tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22307395
Tiểu thuyết
21.08.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

5.  ANH CẢ LẤY VỢ, NHÀ NGHỆ SĨ THỌ


Nhật tân, hựu nhật tân, nhật nhật tân (ngày mới, lại ngày mới, ngày ngày mới). Cha nó thường đọc như vậy. Nó chẳng hiểu gì mới nhưng mang máng rằng câu ấy nói đến cái gì mới mới đó. Mới bắt đầu từ nỗi khổ phải đi học, nhai chữ một cách khó khăn, chịu bao roi vọt cho tới ánh mắt mãn nguyện của anh Sáu vốn tự hào đã khai sáng cho một tâm hồn đen tối khi chấm bài cho nó. Còn cái cũ? Là nhiều bữa nhà hết gạo mà anh em bà con ở trọ học hè quá đông, mẹ nó phải nổi lửa ngoài vườn, quét lá tre và gai góc đun cả một nồi bung khoai lang rồi trút ra cái nia[1] con, hơi nóng còn bốc khói mù mịt. Vậy mà cả đám nhóc tì bu lại, vừa thổi vừa tọng vào mồm, một loáng đã hết sạch. Và bây giờ, một chú bê lông mướt vàng rực, ngây thơ tròn trĩnh đã được anh xã Thọ dạo khắp xóm Chùa quê vợ anh mới chọn mua được dắt về. Chú đang vô tư thong thả gặm cỏ non ngoài vườn, thỉnh thoảng lại nhớ vú mẹ úm ma những tiếng thiết tha.


Một con dao phay cũng được anh Xã, một tay đồ tể nghiệp dư của giòng họ, bỏ suốt buổi chiều mài liếc thật sắc đang nằm hiền lành trên dàn bếp chờ con lợn ỷ đen thui, béo nục mà mẹ nó và chị tám Hỳ đã nâng niu chăm chút từ hơn một năm nay. Con heo đang vẫy đuôi hí hởn thưởng thức món cháo rau lang nấu với cám gạo ruộng nhà mà mới đây còn được tăng cường bằng những mớ ruột cá mua rẻ từ chợ về.


Đêm trước ngày cưới, bà con tụ về nhóm họ rất đông, cô Ấm, cô Hương, hai bà chị chồng nổi tiếng khắc phạt đối với em dâu, trong dịp trọng đại này có vẻ dịu dàng hơn, nhưng ánh mắt bề trên vẫn sẵn sàng long lên trước mọi khiếm khuyết của mẹ nó.


Cộng với lũ học trò nghịch ngợm còn hơn ma quỷ, lại được miếng thịt chén rượu tiếp hơi, mọi người ăn nói tha hồ, rôm rả tới khuya.


Ngày hôm sau, trời còn tối mịt, tiếng heo kêu eng éc đã đánh thức Hạm dậy. Ngoài giếng một ngọn đuốc to bằng xác mía đang cháy hừng hực, nổ lép bép, lổn nhổn soi sáng cho việc chọc tiết và ngả thịt. Kết liễu mạng sống một hơi hai con gia súc, anh xã Thọ, cái người anh họ dân dã và hoang đàng hết mực đó, đang thủ con dao yêu mến của mình như thanh bảo kiếm của một võ tướng ngày xưa, huơ lên loang loáng, thoắt giơ cao, hạ xuống, thoắt đông tây tả hữu, bất thần đi những đường gươm kỳ ảo, chém những nhát nhanh nhẹn, dứt khoát, mạnh mẽ và chính xác.


Đầu, nọng và bộ lòng để tế gia tiên, rồi vai, đùi, mông, phi lê, chân giò, cái nào ra cái nấy, nếu ráp lại là nguyên xi con vật, không thiếu một mảnh da.


Trong cái thế giới sát sanh của mình, anh tung hoành ngang dọc, sắp đặt nhanh chóng, gọn ghẽ các phần thịt, y như một lương tể của các đấng minh quân thời xưa, một Trần Bình vốn làm nghề hàng thịt của Hán Cao Tổ.


Tội nghiệp cho mẹ anh xã Thọ, bà bác họ đáng thương của Hạm. Chồng bà mất sớm sau khi đã đốt sạch tất cả, từ mấy miếng ruộng hương hỏa để lấy huê lợi cúng quẩy ông bà, cho chí những đồ đồng gồm lư, đèn, chung, đỉnh, tất cả đều biến nhanh thành những cục thuốc phiện đen, to chỉ bằng đầu con ruồi, cháy vo vo tỏa mùi thơm ngát trên ngọn đèn dầu lạc xanh nhờ, lù mù yếu ớt.


Ông ra nằm ngoài nghĩa địa, ngủ giấc dài bất động để bù lại thời trai trẻ giang hồ náo nhiệt của mình và để lại hai đứa con trai. Anh Xã là trưởng và người con thứ hai là anh Nhì Quế, kẻ đỗ Rime đầu tiên trong xóm, đã đi làm hội kín, đã có công đang đêm mưa to lụt lớn chèo ghe qua khoảng tối mênh mông cho cha bốc thuốc cứu sống mẹ và Hạm bảy năm về trước.


Dù đã già, hàng ngày bà bác luôn phải kĩu kịt trên đôi vai còng đi vì tuổi tác, một đôi quang gánh nặng trĩu đủ thứ linh tinh từ nước mắm, dầu hôi, dầu phụng, cá khô, tiêu gừng tỏi ớt cho tới trầu tươi, cau khô, vôi bột... suốt hai buổi chợ sáng chiều.


Đồng Cát - Thi Phổ, khứ hồi những năm sáu cây số đường đất. Và bà chỉ có mỗi một cái quần dài bằng vải lĩnh nhuộm đen. Giữ kỹ tới đâu thì lâu lâu cũng phải giặt nó một lần. Vậy mà bận đó, bà cẩn thận phơi ngay trong buồng, và để chắc ăn, bà nằm truồng quấn chiếc chiếu rách, vừa bỏm bẻm ngoáy trầu ăn, vừa canh chừng trông coi trong bóng tối.


Trời Phật ơi, tội nghiệp bác tôi, vì quá lao nhọc, bà mệt ngủ thiếp đi lúc nào không biết nhằm khi ông con trai trưởng thua bạc ở đâu về. Thế là cái quần không cánh mà bay. Rồi ông trưởng nam cũng biệt vô âm tín đâu mãi mấy hôm liền. Bà mẹ quấn chiếu nằm một chỗ cũng chỉ biết dồn hơi mà chưởi suốt đêm hôm đó đến tận ngày hôm sau. Ông con nào có nghe, chỉ có người dâu lãnh đủ. Mẹ Hạm đã lục lọi đám quần áo cũ biếu bác một chiếc quần vải tám đen mới giặt qua vài nước. Từ đấy không ai thấy bà bác giặt giũ gì nữa. Anh Xã được mẹ cảnh giác cao độ như vậy. Trời chớ không phải mẹ anh đã sinh ra anh, để cho bà gánh chịu lấy số phận của mình, đen đủi thật nhưng bà vẫn thiết tha được sống, và sợ chết đến nổi hoảng hốt lên mỗi khi cảm qua loa những lúc trái gió trở trời. Còn bà con chòm xóm thì họ chê bai anh đấy, nhưng rồi lại dễ dàng giao hiếu lại ngay. Có tật thì có tài. Tật của kẻ cùng dân thôn dã, thì tài cũng thuộc hàng lê thứ, nhưng không phải vì thế mà Hạm không yêu mến và kính phục anh, như yêu mến cây cỏ và những con người tầm thường trong hàng ngàn người của cái thôn xóm nghèo khó, nơi chàng đã sinh ra và được nuôi lớn.


Anh Xã, cái con người vô danh đó lại sống rất hào phóng. Đánh bạc được tiền, anh mua cho mẹ thùng thiếc dầu Con Gà hay cả một muỗng[2] đường, để nói như ngôn ngữ bây giờ, tăng vốn hàng hóa cho đôi quang gánh của bà. Có khi anh xa lánh sòng xóc đĩa, hốt me[3] hàng tháng để chí thú làm ăn, chăm sóc đàn vịt lớn như thổi và sởn sơ, cày ruộng, gánh phân, đạp nước với cái sức lực điền bằng hai người ta. Và anh nhín cái số gạo lúa được trả công mà ủ hèm và tự thiết kế lò nấu rượu lậu ngay trong vườn. Đây mới chính là cuộc sống hào phóng nghệ sĩ của anh. Với vò rượu đầy, thơm ngát hương lúa móng chim[4] của ruộng đồng Thi Phổ, anh kêu bạn bè, chén anh chén chú kỳ cạn mới thôi, không một chút tính toán.


Tới cái bàn tay anh mà làm tiết canh heo thì tuyệt. Huyết, thịt, bã mía cộng với gừng giấm, hành ớt tía tô, các thứ hòa điệu vào nhau, như sau hàng bao kiếp tìm kiếm lẫn nhau, chúng đã tao phùng dưới mấy ngón tay của đấng Tạo hóa xã Thọ mà cùng thăng hoa thành một nhất thể hoàn mỹ : màu tiết đỏ bầm, màu thịt tái tươi rói, màu trắng ngà đậu phụng, màu xanh rau ngổ, màu tím tía tô, màu hồng của trái ớt chín. Tất cả như một bản đồng ca, một bức tranh cực đẹp trong lòng những chiếc đĩa, chén nội phủ bịt bạc có hình vẽ thủy mạc minh họa hai câu thơ Vị thủy đầu can nhật, Kỳ Sơn nhập mộng thần, những thứ mà máu mê đỏ đen của anh dù rất mãnh liệt đã không làm phát tán nổi. Tác phẩm ẩm thực của anh có vị ngọt của thịt tươi, vị mặn của tiết hãm vừa độ, vị chua của quả chanh hái ở đầu hè, mà không vướng bận một chút phàm tục, nhất là khi nó được đưa vào lưỡi, sau những tợp rượu còn ấm hổi vừa từ bình cất ri rỉ chảy ra.


Còn bé, bọn Hạm chỉ chầu rìa, nhưng vẫn được người lớn, với tất cả sự công minh, phân phối cho nửa khẩu phần. Ôi! Nó ngon và đáng nhớ làm sao, nhất là với những cái dạ dày gần như quanh năm chỉ biết mùi gạo lứt ghế khoai khô và mắm nêm chấm rau muống luộc.


Sau này lớn lên có dịp đi khắp nước và có khi cả xứ người, Hạm chưa thấy ai chế biến được cái món nầy ngon tới thế, cái món tiết canh thuần túy Quốc hồn Việt Nam.


Lẽ dĩ nhiên trong cái nghệ thuật nhai xương lũ súc vật mà Thượng đế sinh ra để phục vụ đời sống của đàn con cháu Adam và bà Eva, anh thích nhất vẫn là những chú cẩu. Một tay anh đã hóa kiếp - không thể đếm xuể - những con vằn, vện, vàng, mốc bất luận tuổi tác và tính khí của chúng. Có con chỉ chừng ba bốn tháng tuổi, hoặc có khi là một mụ chó già đã qua bảy tám lần sinh nở, cũng có khi là một con cún hiền lành nhưng thốt nhiên bị vắn số vì chủ nhân nó gặp anh Xã, hứng chí bốc đồng rủ làm một cuộc kèo rượu. Cũng có khi là một con mực hay cắn trộm hay một thằng đốm gặp lúc trời nắng lâu thường ngứa mồm tru lên. Lập tức nó bị qui ngay cho cái tội là mang mầm bệnh dại. Chẳng cần tổ chức Y tế thế giới nhắc nhở, cái xã hội ăn nhậu của anh xã Thọ vốn lưu tâm tới phòng bệnh hơn chữa bệnh. Không để mối nguy hiểm như thế kéo dài, dù chỉ một ngày, một buổi. Lập tức người ta tròng nó lại, đâm con dao vào cuống họng để lấy tiết rồi cho tắm nước sôi, cạo lông phơi làn da trắng tuyết như của Dương Quý Phi, xong thui vàng, xả ra mà nướng thơm phức.


Bằng cái nghệ thuật của anh xã Thọ, nếu oan hồn nó xuống âm phủ kêu ca với Diêm Vương về cách đối xử bất công và tàn bạo của loài người một cách tỉ mỉ có mùi thịt ướp, mùi hành, củ riềng bốc lên, sực nức thì chúa Địa ngục chắc cũng phải thèm rỏ dãi.


Đôi bàn tay đen sạm và thô kệch của anh đã hóa kiếp cho không biết cơ man nào là chú cẩu. Theo tín ngưỡng dân gian, ngày nào kia, khi về với tiên tổ, linh hồn anh phải đi qua một cây cầu bắc ngang một dòng sông đen ngòm, đầu cầu có một con chó cầm một lưỡi đinh ba nhọn hoắt canh giữ. Chắc là nó sẽ cắn sủa anh dữ lắm. Nhưng anh, anh không sợ, sống trên đời làm miếng dồi chó, ăn miếng dồi chó, được vui sướng trên thế gian một phút như thế trong hiện tại, anh bất chấp mọi đe dọa của một thứ tương lai viển vông nào. Rất tiếc anh không phải là đệ tử của Long Thọ Bồ Tát (Nagarjuna), nhà sư từng cho rằng: Hiện tại vốn là yếu chỉ của giải thoát.


Có lần Hạm theo anh tới nhà ông Bác Tiên. Con vện to tướng của ông địa chủ giàu có nhất vùng hùng hổ xông ra sủa vang rồi há mõm chìa những chiếc răng dài nhọn hoắt đe dọa.


Anh vung tay, như một võ lâm cao thủ trong truyện kiếm hiệp, nhẹ nhàng mà nhanh như chớp, nắm lấy cả cái mõm của nó bóp lại, quay con vật một vòng tròn cho nó giãy giụa lộn ruột lên, rồi quăng nó vào sân xa hàng chục mét. Cái khối thịt hàng phần ba tạ tây của nó rơi xuống, thấm đòn, chỉ còn biết ăng ẳng rất trẻ con than lên một tiếng rồi cụp đuôi chạy vào xó bếp.


Anh nói đùa:


Nếu ở nhà khác, nó sẽ là nạn nhân thứ 300 của tao - Hạm tỏ vẻ không hiểu. Anh bình thản giải thích:


Tao đã mần thịt gần 300 con chó rồi đó!


Người ta chỉ trích anh về tệ nạn rượu chè, bài bạc. Anh mặc kệ cho cái miệng thế gian bình phẩm. Nhưng rồi người ta lại tin anh ngay. Có sức khỏe, anh sẵn sàng bênh vực kẻ yếu. Có chén rượu, anh không uống một mình.


Lần nọ cả họ họp nhau làm lễ tế Xuân ở ngôi từ đường mà anh là trưởng nam thừa tự hương khói. Không hiểu sao khi anh xung phong nhận hai đồng bạc gánh dưa[5] mới tinh của chuyên biện[6] chi để mua bò về làm thịt thì không một ai tỏ vẻ nghi ngờ gì.


Hôm đó tất cả họ giòng, kể cả những vị có vai vế tới hàng tổng[7] đều áo dài, khăn đóng trang nghiêm sau khi mỏi miệng rao bàn việc trong họ rồi tới việc làng, hết đứng lại ngồi, nhấp nhỏm trông ra cổng, hết vấn thuốc rê hút tới uống từ ấm trà này đến ấm khác, vẫn không thấy con vật tam sinh và ngài tộc trưởng trở về.


Tổ tiên, có lẽ đã trở thành thần linh sau nhiều thế hệ được suy tôn và lễ bái cũng phải chờ đợi mỏi mòn trên bàn thờ, lần đó đành thưởng thức mấy dĩa xôi, mấy cỗ hoa quả đơn sơ và vài tuần nhang thắp suông. Một ông họ làm lớn trong làng nổi cơn thịnh nộ đòi đóng gông anh lại, đánh vài chục hèo và truất phế anh khỏi cái chức coi giữ Từ đường họ Nguyễn Văn vốn tự cho là nhiều nhân kiệt của cái đất Thi Phổ địa linh nầy. Lẽ dĩ nhiên, anh không may mắn có mặt để được nghe những lời lên án đó. Cóc cần, anh bặt luôn bóng chim tăm cá cả tháng trời. Báo hại, bà bác của Hạm, mẹ anh, phải sai người con dâu trưởng, vợ anh, mất cả mấy ngày đường, qua đò An Chỉ, băng đèo Eo Gió lên tận Nguồn mới dụ dắt được đấng phu quân trở về. Anh vẫn thản nhiên coi như chẳng có chuyện gì xảy ra. Chị kể lại là kiếm được tới sòng bạc, người ta nói anh thua hết hai đồng ngay buổi trưa mới đến, và từ đó ngồi chò hõ chầu rìa mấy hôm liền và uống rượu ké, say lăn ra một bên ngủ ngáy khò khò. Cái ông Lưu Linh, Lý Bạch thời xưa, nếu tái sinh chắc phải đi tìm anh mà kết làm đệ tử, để có người chuốc chén cho có bạn và nhất là để có một tay sắm sửa thức nhắm nhanh nhẩu và tuyệt hảo như thế.


Sau Cách mạng tháng Tám, nhờ Việt minh nghiêm trị đổ bát[8], anh trở thành một nông dân thật siêng năng và khỏe, gánh phân tát nước bằng mấy người thường. Nhưng rảnh rang, anh vẫn lén lút nấu rượu, để bán. Và kiếm lời tới đâu, anh uống và chiêu đãi bạn bè tới đó.


Anh đáng là một nghệ sĩ, một nghệ sĩ viết chính tả tiếng Việt chưa thông, nhưng chính cuộc đời anh là một tác phẩm. Ẩm thực có cái nghiệp với anh, nên một lố con anh, toàn là trai, anh đều đặt cho một cái tên mật thiết gắn liền với sự ăn nhậu: nào Thọ, Tộ, Tiềm, Chén, Ly, Đá... Trời Phật ngó nghĩ, trừ Tộ bị chết sau Hiệp định Paris mấy ngày lúc đang làm Dân vệ, còn thì đứa nào lớn lên cũng làm ăn khá giả.


Ngày đó, trong đám cưới của anh Cả, anh là đao phủ chính trong việc thi hành bản án cho hai tử tội đến chết vẫn hồn nhiên: chú heo mọi và gã bê con. Anh được Hạm bám sát để xin cho được cái bong bóng lợn. Cùng với Thọ, nó thức thao láo, chờ khi anh Xã vứt một cục nhầy, trắng đục bằng ngón tay ra:


Nầy, cho tụi bay thỏa lòng nhé.


Hai đứa chụp lấy, và chạy lên ảng nước nhà Thọ. Hạm múc nước xối cho Thọ, một cách thành thạo, dùng hai bàn chân chà xát cái bong bóng cho kỳ mỏi cẳng mới thôi.


Rồi chúng nó tiếp sức nhau thổi cho cái bong bóng phồng to bằng quả bưởi. Bấy giờ trời đã sáng, chúng mang đi khoe khắp xóm, phút chốc đã tạo được một cái đuôi rồng rắn gồm bảy tám đứa theo sau reo hò. Hạm giơ cao cái bong bóng, vênh váo như một ông tướng. Rồi từ mô đất cao, nó tung bóng ra cho lũ trẻ như một nàng công chúa ngày xưa gieo tú cầu[9]. Cả bọn tranh nhau chụp và bắt đầu cuộc tung hứng vô cùng lộn xộn, huyên náo.


Cuối cùng, không nhịn được nữa, chúng dùng cả chân, và tự phát biến thành một đám đá banh loạn xạ, không cần sân cỏ hay cầu môn gì ráo, bụi mù trời. Dĩ nhiên, chỉ trong chốc lát, cái bong bóng vốn đã mỏng manh, chịu đời sao thấu với lũ trẻ nhà quê tuy ốm đói, chân tay khẳng khiu nhưng cứng như sắt nầy.


Đấy, cái bong bóng lợn mà Hạm đã mong ước trông chờ hàng tuần lễ trước dịp đám cưới anh Cả cũng không tồn tại hơn khoảnh khắc một buổi mai, như lời của Ronsard: l' espace du matin đã viết về một mỹ nhân. Về sau lớn lên, Hạm nhận định: bất cứ vật thể nào gắn với con người, được định tính đời, thì sẽ lụy theo sự sống mà giới hạn thời gian tồn tại, nhiều khi quá ngắn ngủi. Ối, thương ôi!


Cuộc chơi bong bóng lợn đã tan nhanh như bọt bong bóng xà phòng. Lũ trẻ kéo nhau về tụ tập ở cổng ngõ ngôi nhà đang có đám cưới. Chó ỷ gần nhà, gà ỷ gần vườn, Hạm tự thấy hãnh diện và quyền thế biết bao. Nhưng nực cười thay, anh Cả nó, nhân vật chính là người lẽ ra hạnh phúc nhất trong dịp trọng đại nầy thì lại lầm lì, ít nói và trên hết khuôn mặt có thoáng ưu sầu.


Trước đó mấy hôm, trong lúc nhắm mắt vờ ngủ trưa cho đúng kỷ luật của ông anh Sáu tây học, nó lén nghe được một đoạn đối đáp giữa anh và nhà nho bảo thủ, cha nó:


Con thấy ý ảnh không ưng, cha áp bức quá. E...


Không được vô phép. Phụ sử tử vong, tử bất vong, bất hiếu[10] nữa là chuyện cưới vợ. Cha mẹ đặt đâu, con ngồi đấy. Huống chi, chú xã Quyền đã cất công mai mối, ông hương Côn với tao mà sui gia với nhau thì môn đăng hộ đối rồi. Ván đã đóng thuyền. Bất tại soại hạ[11]. Ông chấm dứt cuộc trao đổi bằng bốn từ kết thúc một hồi của truyện Tam Quốc Chí mà ông thuộc làu.


Anh Sáu như thấy máu dồn lên cổ, toan cãi lại, nhưng anh cố nén cơn tức, quay về với đám học trò. Mấy hôm đó, ngọn roi anh xem chừng khắc phạt hơn. Mà rồi anh cũng ngoan ngoãn tham gia vào việc quét dọn nhà cửa, chuẩn bị nghinh hôn.


Sau này Hạm mới biết, thật tội nghiệp cho anh Cả: Cha nó và một người bà con, chú xã Quyền đã định người bạn đời cho anh, khỏi cần báo trước và được ý kiến gì. Qua đám vấn danh[12] nạp thái[13] và vài lần về làm rể, anh chưa hề được thấy cô dâu mặt tròn mặt méo thế nào cả. Vài người bạn hiếu sự của anh cất công ra tận Bầu Súng, giả làm người đi mua heo, tìm đến nhà ông hương Côn, vô bếp xin lửa hút thuốc đã trở về rỉ tai nhau là chị ấy mắt hơi ti hí, da sậm đen, mặt hơi rỗ. Người anh cả đẹp trai của Hạm bắt bóng nghe được, lại càng câm nín hơn. Và mọi việc tiếp theo cứ tuân hành tam cang ngũ thường mà tự tác xảy ra.


Đàn ông ô lục soạn đen, giày Gia Định bóng, khăn đóng áo dài. Đàn bà dù xanh dù đỏ, kiềng vàng, hoa tai ngọc lấp lánh, áo gấm đủ màu. Người khiêng heo, gánh xiểng cũng áo nẹp đỏ đổ ra cổng, theo con đường mòn giữa lối ruộng xanh mơn mởn mà lên đường cái quan. Người đi chợ, kẻ làm cỏ lúa cũng dừng lại cùng lũ cò diệc ngơ ngác nhìn theo. Da trời đầu thu màu thiên thanh trong vắt.


Mẹ Hạm mới ngoài ba mươi mà đã có dâu, nét mặt rạng rỡ tự hào. Hoa quả, bánh trái đầy nhà, mùi chiên xào bay nực tận con đường mòn trong xóm, giữa hai hàng tre cù. Trước sân, người ta che tạm một trại lá thật to, sáu bộ phản trải chiếu hoa được kê vội, đường bệ và khang trang đón khách và bà con họ hàng hàng huyện. Cháu đích tôn của cụ bá Năm đại đăng khoa thì nhất định là cả làng phải no say. Giữa tiếng chén bát khua inh ỏi, tiếng cười nói huyên náo, tiếng trẻ con nô đùa, bỗng nghe có tiếng nhạc ngựa từ xa vẳng lại. Mọi người im lặng, có kẻ chạy ra cổng, nhìn xuống con đường từ Phủ[14] về thấy bóng một con ngựa hồng đang tung bụi đến gần. Con tuấn mã dừng ngay trước cổng. Một vị quan triều hàm tòng Bát phẩm cao lớn, quắc thước, hàm én mày ngài, mắt xếch, râu quai nón rậm như Trương Phi, bận áo thụng xanh chữ lộc, ngực đeo bài ngà, đầu đội khăn chít, trên có Gò Găng[15] ngù bạc. Ông gọn gàng nhảy xuống trao cương roi cho đám người trai trẻ đang hầu sẵn.


Bằng những bước chân đĩnh đạc và chắc nịch với đôi ủng quấn xà cạp đen, ông tiến vào nhà thờ. Mọi người đứng dậy cung kính vái chào. Đợi giây phút cha Hạm ra tiếp, ông chắp tay đáp lễ, rồi đứng nghiêm, mắt nhìn thẳng vào hai vị thần chủ của ông bà nội Hạm, giọng ông từ từ cất lên, oang oang như lệnh vỡ, dõng dạc như sấm:


Ông cậu ruột khả kính của tôi đã qua đời. Rất tiếc người không còn sống để chứng kiến ngày vui hôm nay: đích tôn của người thành gia thất.


Ông vái lạy ba lần trước hương án rồi quay về phía cha Hạm:


Tôi mừng cho vợ chồng chú thím đặng dâu hiền và mong sớm có cháu nội trai nối dõi tông đường.


Ông đặt một đồng bạc con công[16] vào chiếc khay cẩn xà cừ, nạm bạc. Cha Hạm khúm núm nhận lấy bằng tay rồi mời ông ngồi lên tràng kỷ dành riêng cho những vị vai vế lớn nhất. Đó là Chánh tổng Trần, người kỵ sĩ nổi tiếng nhất vùng, người con ruột duy nhất của bà chị duy nhất của ông bá Năm. Chuyện ông Chánh tổng dự đám cháu trai cưới vợ bằng cả một đồng bạc con công Đông Dương được nhanh chóng truyền đi trong đám đàn bà con gái ngồi lê đôi mách ở thôn quê trong những giờ nhàn cư chờ lúa chín đầu thu. Số tiền đôi khi được phóng đại lên nhiều lần và người nào cũng nói là đích mắt trông thấy.


Sau đám cưới anh Cả, cuối tháng Tám dương lịch, rải rác lúa ngoài đồng đã được gặt về, chất đầy từng mẻ trước sân. Suốt đêm, người ta canh thức thay nhau đánh trâu giẫm lên cho hạt thóc tưa rời ra khỏi bông lúa, tiếng roi đánh vào mông con vật có khi biếng nhác vì mệt mỏi, tiếng hô tá ví của người nông dân, tiếng thúc giục thâu đêm suốt sáng. Thỉnh thoảng con vật dừng lại gặm lấy nắm rạ tươi hay làm công việc bài tiết, bọn Hạm lại được dịp lập công vội đưa một miếng vỉ tre hình tam giác có cán vào ngay mông chúng để hứng lấy, nhằm không cho phân rơi vào mẻ lúa.


Đấy, đám học trò hè và lũ trẻ tham gia chút chút vào công việc sản xuất như thế, hoặc dùng chiếc ngà gỗ trở rơm hay năng nổ nhanh tay cào thành ụ những hạt thóc đầu mùa mỗi khi bầu trời tháng Tám miền Trung bắt đầu nhóm mây vẩy cá rồi kéo đen nghịt lại, đe dọa một cơn mưa lớn.


Bù lại, lũ trẻ được thức khuya hơn để kháo chuyện. Mẹ Hạm đối đãi rất tốt với người làm và lũ con cháu, nên thỉnh thoảng bà cho lấy những thúng thóc non đổ dần vào trã, bắc lên bếp rang cho chín rồi đưa vào cối, các lực điền đì đùng giã bằng chày thành những hạt cốm dẹp, nóng hổi, thơm phức. Hương vị của đồng quê, của thời ấu thơ, cùng với bầu trời trong xanh lác đác những vì sao, đọng mãi trong tâm thức của Hạm để nó lớn lên cùng với thời gian, mang đi nhiều nơi trên đất nước trong cuộc trưởng thành và mưu sinh, càng lúc càng thêm nỗi nhớ, như một mối dây vô hình ràng buộc nó với làng mạc, non sông, quốc tổ.


Có khi mẹ cho mang lúa tươi thứ phẩm, lên xóm Bún đổi lấy những mẻ bún gạo trắng tinh, no tròn đem về chan với mắm cái bằng cá cơm tươi, đỏ ngậy, ngọt lịm mùi cá, thơm phức mùi gừng non, tỏi ớt. Lũ trẻ lùa vài miếng đã hết một chén to, nhưng không bao giờ thấy đã cơn háu ăn. Tuổi trẻ bao giờ cũng đẹp, đẹp từ hạt thóc tươi, từ con bún, từ muỗng mắm nêm đẹp đi, tuổi trẻ của Adam và Eva khi chưa cắn vào trái cấm, ngây thơ và hồn nhiên. Nên tất cả xung quanh, mọi vật đã họp lại, làm nên vườn địa đàng.


Lúa đã được phơi khô, rê sạch đổ vào vựa. Vụ mùa năm đó, vựa lúa nhà Hạm lên tới nóc, cha ước tính dễ có gần năm thiên[17]. Gió nồm thổi ngọt. Biển Cà Đó, Minh Tân cũng được mùa. Vợ các ngư phủ kĩu kịt gánh chạy lúp xúp lên chợ Thi Phổ bao nhiêu là cá ngừ, cá chim, cá phèn, cá thu, nhất là cá cơm, cá nục mà nông dân đổi lúa để lấy về muối mắm. Những keo, chĩnh mắm còn nguyên đỏ tươi, thơm phức được giang ra phơi dưới nắng tháng Tám nám trái bưởi, càng ngày càng mặn mà dịu dàng.


Lớp học hè, đám cưới anh Cả, năm Đinh Sửu (1937) được mùa lúa, mùa biển. Không biết trên rừng có được mùa không: chè cô Sáu có nhiều đọt không, chim có về tổ đông đủ trên ngàn cây không, nhất là những đàn cò trắng, thực khách không mời trên ruộng đồng Thi Phổ đầy cua, cáy, nghêu, sò. Thực là một năm đầy may mắn. Nhưng niềm vui nào rồi cũng qua nhanh. Anh Sáu ra cho đám anh Hội, anh Tấn một bài học thuộc lòng của Anatole France: Je vais vous dire ce que je vois, quand je traversais le Luxembourg les premiers jours d' Octobre. Alors, il itait un peu triste, mais plus beau que jamais. C'est un petit bonhomme qui, la main dans sa poche, et sa gibecière au dos, s'en va au collège en sautillant comme un moineau...[18]


Sau này có bài hát: Bây giờ tháng mấy rồi hở em? Êm êm ngàn mây trôi... êm đềm. Bao giờ Hạm cũng muốn nói đó là những ngày vào thu. Cây phượng đỏ không còn chiếc hoa nào trên cành. Các nàng ve thôi không còn hát nữa. Đỉnh núi Dàng bắt đầu quấn chiếc khăn mây trắng. Gió heo may bắt đầu thổi. Đất trời ngẩn ngơ.


Một buổi tối mẹ đãi lũ học trò một nồi chè khuya cùng với khoai lang luộc, đậu phộng nấu, tất cả đều cây nhà lá vườn. Ăn uống loạn xạ, nói cười tự do, anh Sáu làm thơ viết lên bảng:


Hết, hết, hết


Cái gì cũng hết


Hết học thuộc lòng


Hết arimêtít[19]


Hết đá banh lông


Hết đi tắm sông


Hết cùng bè bạn


Họp đông vui vầy...


Ôi. Hết roi vọt, hết nhéo tai, ký lên đầu, vậy mà sao thầy trò đều buồn. Anh Sáu bắt giọng cho cả lũ hát bài chia tay của Hướng đạo sinh: Au Revoir Scout: Vì đâu anh em chúng ta, giờ đây bắt tay, bùi ngùi xa cách....


Sáng hôm sau, lần lượt từng tên: Chi, Tấn, Hội, Được... chào cha mẹ Hạm, mà họ kêu bằng cậu mợ, chú thím để ra về, hẹn sẽ trở lại vào mùa hè năm sau. Năm sau chắc chắn là sẽ đến. Nhưng cuộc đời đầy đổi thay, biết là họ sẽ cùng gặp lại không? Có kẻ thút thít khóc.


Rồi anh Sáu, anh Bảy và anh Mười cũng tựu trường, kẻ ra Huế, người vào lại Qui Nhơn, kẻ gần nhất: đi Tỉnh (thị xã Quảng Ngãi). Từ đó nhà vắng hiu. Có thêm bà chị dâu, thì anh Cả lại càng ít nói. Sau cái đông vui, cảm giác quạnh quẽ càng thấm thía, nhất là tiếp theo đó là những cơn mưa dầm triền miên, bất phân nhật dạ, nước mắt của thần núi Trường Sơn nào xa con gái vua Thủy Tề biển đông nào mà tầm tã, mịt mờ bờ tre bụi chuối? Khi thần thánh khóc, con người vui làm sao được.


 


6. VŨNG NƯỚC XOÁY TRƯỜNG LÀNG THI PHỔ


 


Mẹ Hạm lấy bột hoàng tinh khuấy một mẻ hồ rồi mang đống vở cũ của các anh nó, gỡ ra từng tờ, trát hồ vào, bồi thành những tấm bìa vở dày, phơi nắng khô vênh cứng, nham nhở đủ kiểu chữ. Mẹ đi chợ mua những manh giấy học trò trắng, rọc ra, dùng lũ kim chỉ vá may thường nhựt của mình đóng thành những cuốn tập mới.


Một sáng tạnh mưa, bà dắt Hạm vào trường làng Thi Phổ Nhứt, cách nhà ba quãng đồng, qua ruộng Bầu Xuân trước nhà, qua chiếc cầu Đập nhỏ bé, qua xóm Phước Hội ven quốc lộ cây lá xanh tươi. Hiệu trưởng trường sơ đẳng, chỉ có ba lớp: lớp đồng ấu (Cours Enfantin), lớp dự bị (Cours Préparatoire) và lớp sơ đẳng (Cours Elémentaire), là ông giáo đã từng dạy các anh nó: Thầy giáo Trí mà khi đã ngoài thất tuần Hạm vẫn còn hình dung được rõ mồn một cái con người hiền lương, sống ẩn khuất vào trong cỏ nội hoa hèn, như một chiếc đình làng nào đó, không tên không tuổi. Vậy mà thầy sống mãi trong lòng đám học trò.


Thầy luôn luôn bận bộ quần áo dài bằng vải chúc bâu trắng, đi đôi guốc mộc đai da trâu, đội mũ cối đánh phấn mốc, tất cả càng làm cho cái nước da vốn đã xanh của thầy càng trắng nhợt xanh xao thêm. Người ta nói thầy bị lao phổi đã lâu. Dạo đó, lao phổi còn là thứ bịnh nan y phổ biến.


Dạy lớp năm (Đồng ấu, lớp 1 bây giờ), thầy luôn luôn dắt đứa con một của thầy theo: thằng Bé, cùng tuổi với Hạm, tất nhiên là rất được thầy cưng chiều.


Thầy cũng có một ngọn roi mây nhưng ít khi thầy dùng đến. Ngược lại, ngọt ngào hơn, thầy lúc nào cũng đầy ắp một túi kẹo, những tán kẹo đường vàng kệch của chính quê Thi Phổ, to bằng ngón tay cái, có phủ một lớp bột khoai mì trắng cho khô ráo. Tiếng đồn thầy đã dùng trong một phần cái lương hai đồng hàng tháng của mình mà mua kẹo nhằm dỗ dành, khiến trẻ con chẳng những không sợ hãi thầy mà còn vui thích đến trường thay vì chỉ quấn lấy mẹ.


Không lạ lùng gì cái gia đình nhà Hạm đã từng có bốn người con thọ giáo với mình, nên không một chút lễ nghi phức tạp, thầy ghi tên nó vào sổ: Nguyễn Văn Hàm. Các bạn sẽ ngạc nhiên, tại sao bỗng dưng cái dấu nặng não nề kia trong cái tên của nó lại biến thành dấu huyền ư? Việc như thế nầy:


Nguyên là cái tên viết theo chữ Hán của ông nội và cha nó đều có bộ Hành[20], phải có sự thay đổi như trên mới đáp ứng được yêu cầu chiết tự theo đúng gia phả! Còn ngày sinh? Mẹ nó nhớ mang máng là nó ra đời ngày bốn tháng Chạp năm Ngọ. Lấy râu ông tây Dương lịch (1930) mẹ nó cắm cằm cho tháng ngày sinh Âm lịch, bốn tháng Chạp, mà mẹ chỉ nhớ mang máng, nên trong giấy tờ khai sinh của nó từ đây trở thành 04-12-1931. Thật ra sai bét. Vậy mà căn cứ vào cái ngày dỏm đó, vợ, con, cháu của nó, mỗi năm một lần, lại tổ chức trân trọng một lễ sinh nhật, khiến nó luôn mắc cỡ cho những cuộc vinh danh bất đắc dĩ.


Hãy trở lại ngày ấy. Hạm đứng ở góc lớp, mãi nhìn câu Tiên học lễ, hậu học văn bằng chữ in viết hoa to tướng trên vách và bốn tấm bảng các tông lớn, một bảng là tấm bản đồ Đông Pháp, còn lại là những hình vẽ các loại cây cỏ, chim, cá mà nó cố moi trong óc xem có giống gì quen thuộc không. Trên cao, cao hơn tấm bảng đen mà nét phấn chiều hôm trước còn nguệch ngoạc lưu lại, Hàm thấy có hai câu cách ngôn: Có chí thì nên, và : Không thầy đố mày làm nên.


Bàn ghế ngay thẳng, thầy giáo nghiêm nghị nhưng ánh mắt và lời nói dịu dàng làm nó an tâm. Khi mẹ cúi đầu chào để cầm nón lá ra về, nó thấy nao nao trong lòng, đưa mắt rõi theo mãi đến khi người đi khuất sau rặng cây, nó rướm một chút nước mắt. Thầy tiến đến mỉm cười, chìa cho nó một cái kẹo và một hòn bi xi măng nhỏ, đen bóng. Nó bình tĩnh lại ngay, nhất là khi nhác thấy vài đứa bạn cùng câu cá bắn chim đã đến trước đang nô đùa ngoài sân, dưới chân chiếc trụ cờ bằng tre, trên ngọn đang phất phới bay một ngọn quốc kỳ Tam tài xanh trắng đỏ mới tinh khôi. Vài tháng sau, mọi thứ đều quen thuộc.


Đường đi học chỉ hơn cây số nhưng bao giờ nó cũng lang thang trễ nải, khi kẹp nón lá ngang nách cùng lũ bạn hộc tốc chạy tới trường. Khi dừng lại thăm thú những hang lỗ nhỏ bé âm thầm bên bờ con mương ven lộ để đánh dấu sẵn, chờ chiều về, nó phải tìm cách tóm cho kỳ được một chú cua đồng hay lươn, ếch gì đấy đã khinh suất, thiếu cảnh giác để lộ nơi cư trú của mình lọt vào ánh mắt cú vọ nhà nghề của lũ trẻ luôn ham muốn việc sát sanh. Hồi đó Quốc lộ số 1 còn rất hẹp, chỉ được rải đá nham nhở, trên phủ một lớp sỏi đỏ, như một dải lụa hồng nhạt uốn lượn giữa cánh đồng lúa xanh. Họa hoằn lắm mới có một chiếc ôtô nổ máy ầm ầm chạy qua tung bụi mù mịt. Lũ trẻ con từ hai bên đường hay túa ra đuổi theo vừa hò hét, vừa hít lấy hít để cái mùi xăng, sản phẩm của nền văn minh mà hiếm hoi lắm chúng mới được ngửi và cho là thơm phức. Cả tỉnh bấy giờ mới chỉ có quan công sứ Mollet là có ôtô con, kỳ dư quan quyền và những phú hộ trong huyện đều chỉ đi xe kéo. Riêng tại làng Thi Phổ, ngoài ông cửu Hoàng giàu có nhất vùng, chưa ai có xe đạp. Ở nhà Hạm, vào mùa đông mưa lạnh, người đầy tớ gái, thường là con cháu trong nhà, dậy sớm nấu cơm cho trai bạn, thợ cấy thợ cày ăn. Mẹ thường úm cho Hạm một cục cơm nóng, to bằng hai nắm tay, ém vào cái mo cau, ép một con mắm nục muối thật mặn, rán lên cho thật khô giòn và cho một ít hạt tiêu vào đấy. Mấy cuốn vở và mo cơm nóng, Hạm luồn sau lớp áo ngực cho ấm, rồi quần đùi áo bà ba cụt tay đã cũ, nón và áo tơi lá lè kè cho đỡ ướt, nó thõng thẹo bình mực ngang dây lưng, lúp xúp chạy tới trường qua những vũng lội nhỏ tóe nước.


Nó lớn lên bằng những buổi sáng buổi chiều lơ đãng kế tiếp nhau đi qua, xuân thu hải hà, những giờ ê a học bài trong lớp, đùa nghịch nhau, ngọn roi cũng lớn dần thành cây thước kẻ. Trưa chúng giở cơm ra ăn ngon lành, liếm từng chút mắm tiêu dính trên ngón tay, lại đấu láo ầm ĩ rồi leo lên bàn học sinh nằm ngủ tới hai giờ.


Xong buổi học chiều, sau hồi trống bãi trường, chúng xếp hàng trước lớp, chờ cái phất tay của thầy, lại nai nịt đủ bộ như buổi sáng, cắm cổ xuống đất cho mưa đỡ tạt, ù chạy một mạch về nhà, chân tay lạnh cóng. Hạm ham chơi lêu lổng cho tới già, nhưng nó sáng dạ thuộc lòng những bài trong Quốc văn và Luân lý giáo khoa thư, thường được thầy giáo khen. Hai kỳ hè liên tiếp được các anh kèm riết, nó học lớp Ba vào hạng giỏi.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info







[1] Dụng cụ bằng nan tre, tròn, như cái nong, nhưng nhỏ hơn.




[2] Một đơn vị đo lường đường mía, giống cái phễu, miệng nhỏ và có chiều cao hơn, đít có lỗ để đổ đường thô vào, phủ bùn lên mặt, theo cách làm cho đường trắng hơn theo truyền thống Quảng Ngãi thời xưa. Một muỗng đường có trọng lượng chừng 20 kg.




[3] Hai loại cờ bạc bình dân hồi xưa.




[4] Móng chim là tên một loại lúa ở Quảng Ngãi.




[5] Bạc Đông Dương - trước 1945, có hình người gánh dưa.




[6] Vị chuyên việc thu tiền giòng họ và sắm sửa làm cỗ bàn cho các bữa giỗ họ ở miền Trung hồi xưa.




[7] Thời xưa, đơn vị hành chánh địa phương gồm có: tỉnh, phủ hay huyện, tổng và cuối cùng là xã, thôn.




[8] Tức tệ nạn cờ bạc.


 




[9] Tú: thêu, cầu: quả bóng. Xưa con vua lựa chồng bằng cách đứng trên lầu, gieo một quả cầu bằng gấm thêu, ai chụp được thì được chọn làm phò mã.


 




[10] Đạo hiếu hồi xưa: Cha bảo con chết, con không chết là bất hiếu.




[11] Nghĩa là: chuyện đã rồi, đừng nói tới nữa.




[12] Xưa là lễ dạm, cho biết tên tuổi.




[13] Tức lễ hỏi, tuyên hôn, nhận làm con rể.




[14] Đơn vị hành chánh, lớn hơn huyện hồi xưa.




[15] Gò Găng, tên một làng ở Bình Định chuyên làm loại nón to, sang, dùng cho người giàu có.




[16] Đồng bạc giấy của Đông Dương thuộc Pháp trước 1945, mệnh giá 5 đồng, có hình vẽ con công.


 




[17] Tức 500 ang, mỗi ang là 20 lon sữa bò.




[18] Tôi muốn nói với bạn, điều mà tôi thấy khi đi qua vườn Luxembourg trong những ngày đầu tháng Mười. Bấy giờ trời hơi buồn, nhưng đẹp hơn bao giờ hết. Ấy là một cậu bé con, bàn tay đút túi và cái cặp ngang lưng, vừa đi tới trường, vừa nhảy tưng tưng như một con chim sẻ…


 




[19] Arithmétique: Số học ở bậc tiểu học thời Pháp.


 




[20] Cha nó: Đào tức Hãng, có bộ Hành. Anh Cả Thuật, anh Sáu Diễn, anh Bảy Xung, anh Mười Nha, nó: Hàm và em chót nó: Hộng đều có bộ Hành.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.04.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
xem thêm »