thành một nữ thánh không biết chữ, thảnh thơi miền Cực Lạc.


 


12. NHẬT VÀO ĐÔNG DƯƠNG, ANH CẢ ĐI HOANG


 


Cuối năm 1942, anh Bảy tốt nghiệp Trung học, rất muốn tiếp tục ban Tú tài nhưng nhà chỉ làm ruộng, cha nó không theo nổi. Trong một bức thư gửi anh Sáu, Hạm lén đọc được, lời anh than thở: Ôi! Sao ông trời nỡ giam hãm anh em ta trong cái vòng kiến thức hẹp hòi của bực phổ thông? Ham học là tính truyền thống mấy đời của giòng họ Nguyễn Văn nhà nó.


Dạo đó người Nhật đã xuất hiện ở Quảng Ngãi. Thỉnh thoảng trên đường di chuyển theo quốc lộ I, họ dừng chân ở chợ Thi Phổ. Bài quốc ca Pháp vẫn vang lên trong các trường học những buổi chào cờ, nhưng những tờ truyền đơn kêu gọi thanh niên Việt Nam đi lính chống Đức quốc xã bằng những câu thơ lục bát mà đứa trẻ con nào cũng thuộc vẫn được in dán trên tường:


Hỡi anh em bạn tùng chinh


Vì sao nước Pháp hưng binh phen này


Chỉ vì người Đức cố gây


Muốn làm bá chủ đông tây một mình...


thì đã được thay thế bằng những tờ họa báo tuyên truyền cho chủ nghĩa Đại Đông Á của Nhật Bổn, in bằng giấy láng. Chúng phô trương sự hùng cường của đất nước Phù Tang với đỉnh núi Phú Sĩ tuyết phủ, với hình ảnh hải lục không quân Thiên Hoàng, tân tiến và hùng mạnh của một Quốc gia phương Đông, cố khai thác cái tình cảm cùng giống da vàng. Tất cả đã gieo vào trí óc non nớt của Hạm và đồng bạn lòng tự hào đủ làm dấy lên những cuộc bàn luận sôi nổi mà tiếng mẹ đẻ thỉnh thoảng lại được chen vào một vài chữ Pháp.


Rồi phi cơ Mỹ bắn phá ầm ĩ, dội bom chiến thuyền Nhật ở biển Cà Đó. Một chiều, một toán lính Nhật, như một đám tàn quân kéo lên chợ Thi Phổ. Mấy người đàn bà trong xóm đi chợ về mách lẻo với mẹ nó qua hàng rào:


Chị Thủ[3] trước nhà ông hương Hường, lính Nhật nằm ngồi la liệt, ra coi.


Hơi đâu. Tui còn phải coi làm cỏ ruộng Cứt Sắt.


Chỉ một lát sau bọn Hạm đã đối diện với những chiến sĩ anh dũng mà theo sách vở, lúc nào cũng sẵn sàng mổ bụng để bảo vệ danh dự của một võ sĩ đạo. Nhưng thực tế đã làm nó thất vọng: toán lính Nhật áo quần xốc xếch đang chống những cọc sắt ngắn ba chân, treo lủng lẳng những chiếc xoong nhôm thật to. Họ bắt hương lý trong làng nộp củi và gạo để họ nấu cơm. Khi cơm sôi, họ lục tìm trong túi dết những gói đường kết tinh màu nâu sậm và những gói bột ớt đỏ lòm cho vào, rồi dùng vá đánh thật nhuyễn thành một loại nửa cháo nửa cơm. Mỗi người được chia cho một gà mên. Họ vừa múc ăn ngon lành, vừa xì xồ nói chuyện trong đó Hạm chỉ nghe biết được có một vài tiếng: Dô tô, a ri ga tô.


Quang cảnh đó làm nổ ra cuộc tranh luận mới giữa lũ trẻ:


Ông có râu kia chắc là ông sếp.


Không phải. Tao cá một ăn mười với mầy. Ông trẻ kia mới chỉ huy. Hồi nãy tao thấy ông có râu đem đồ ăn tới quỳ đưa cho ông trẻ.


Nhưng sao người ta ăn khổ quá vậy?


Chuyện, Nhật văn minh nhất thế giới. Cái thứ bột nâu nâu, đo đỏ đó chắc là được chế từ bển đầy đủ bổ dưỡng rồi.


Sáng hôm sau, toán lính Nhật dọn đi, vẫn lôi thôi lếch thếch nhưng được mấy chiếc xe nhà binh nhiều bánh tới đón, bỏ lại những người dân Thi Phổ tò mò ngơ ngác. Rồi tàu bay Mỹ tới dội bom cả cái ga Lâm Điền nhỏ bé ẩn khuất vào đám lau sậy của hòn núi Vam gần làng Hạm. Nó nghe nói tại đây người Nhật không bị tổn hại gì, chỉ chết có ông sếp ga, bà con xa với nó mà hồi còn đi học Chợ Chùa, ông đã thỉnh thoảng cho cha và nó đi đỡ một đoạn đường từ đó ra Phú Nhiêu miễn phí.


Những tin đồn kế tiếp tới tấp bay về những làng mạc vốn phẳng lặng: hải quân Nhật bị oanh tạc, biển Cà Đó bị nhiễm dầu đen thui, cá mòi bỏ đi hết. Ơi còn đâu những con mắm mòi muối ngậy mỡ, chưng lên thơm phức, được tôn vương bởi những người dân nghèo. Sau đó, người ta còn đồn là người Nhật đã dùng máy tầm ngư dụ loài cá mòi sang nước họ. Sáu mươi năm sau, năm 2002, Hạm trong một lần ngẫu nhiên được tái ngộ con mắm mòi thần thoại của chàng, ở San Jose, Cali, Mỹ.


Đường xe lửa gián đoạn, anh Bảy trong khi chờ bổ làm thừa phái[4] đã tranh thủ về thăm nhà, phải mất mấy ngày chen chúc trên tàu ngổn ngang những người chạy loạn. Dân quê Bắc kỳ bị buộc phải nhổ lúa bỏ đi để trồng đay cung cấp cho nhà máy dệt bao bì của Nhật. Ở chánh quốc thì bây giờ chiến tranh đã bị lùi dần tới gần biển Okinawa. Mọi thứ đình đốn, cây đay Việt Nam trở thành món hàng ế mà gạo thì không có ăn, từng dòng người đói từ các tỉnh phía Bắc như những bóng ma nối tiếp nhau thất thểu sờ soạng mò vào các cửa ô. Nhưng thành phố chỉ có gạch, xi măng trần trụi lãnh đạm và những người dân cày đã mất đi những cánh đồng thoảng bay hương lúa. Họ kiệt lực gục xuống chết đói bên vệ đường. Trong giấc ngủ vĩnh cửu đó, nguyện cầu Trời Phật cho linh hồn họ được mơ thấy một cuộc sống an bình với vườn rau ao cá, với đàn gà vịt xôn xao mỗi sáng, với lũ bò trâu no tròn, với những cây rơm bụ bẫm, với những bếp lửa chiều hôm yên tĩnh nhả khói lên cao, cao tận trời xanh. Airgato, arigato.


Một hôm đi học về, Hạm thấy cha ở nhà cô Ba, đang nói chuyện thì thầm với anh Sáu. Nó núp sau tấm phên lén nghe:


Cụ phủ Hoằng đòi cha vô à? - Tiếng anh Sáu.


Ừ. Ổng nói mầy có chân trong hội kín.


Ối, đâu có. Cha cứ bẩm con là bạn của anh Nghị, con cụ. Lúc nào con cũng là công chức của nhà nước bảo hộ và chánh phủ Nam Triều. Chắc là xã trưởng họ Phạm ganh tị với cha về việc nhà mình lo Hậu hiền cho cụ tổ Nguyễn Đăng Quang nên đã mật báo với ác ý trả thù đó thôi.


Thì mai cha sẽ trình lại để quan xét - Cha nói trong tiếng thở dài lo lắng. Sau biến cố đó, anh Sáu cẩn thận hơn. Quan phủ biết anh có tham gia phản đế; nhưng cũng biết thêm là thống chế hộ thành Nguyễn Hữu Duyên vốn thân tộc với bên ngoại anh. Nếu gây khó cho anh, thì chưa chắc đã lợi gì, lại có thể trở ngại cho con đường hoạn lộ của mình. Do đó ông đã làm lơ. Bởi vậy, thầy đốc Cự được gọi sang để yêu cầu kiểm soát kỹ thuộc hạ và anh Sáu vẫn bình an gõ đầu trẻ. Chẳng những quan tri phủ đã biết tư tưởng cũng như hoạt động của anh Sáu mà tới Hàm cũng mang máng thấy nơi anh một cái gì là lạ. Anh Mười nó học ở tỉnh hôm về thăm nhà có moi từ rương của anh Sáu một cuốn sách chữ quốc ngữ in trên giấy Đáp Cầu xám đen với hàng tựa: Chủ nghĩa Lý-ninh[5]. m


Hạm tò mò lật coi mấy trang, không hiểu gì hết. Dạo đó so với trong tỉnh, nhà nó có nhiều sách vở hơn hết. Hàng chồng sách chữ Hán của cha nó. Hàng rương sách tiếng Pháp của anh nó và la liệt là tiểu thuyết của Nhà xuất bản Ngày Nay, Tự Lực văn đoàn, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Phụ Nữ Tân Văn... Chiều mồng chín tháng Chạp âm lịch năm ấy, về ăn giỗ bà ngoại nó, sau một ngày chơi đùa đông vui thỏa thích với đám anh em họ hàng gần xa, nó ngủ sớm. Bấy giờ mẹ đã có hai cháu nội, một gái một trai. Sau cuộc tụ tập huyên náo, rồi ai về nhà nấy, ngôi từ đường càng trở nên hiu hắt. Chị cả ôm con vào lòng kẽo kẹt võng đưa, ru những lời thật buồn nhưng ảo não vọng lên từ một khoảng tối mông mênh:


Hết mùa cá chẳng về nương


Chào rày[6] bạn cũ hết thương mình rồi


Tai nghe bạn cũ có đôi


Trong dạ nóng nảy như vôi mới hầm


Nắm tay bạn cũ khóc thầm...


Bây giờ quế đã xa trầm, trầm ơi!


                         ( Lời hát ru Quảng Ngãi)


Tiếng hát trầm trầm nỉ non, như than thở cho một cuộc tình. Con nhà giàu nhưng không được đi học, chị không biết chữ. Lớn lên tự nhiên như cây mít ở ngoài vườn, mười tuổi chị còn ở truồng, ngồi đánh nẻ với lũ bạn, lấy cắp tiền nhà của mẹ ăn quà bánh đúc và sẵn sàng nỏ mồm hùa với chị em chửi nát mả bất cứ kẻ nào xung đột, dù phần trái có về phía mình.


Hết thời trẻ con, chị phụ mẹ ra đồng với trai bạn làm mướn trong nhà. Khi biết nuôi mái tóc thề và soi gương, chị được mai mối về làm dâu nhà họ Nguyễn Văn, giã từ vùng ao hồ Bầu Súng và đồi đá sỏi An Phong. Lại việc cày bừa gặt hái, cây mít trổ huê ra trái thì chị có bầu đẻ con, giản dị vậy thôi. Nhìn chị vừa trệu trạo nhai cơm với chút cá nục kho, lừa ra đầu lưỡi, lấy tay trét vào cái miệng đang khóc lè nhè, mũi dãi lòng thòng của thằng Ninh, thỉnh thoảng chị quệt tay áo vải đen chùi cho nó. Hạm cảm thấy thương anh Cả và thương chị vô cùng. Hạm không hề nhận ra được mối liên lạc nhỏ nhoi nào giữa cái con người gần như vô hồn của chị với lời tự tình sâu thẳm trong giọng ru con. Chắc chắn chẳng có chút đồng cảm nào, vậy mà… ủa, sao lạ quá, chị - người đàn bà thất học và không nhan sắc đó lại có cái giọng ru u ẩn diễn tả được cái số kiếp của con người: hẩm hiu! Nhưng là nghiệp dĩ chung cho cả nhân loại chúng ta; bất luận là bậc tài tử giai nhân như Hàn Sinh và Liễu Thị ở Chương Đài trong cổ thi hay người thôn nữ mù chữ như chị. Số phận cũng là Karma, cũng là tiềm thức.


Đêm đó trời mưa và trở lạnh. Hạm quanh quất nhìn, nó không thấy ai sung sướng cả. Mẹ mải bận chăm sóc ruộng vườn. Cha dạo này có vẻ lo lắng. Còn anh Cả thì lầm lầm lì lì cả ngày, không nghe nói một lời. Nghe đâu anh đang học võ, chạng vạng đã mất biến đến khuya. Ngôi nhà mái đất nhỏ bé đã trở thành rộng thênh. Đêm tháng Mười trời không trăng sao, chỉ nghe tiếng gió đập hàng cau lạch phạch. Sáng hôm sau, còn đang ngủ, nó nghe có tiếng khóc tỉ tê từ trong buồng chị dâu cả vẳng lại. Rồi tiếng mẹ nó hỏi:


Nó đi hồi nào?


Con không biết. Gà gáy, dậy nấu cơm hổng thấy thẩy[7] đâu, chẳng còn cái áo quần nào để lại.


Anh Cả nó đi hoang rồi. Dưới mắt cha là đại bất hiếu, dám làm lỡ dở cái chủ trương rất quan trọng của ông: ông đang chạy cho anh Cả một chân lý trưởng trong làng. Tìm kiếm các chỗ bà con và bạn bè cả tháng sau đó, vô hiệu. Những cái miệng thêu dệt đã loan truyền trong hàng xã: nào bà mẹ chồng xử ác với con dâu, anh con trai không bênh vợ được phải bỏ đi; nào anh chê cô vợ xấu, nào nhà ông hương Côn có máu điên; nào anh đã theo đi du kích Ba Tơ.


Mãi rồi người ta cũng quên đi. Năm tháng sau, người con trai nhà quê trở về, mang theo cả một cái vali da bóng và đi giày bata trắng. Anh được cả làng tới, nhìn chòng chọc vào hai cái răng vàng xuất hiện ở hàm răng trên của anh. Anh hãnh diện chia trà Đà Lạt và nhất là kẹo sôcôla, một thứ quà bấy giờ còn cực kỳ mới lạ với dân quê và còn bất ngờ, cực kỳ văn minh cho mọi người xem, anh bật máy lửa xoèn xoẹt mồi những điếu thuốc thẳng thơm phức lấy từ trong bao Cotab tinh tươm. Trong câu chuyện của anh thỉnh thoảng lại chen vào vài tiếng Tây. Thế là dư luận lại được dịp đảo ngược: ông Ba Thành đi làm sở Tây ở Đà Lạt… có tới cung điện của đức Hoàng đế Bảo Đại, đã đích mắt trông thấy đức ngài cùng Nam Phương hoàng hậu đi săn voi. Ngài bắn bị thương một con voi đực có một ngà, khiến nó điên tiết xông lại, nhưng đức Ngài có tài thiện xạ như Dưỡng Do Cơ trong Đông Chu Liệt Quốc thời xưa, bách phát bách trúng. Rủi thay, ngài bị té trật chân, các quan hộ giá đến nâng ngài dậy tung hô: Bảo vệ đại Hoàng đế vạn thọ vô cương.


Câu chuyện thật có, hư có, nhiễm màu phong thần lẫn lộn với văn minh Tây, Nhật của khoảng non giữa thế kỷ hai mươi đó, tạo ra một thế giới vừa huyền hoặc, vừa thực tiễn trong óc Hạm. Sau này nó nghe anh Cả nói chuyện với anh Sáu thì được biết là sự thật anh chán quá cái cảnh làm nông, mấy người bạn cũ lại cứ tới thúc anh theo Việt minh nhưng sợ lịnh quan phủ, anh không dám. Sẵn có anh Năm Thúy thợ hớt tóc nhà ở bên Rào rủ đi Bình Định, Phú Yên bán thuốc dạo dỏm cao đơn hoàn tán, anh mượn mấy đồng bạc dằn túi, lén nhà ra đi.


Hai người gia nhập vào cái đám đàn ông từng lấy da trâu, thục địa, cam thảo, vỏ quýt trộn với chuối già chín, viên thành hoàn nói là trị được bá bệnh từ sốt rét tới tiêu chảy, để kiếm ăn bằng sự dụ khị cái tấm lòng dễ tin của người dân quê cực nam[8]. Chẳng mấy chốc họ rủng rỉnh xu hào may được áo sơ mi trắng, quần tây, hộp quẹt, tra được răng vàng. Làm ăn đang ngon trớn nhờ cái miệng nói dẻo quẹo của Nam Thúy thì một buổi sáng rảnh rang, anh Cả giở cuốn Kiều ra bói thử cái chơi, chiếm được hai câu:


Cột yên quẩy gánh vội vàng


Mối sầu sẻ nửa bước đàng chia đôi


Anh phân vân chưa đoán được điều gì, thao thức mãi thì sáng hôm sau ngủ dậy trễ, sờ bên cạnh thấy trống lỗng: ông bạn hiền Năm Thúy đã đi đâu mất, mang theo cả túi tiền của anh. Tứ cố vô thân, một liều ba bảy cũng liều, anh lên luôn Cầu Đất làm phụ hồ. Bấy giờ Nhật đang xây công sự ở đó, anh đi làm cho mấy ông thầu khoán tư, lương cũng kha khá. Nhưng nhớ nhà, nhớ hai đứa nhỏ, dù sao cũng là một công tử nhà quê, chịu đời không thấu với cái nghề culi và khí hậu lạnh lẽo, anh bỏ về, xét ra cũng còn lời: một cái vali, hai cái răng vàng…


Ôm đứa con nhỏ mới lên ba còn lạ hơi cha, anh chọc nó cười, lòng thầm kín tự hào. Trở lại với đời sống quê Thi Phổ, anh có vẻ chấp nhận hơn cái số phận của mình nên đã đều đặn cho ra đời ba năm hai đứa, một lũ trẻ trai có gái có, đến nỗi anh phải chật vật lắm mới kiếm đủ tên để đặt cho chúng: Ninh, Niêm, Nã, Ni… và kiếm cho đủ tiền nuôi chúng đã là điều làm anh biết bao đau khổ cho tới khi anh nhắm mắt, nhưng đó cũng là tất cả hạnh phúc của anh. Giờ đây anh đã ngủ yên trong lòng đất, nắm xương tàn của anh đã không yên một chút nào: hai lần có lệnh dời mả của địa phương theo cái ngẫu hứng muốn biến Thi Phổ thành một khu công nghiệp hiện đại chỉ có trong óc tưởng tượng của đám cán bộ chưa học hết lớp sáu.


Đất nước của Hạm, qua các sách vở đã bị người Pháp cai trị. Sau khi bắt Hàm Nghi, vây hãm cụ Phan Đình Phùng trong rừng Vụ Quang khiến cụ lo sầu thúi ruột mà chết. Nó oán ông Nguyễn Thân đã nỡ lấy tro hài cốt của cụ mà vãi trên sông, nó thỏa lòng hả hê khi đọc tới đoạn hai ông Tây bị bắn chết ở Ô Cầu Giấy. Nhưng bài học Sử kí dạy nó: Mẫu quốc của tôi là nước đại Pháp. Nhà trường tập cho nó tôn thờ Nã Phá Luân (Napoléon), nhất là với trình độ tiếng Tây lớp nhất và cái gène văn nghệ di truyền bởi ông cha, nó đặc biệt say mê thơ văn Pháp từ Ronsard tới Victor Hugo… trộn lẫn với những bài thơ Đường mà cha nó thường ngâm mỗi sáng sớm:


Hàn vũ liên giang dạ nhập Ngô


Bình minh tống khách Sở sơn cô


Cha thuộc cả lời dịch của Tản Đà:


Vào Ngô tầm tã đêm mưa


Tiễn người sang Sở, núi vừa tan sương…


 


13. AI NÓ CŨNG THƯƠNG, TỪ BẢN MARSEILLAISES TỚI CỤ PHAN VÀ PAUL ET VIRGINIE


 


Từ tuổi thơ ấu, Hạm đã nhận ra dù nước Pháp hay nước Tàu, cái hồn người cũng chỉ có một, chỉ có một mà thôi cho tình yêu, yêu con người, yêu đất nước, yêu cuộc đời. Cho nên khi nghe Tổ quốc của Lamartine đã phải đầu hàng, nó khóc. Nước Pháp cao cả quá, của bài Marseillaises, Aux armes! Citoyens! Formons nos bataillons! của tiếng gào con nai mẹ:


Hay:


La biche bramme au clair de lune…


Et pleure à fronfre ses yeux. Son petit faon délicieux


A disparu dans la nuit brune.


(Lecture cours Moyen)


Dịch:


Con nai cái, gào dưới ánh trăng


Và khóc tới sưng mắt


Con nai con rất đẹp của nó đã mất trong bóng đêm nâu.


Hồi nó bị cái bướu nhỏ bằng trái chanh mọc trên đầu, mỗi lần cãi nhau với bạn bè bao giờ đối phương thua trận của nó cũng chỉ vào cái cục thịt dư không mời mà hiện diện trên mép tai nó trêu chọc:


Miếng ăn là miếng tồi tàn


Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu.


Và nước Pháp đã xóa đi mối nhục cho nó: Anh nó đưa nó ra tỉnh gửi ở nhà ông thông Bích. Ông thông quen với ông đốctờ người Pháp coi bệnh viện Quảng Ngãi. Ông đốc đã xoa đầu nó, vuốt ve dỗ dành như con, cho cái kẹo, chích thuốc tê, mổ và dọn sạch cái bướu chỉ trong nháy mắt. Ngày nó ra viện, ông còn cho nó cái áo sơ mi trắng và cuốn sách Năm đóa hoa (Lescirnq fleurs)[9] nói về công cuộc khai hóa mở mang năm xứ Đông Dương của người Pháp.


Mùa hè năm đó, trước khi Thế chiến chấm dứt, thật đáng ghi nhớ. Các anh lại mở lớp dạy tư. Đám học trò lớn đã biết thi đấu quyền Anh và bóng tròn, bóng chuyền. Hạm cũng đã tới tuổi nghe hiểu được một phần những cuộc tranh luận của người lớn. Anh Sáu tỏ ra sùng bái Nguyễn Thái Học, người cầm đầu Quốc dân đảng và khởi nghĩa Yên Bái. Có lúc anh đột ngột nóng mặt, uất tức nguyền rủa cái mà anh lên án là sự cai trị tàn ác của người Pháp đối với An Nam. Anh sẵn tay lật cuốn Năm đóa hoa, chỉ vào hình mấy ông Tây trong đó rồi chà xé tan tành. Hạm không dám nói, nhưng rất luyến tiếc mấy bức ảnh bán thân của các vị toàn quyền Đông Dương mà sự tích nó đã đọc đi đọc lại nhiều lần, đâm ra thân thiện và quí mến, nào ông Doumer đã làm cầu Long Biên bắc qua sông Hồng, ông Paul Bert đã giúp bác sĩ Yersin tìm ra bệnh chó dại. Người Pháp được nó đồng hóa với văn minh Pháp, theo nó nghĩ bấy giờ không thể có cái khác. Năm 1953, dạy cấp hai trong kháng chiến, tại kỳ chỉnh huấn ở khu Năm, Hạm được xếp cùng tổ với một vị y sĩ già: bác sĩ Võ Tố. Sau khi nghiên cứu các tài liệu, với mái đầu bạc và đôi mục kỉnh trí thức, ông được chọn lên báo cáo điển hình. Ông chọn tố khổ viên Công sứ Quảng Ngãi. Ông kể rằng: Có lần tên này khẩn cấp kêu tôi qua nhà nó đang lúc nửa đêm để coi bệnh. Tới nơi, người bồi được lệnh cho tôi vào thẳng phòng riêng của hai vợ chồng thằng quan Tây. Tới cửa, tôi ngớ người: hai vợ chồng nó đều lõa lồ trần truồng như nhộng, chắc là vừa qua một trận dục tình lồng lộn. Nó thản nhiên bắt tôi cúi xuống cầm dương vật của nó coi thử có sao không… Rồi ông kết luận: Thực dân Pháp coi người Việt ta, dù là một bác sĩ, không bằng con gà con chó nhà nó. Nó chẳng cần biết xấu hổ gì khi ở truồng trước mặt ta vì coi ta như lũ mèo chó của nó đang chạy chơi trong phòng. Vậy thôi!


Câu chuyện chẳng biết có thiệt không, nhưng phần lớn số trí thức phải hiện diện trong lớp chỉnh huấn, có người đã đỗ tú tài bản xứ. Tất cả mắt long lên sòng sọc, giơ nắm tay đấm vào một kẻ thù tưởng tượng ở trước mắt, gầm lên: Đả đảo thực dân, phong kiến. Đả đảo, đả đảo, đả đảo! Hai chữ phản đế đã xuất hiện rất sớm, từ năm 1944, ở lớp người Tây học bậc trung. Họ chống đối một vị đế nào đấy. Nhưng đó là ai? Hạm đã mấy lần trông thấy Ngọc Hoàng Thượng đế trên sân khấu hát bộ mà mẹ nó rất say mê, thường phải đi bộ ba bốn cây số để xem và bà bình thường dẫn nó theo để lúc về khuya, qua cánh đồng trống mênh mông lúc nửa đêm cho đỡ sợ ma. Vị đế này rút trong các tuồng tích cổ Trung Hoa ngồi trên ngai vàng, bận áo hoàng bào lấp lánh ánh kim tuyến, mặt đỏ, râu tóc bạc phơ trông rất hiền từ, thường được vây quanh bởi một đám đông đảo những tiên ông tiên bà. Ông cũng có vợ con, biết nóng giận tới nỗi không giữ được bình tĩnh, đập nát cái chén đang uống nước khi nghe Hằng Nga con gái mình phải lòng gã Ngưu Lang. Đó là một ông già gần gũi với xã hội nó đang sống, như vậy mà anh Sáu lại chống ông. Tại sao phản đế? Hay là còn có ông đế nào khác nữa không? À, nhớ ra rồi, còn Hoàng đế Bảo Đại nữa.


Thật khác với ông đế trên sân khấu, Hoàng đế Bảo Đại không có hoàng bào… Cách đây mấy năm, hồi còn học lớp ba trường Thi Phổ, lũ Hạm đã được lệnh trước hàng tuần là phải tắm rửa cho bớt mùi tanh tưởi, phải áo quần tươm tất, được phát cho một lá cờ màu vàng, đứng suốt sáng bên đường cái quan của một làng quê, chờ một chiếc ôtô bóng loáng chạy vút qua, thả một đám bụi mù mịt. Lũ trẻ con trông thấy một ông vận âu phục béo ngộn, mang kính đen gọng bự. Chúng phất cờ, không ngớt gào thật to: Hoàng đế muôn năm.


Ông đế này coi bộ cũng hiền, không hiểu sao người anh khả kính của nó lại căm thù đến thế. Nó băn khoăn mãi cho tới một hôm nó đích tai nghe cha và anh nó nói chuyện trong một bữa cơm gần tàn. Cha buông đũa, ngồi ngay ngắn như thể là nói về việc này thì phải nghiêm nghị, sợ có thất thố dù chỉ trong cung cách khi đề cập tới đức Kim Thượng:


Sáng nay, cha có việc vào phủ. Quan nói: Đức Hoàng đế vừa ngự giá bằng đường bộ qua Quảng Ngãi.


Anh Sáu bĩu môi:


Ồ, tên vua bù nhìn.


Sấm sét nổi lên ngay, cha phát run bần bật như chính mình bị xúc phạm:


Diễn. Sao lộng ngôn vậy? Tao lia cái chén này cho mày bể đầu chết còn hơn nghe những lời bất trung đó. Sẽ không có con hiếu nếu chẳng có tôi trung. Cái biển sắc phong Tiết hạnh khả phong sơn son thếp vàng treo trên Từ đường của bà cố mày là do ai ban? Miếng cơm ngọn rau mày ăn này là của ai.


Ông dừng lại một chút lấy hơi, rồi tiếp:


Diễn. Có trời không?


Dạ, không.


Sao mày báng bổ vậy? Không có Trời thì không có ông bà tổ tiên của chúng ta, không có tao có mày. Không có Trời thì sao tao và mày đều là đàn ông mà không là đàn bà; thì lấy đâu có nhật nguyệt, âm dương ngũ hành, vạn vật và đời sống. Trời lệnh cho giọt nước mưa rơi xuống cho ánh nắng sáng soi, để có cơm gạo, thịt cá và rau cỏ. Cho nên Thánh hiền đời xưa đã dạy: thiên mệnh chi vị tính[10]. Trời là huyền cơ diệu lý của mọi vật. Trời nào có nói gì đâu mà bốn mùa đổi thay, gái trai gặp gỡ, vạn vật nảy sinh. Lý trời cai trị cả vũ trụ và thế gian này. Cho nên phải có thiên tử, tức con Trời, là Hoàng đế thay Trời trị dân…


Cha mê man giảng đạo, trong gian nhà nhỏ mà mắt ông như đắm nhìn vào một cõi vô biên, hồn ông đang được tiếp truyền bởi một thần thức thánh linh. Anh Sáu cướp lời:


Nhưng thưa cha, quan niệm đó ngày nay lạc hậu rồi. Các nước Tây Âu đã lật đổ Hoàng đế để lập chế độ Dân chủ.


Cha gầm lên:


Mày im đi. Dân chủ là cái gì? Tây Âu là man di mọi rợ làm sao biết tam cang ngũ thường, quân thần phụ tử phu phụ, nhân nghĩa lễ trí tín? Nhà ta đã mấy đời tuân theo đạo Trời, tôi trung với vua, con hiếu thuận với cha mẹ, anh em. Cho nên tao mới phải bận áo vải ta, ăn cơm mắm, chăm lo làm ruộng, tằn tiện từng hột gạo, cho con đi học để biết thuận theo lẽ trời, biết đạo lí ở đời, thì sao gọi là lạc hậu?


Nhưng thưa cha, nếu Hoàng đế như ông Bảo Đại, làm bù nhìn cho Tây, chỉ ăn chơi hoang đàng thì khác nào Kiệt Trụ, không thể trung thành với ổng được.


Vua hung bạo thì có Văn Vương, Vũ Vương. Cách mạng ư thiên mà ra tay trừng trị, mày có dám tự sánh với tiên hiền liệt thánh không?


Anh Sáu nín lặng, nhưng vẫn giữ quan điểm của mình. Là con nhà gia giáo, anh cúi đầu xin phép cha trở lại với lớp dạy hè. Trong thâm tâm, Hạm luôn đứng về phía cha. Nó nghĩ cái gì cũng có Trời. Trời giữ cho con người yên ổn làm ăn, sinh con đẻ cái, ngày thêm đông đúc.


Tối hôm đó, cha nó vẻ buồn, ông đốt một cây hương lên bàn thờ như để tạ lỗi với ông bà về một đứa con đã có những lời lẽ ngổ ngáo. Trong nhà, ông gần gũi với Hạm nhiều vì nó còn nhỏ và vì ông nghĩ nó có thiên tư. Kêu nó lại gần, ông tâm sự, như với một người bạn:


Lương Huệ Vương hỏi thầy Mạnh: Tiên sinh không ngại ngàn dặm tới thăm, có dạy điều chi lợi cho nước tôi không? Thầy đáp: Nhà vua hà tất nói chuyện lợi, chỉ nên nói sao cho vua ra vua, tôi ra tôi mà thôi. Kẻ làm chúa một nước dù được bầu bán hay cha truyền con nối, cũng đều là thọ mạng Trời, không ai nên ghen tị, từ ông Xích-đa-linh[11] tới đức Kim thượng[12] của ta hiện nay.


Mãi nửa thế kỷ sau, khi đã về già, Hạm mới hiểu hết những lời dạy của cha. Thượng đế không phải là một ông Trời được thế tục hóa mà như một nguyên lý đầu tiên của vũ trụ, đã ban tính mặn cho muối, tính ngọt cho đường. Khoa học dù phát triển tới đâu cũng không thể tìm được nguyên nhân của bản thể, mà chỉ có thể thừa nhận thực hữu và trên cơ sở thật hữu đó, trí tuệ con người tiếp tục khám phá mọi thứ, ngoại trừ số phận của chính mình.


Bảo thủ, nhưng cha rất thương con và treo một tấm gương hi sinh cho khắp hàng tỉnh. Người con tân học vẫn lui tới các cuộc họp phản đế của mình qua một tổ chức công khai: Hội Truyền bá Quốc ngữ. Nhờ thế, bằng cái sức học còn thấp kém và cái tuổi mười bốn của minh, Hạm tham gia vào công cuộc này một cách say mê.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Tức Đề lại, chức vụ lớn thứ hai, sau quan huyện.




[2] Tức mắm nêm, muối bằng cá cơm hay cá nục nhỏ.


 




[3] Cha nó có lần được cử giữ Sắc phong Thần hoàng của làng Thi Phổ, được coi là ông thủ Sắc: Ông Thủ.


 




[4] Quan chức Nam Triều như Thư ký Hành chánh.


 




[5] Tức Lênin, phiên âm Hán Việt.




[6] Rày: từ nay.




[7] Chị dâu cả gọi chồng bằng thầy. Thẩy: thầy ấy.


 




[8] Cực nam Trung bộ: dân quê từ Phú Yên trở vào Phan Thiết.


 




[9] Sách của Pháp viết về Đông dương thuộc Pháp trước 1945: Năm đóa hoa: Bắc, Trung, Nam bộ, Lào, Miên.




[10] Nghĩa: tính chất của sự, vật là do Trời mệnh cho.


 




[11] Staline, cầm đầu Liên Xô bấy giờ.




[12] Tức vua Bảo Đại.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
Biệt ly huy hoàng - Thanh Giang 30.07.2018
Tình yêu và lý tưởng - Thomas Mann 28.07.2018
xem thêm »