tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22286154
Tiểu thuyết
20.08.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

3. BÀI TOÁN CỘNG LỚP VỠ LÒNG (TIA CHỚP TRÍ TUỆ)


       Le premier september 1937!


Mấy chữ đó được viết một cách nắn nót trên tấm vách lụa bằng gỗ ngăn gian giường thờ và chái tây, tồn tại mãi tới những năm 1952! Không hiểu sao những nét phấn mong manh đó lại đương cự nổi với cái thời gian ghê gớm đá tan, rừng biển động, lâu bằng cả quãng đời trầm kha suốt mười lăm năm mà nàng Kiều, nhân vật đáng thương của chúng ta phải ngao ngán chịu đựng cảnh bụi hồng để qua phía bên kia cái con sông Tiền Đường được sách vở Tàu mô tả là rất nhỏ bé.


Dạo ấy Hạm mới lên sáu. Anh Sáu Diễn nó học trường Tây mãi xứ Huế xa xôi về nghỉ hè. Anh đã viết thư báo tin cho cha mẹ và cả nhà đang mong chờ. Ngược lại con gió nồm đang thổi ngọt, băng qua bao đám ruộng trồng phụ một mùa bắp, tiếng hú của chuyến xe lửa tàu chợ vừa đỗ ở ga Lâm Điền vẳng lại. Rồi có tiếng rầm rập của bánh sắt qua cầu sông Thoa cách đó chừng hơn cây số. Lũ trẻ con như Hạm còn quá nhỏ để có thể theo người lớn tới đó mà coi cái xe lửa hình dung thế nào, nên Hạm không sao tưởng ra nổi hình dáng một con sâu bằng sắt đen sẫm, dài ngoằng, bò chậm chạp ra khỏi hầm núi Vam rồi lòi ra khạc khạc, phun khói đen giữa bao nhiêu bờ lau lách phất phơ.


Anh Sáu bận áo dài bằng vải lương đen, quần bà ba vải quyến trắng đã nhục nhục, mang đôi guốc mộc lóc cóc, đội nón cối đánh phấn mốc. Mười sáu tuổi, mảnh khảnh, chỉ thiếu chiếc khăn đóng và mái tóc búi tó củ hành thì anh giống y như một thư sinh thời xưa vẽ trong sách giáo khoa thư. Mẹ nó bỏ mớ rau lang đang bằm cho heo, đứng dậy. Lũ trẻ túa ra cổng dán những bàn tay nhỏ xíu, dơ bẩn vào chiếc va ly mây anh đang xách. Cả xóm chạy đến hỏi han. Chị xã Thọ, vợ người anh họ tộc trưởng ở vườn bên cũng dừng việc pha chế mắm nước bán buổi chợ chiều. Và ông Nở, trai bạn dọn vườn, lại được dịp nghỉ tay cuốc. Mẹ hỏi:


Lên tàu hồi nào?


Dạ, chiều hôm qua.


Buồng chái tây đã được dọn quét sạch, còn trống trơn với một tấm phản gỗ, cửa xúc xích vẫn đóng kín, nhưng cửa bàn khoa một bên đã mở toang nhìn ra một vạt rau muống nhỏ đang xanh mịt và một hàng đu đủ chiu chít trái sát mé giếng.


Cha nó đang nằm xem sách chữ Nho ở hàng ngang. Ông xếp đôi mục kỉnh, lắng nghe tiếng lao xao bên ngoài. Hạm chen cho kỳ được vào chỗ gần anh Sáu, như rằng là nó có cái quyền đó hơn ai hết một cách hợm hĩnh. Anh Sáu hỏi:


Cha đâu?... còn thằng Chót?


Hạm nhanh nhảu, nói trỏng:


Ở nhà ngang.


Nó vừa né sang một bên để Chót nhoi lên. Anh Sáu ẵm thằng em út một cách thành thục bên nách, đi vào gặp cha. Anh kêu lên:


Cha!


Về bao giờ đó? Cha hỏi.


Dạ, mới.


Cuộc đối đáp gọn lỏn, thật nhạt nhẽo và thừa thãi. Nhưng trong cái không khí Nho phong lúc bấy giờ, không thể thiếu, vì đó là lễ.


Quan đốc[1] Hồ Đắc Hàm có nhắn gì với thầy trợ Đức[2] không?


Dạ có. Quan còn gửi lời thăm cha và ông thông Bích.


Thế thôi. Đây là thế giới im lặng, của lòng âm thầm lắng lo cho con cái, của sự nhịn nhục từ miếng cơm manh áo mong con thành tài, tuyệt nhiên không phải là thế giới của ngôn ngữ. Chỉ nói:


Ờ!


Rồi cha vờ cầm lấy cuốn sách và nhấc đôi mục kỉnh lên tiếp tục xem sách. Ông đã kín đáo nhận ra vẻ xanh xao trên khuôn mặt đứa con trai thứ hai mới mười sáu tuổi. Ông hiểu là anh đã phải trải qua những đêm thức trắng để dọn bài thi trong khi ban ngày phải vừa tới trường, vừa làm mọi thứ lặt vặt của một tiểu đồng trong nhà một vị quan lớn để khỏi trả tiền cơm. Vậy là ơn người ta nhiều lắm rồi! Ẩm kỳ thanh thủy khả vi ân. Uống của người ta hớp nước lạnh cũng đã mang ơn rồi.


Anh Sáu cúi đầu chào rồi ôm em đi xà lui[3] trở lại chái tây, nơi sẽ là giang san của anh trong mấy tháng hè này. Cởi quần áo dài, anh bận quần đùi, bộ ngực và đôi cánh tay cũng có vẻ thể thao chút chút. Anh mở hộp mè xửng cho vào cái đĩa trịnh trọng mang lên bàn thờ. Còn lại, anh bẻ nhỏ ra chia cho lũ trẻ con mỗi đứa một tí, mắt đứa nào cũng sáng lên, mũi dãi lòng thòng. Bấy giờ, tỉnh lỵ đối với chúng nó đã là một cái gì quá xa xôi, vậy mà anh Sáu học mãi ngoài Kinh đô[4] kia! Tóc anh vừa để rẽ. Anh vừa nhìn vừa xót xa cho những cái đầu trọc lóc, nham nhở xanh lè. Anh Sáu chỉ cho Hạm những hình vẽ trong sách, nó êm ái hít ngửi lấy mùi giấy mới thơm phức. Buổi sáng, anh kêu nó ra sân, giơ tay lên xuống và hô: on, đơ, toa[5], cách giống như mấy ông Tây tập tính… mới lạ làm sao. Nó tạm quên những con cá lia thia dưới chân bụi lúa, những con rô, con lóc trong mương lạch. Hoa súng bắt đầu nở trên mặt ao, cây gạo ngoài hàng rào bông đỏ chói, thoảng mùi thum thủm gọi chim tu hú bay về. Cái con chim tội nghiệp chẳng biết vì lý do gì mà hầu như đã vắng bóng hẳn nơi làng quê của Hạm mà tiếng kêu thì cứ vang vọng mãi trong giấc mơ của nó từ thời niên thiếu. Tu hú! Tu hú! Từng cặp từ rừng sâu bay về. Rừng sâu ở đâu, hỡi con tu hú gọi bầy?


Sự mới mẻ mà anh Sáu mang về từ chốn thần kinh hoa lệ, nơi có những vua chúa vòi vọi ngự trị trên ngai vàng, đã sớm tàn phai. Nó lại nhớ mương lạch, nhớ những dấu chân chim trên mặt ruộng, nhớ tiếng chiêm chiếp của những con sẻ vừa đâm lông, nhớ bóng nắng sáng đẹp tràn ngập khắp nơi, nhớ gió mát trên cánh đồng. Nó lại lẻn nhà ra đi chơi với lũ bạn.


Một sáng nó vừa từ vũng ruộng trở về thì nghe trong nhà có tiếng cười nói râm ran: anh Sáu nó mở lớp dạy hè. Thật là một biến cố lớn. Đã là cháu cụ Thủ khoa Đốc học, lại học từ trường Tây ở Huế về, anh Sáu sực nức tiếng thơm đồn khắp các gia đình khá giả trong cả huyện về sự thông minh học giỏi. Nên ai có con mà muốn thêm chút chữ nghĩa đều đưa tới thọ giáo anh rất đông. Cha nó định xây cái hè nhà trên, đã mua sẵn mấy chục viên đá tổ ong chất ở dưới gốc dừa. Anh Sáu nẩy sáng kiến lấy đá chồng lên, rồi tháo mấy tấm phản gỗ làm bàn ghế tạm bợ cho đám học trò vacăng[6] ngắn ngủi nầy. Nói theo từ ngày nay, thì đối tượng chiêu sinh là cái đám anh em bà con chú bác cô dì họ hàng nhà nó, nhiều người đã lớn tồng ngồng mà còn mài đũng quần trên bàn ghế trường Tiểu học. Người nào nhà gần thì trưa về. Kẻ ở xa hay cha mẹ muốn được kèm cặp kỹ thì gửi gạo cho ở ăn luôn tại nhà Hạm: anh Được con ông xã Hoàng mãi tận ga Lâm Điền xa hàng ba, bốn cây số, anh Tấn con bác cửu Kỳ ở Đồng Cát, anh Hội con cô hương Điềm nó ở Lương Nông, chỉ cách một cánh đồng nhỏ. Hoặc thân tộc gần gũi, hoặc mơ hồ xa xôi, những gã con trai phần lớn chưa hề biết tới tên tuổi nhau đó bỗng dưng lại tụ hội dưới một mái nhà, mà tình bà con và lứa tuổi mười hai, mười ba cùng ham chơi đã xít họ lại gần nhau, trong cái chung nhất là đều quê mùa, hồn nhiên chân thật. Họ đều bắt đầu biết chút tiếng Pháp, sáng nào cũng phải gào cho thật thuộc mấy bài tập đọc và học thuộc lòng trong cuốn Livre unique cours Moyen[7], cùng phải bóp trán nghĩ cho ra cách giải một bài toán phân số đơn giản, vừa len lén nhìn ngọn roi mây của anh Sáu. Mỗi người một hoàn cảnh, một cá tính mà mãi sau này khi đã về già nhớ lại, nghiền ngẫm, Hạm mới nhận ra tất cả sự bí nhiệm của đời sống. Và Thượng đế hiện hữu ở đấy, cũng như mọi nơi, mọi lúc.


Anh Tấn nhà giàu, cha anh có nghề nấu mạch nha đặc sản của Quảng Ngãi, được ngự tiến lên Hoàng đế Bảo Đại và được triều đình mưa móc ban cho tước[8] Cửu phẩm khi nào tránh được ánh mắt nghiêm nghị và đôi tai thính của cha, bao giờ lũ Hạm cũng chọc anh:


Mạch nha Cửu phẩm Trần Kỳ


Ăn vào thì thấy mập phì ruột ra…


Là con trai đầu lòng được nuông chiều, da anh trắng, người mảnh khảnh, hay khóc như con nít. Tuần nào anh cũng được cha gửi cho những gói thuốc tễ đại bổ. Hạm thỉnh thoảng được anh nhét cho vài viên to bằng hòn bi, đen xì, âm ẩm, thơm mùi sâm quy lại ngọt ngào hương vị mật ong. Còn anh Hội thì khác hẳn. Mười lăm tuổi, anh còn ngồi lớp nhì.


Cao to và mập, anh vật tay chẳng bao giờ thua ai và luôn nghĩ ra được nhiều trò chơi mới lạ. Ví dụ như, những đêm tối trời, anh dám cả gan một mình lầm lì đi xuống Vũng Sim, cách nhà những mấy khoảng gò mả, nơi nổi tiếng nhiều ma lúc bấy giờ, bốn bề hoang vắng, chỉ mọc đầy một loài hoa sim dại. Anh leo lên cây dâu đất già cằn cỗi, được nói là đã có một bà già thắt cổ chết ở đó, anh phất một dải vải trắng, vừa giả tiếng rên la the thé để nhát những cô gái táo tợn nhất đi công chuyện về khuya qua đó. Ví dụ như anh lẻn lên chùa, nhằm lúc ông từ đang loay hoay quét dọn, nhón lấy vài quả mãng cầu trên bệ bàn thờ và rút một cây nhang đang cháy, tinh khôn theo lối tắt chạy nhanh về nhà, để được dịp ngồi vắt đốc ra như một ông Hoàng, ngự trên chỏm mô đất trước nhà mà huênh hoang kể lại kỳ tích của mình. Cuối cùng anh cùng lũ nhóc chuyền tay nhau nhấm nháp một tí chiến lợi phẩm, mỗi đứa dè xẻn cắn một miếng nhỏ. Anh kể chuyện đời xưa và các chuyện lếu láo, thêm mắm dặm muối vào rất hay. Anh lén người lớn xé giấy trong cuốn vở học trò của mình, vấn thuốc rê hút phì phèo. Khi câu chuyện đến hồi gay cấn nhất, anh làm eo lũ nhóc bằng cách đột ngột dừng lại, truyền lệnh cho Hạm phải vào bếp lấy lửa cho anh đốt thuốc. Anh dõng dạc:


Mầy không đi thì tao không kể chuyện nữa mà còn cho tụi bây ngửi năm cái rắm.


Nếu Hạm chần chờ, anh tức thì thực hiện ngay lời đe dọa. Tới bây giờ Hạm cũng không hiểu đấng Tạo hóa chí công khi cho anh ra đời đã ban phép mầu gì mà anh lại có khả năng kinh dị có thể giải tán đám đông chạy tá hỏa bằng cách đánh rắm bất cứ lúc nào tùy ý, rồi cười khì khì ngặt nghẽo, đem lại niềm phấn chấn khinh khoái cho cả lũ. Con người dễ tính hời hợt đó cũng học lớp ba với anh Mười của Hạm, về sau lại cùng ngồi lớp nhì đệ nhất với Hạm, và cuối bậc tiểu học anh là bạn cùng lớp với em ruột Hạm. Là con út, được cô Hạm rất cưng, anh dành mọi khả năng thiên phú của mình cho những vui chơi không gần gũi mấy với sách vở. Cho nên, trung bình anh đã tiêu phí gấp đôi số thời gian cho mỗi lớp thông thường. Được cái là thời bấy giờ không hạn chế tuổi, nhiều anh học trò trường làng, trường huyện lớn tồng ngồng, ăn hết cả một vại cà, đã có vợ con, vẫn hiền lành cùng lũ nhóc ung dung ôm sách tới trường và thường bị chúng ranh ma hơn trêu chọc.


Anh Hội về sau đi làm cách mạng lên tới chức Thư ký Công đoàn Thương nghiệp Hải Phòng, một thành phố lớn. Đúng năm chục năm sau, nhân chuyến đi Nha Trang, Hạm đến thăm anh đã về nghỉ hưu tại một ngôi nhà khang trang trong Xóm Mới. Dưới ánh đèn khuya, mái tóc anh đã bạc trắng, nhưng đôi mắt và nụ cười anh vẫn là ánh mắt và nụ cười của nửa thế kỷ trước mà thời gian không tàn phá nổi; vẫn long lanh, cởi mở như cái cánh cửa mà đấng Thượng đế hào phóng mở cho chúng ta nhìn ra cuộc đời và vũ trụ. Nhìn ra, mênh mông đấy, có thể có mưa giông bão tuyết đấy, nhưng bạn hãy đi, chúc bạn an lành. Đấy là sự cộng thông giữa Trời và Người.


Còn anh Tấn, cũng giống nguyên xi như anh Hội trên đường học vấn, nghĩa là luôn luôn tụt xuống sau để lần lượt trở thành bạn đồng lớp với lũ em út. Hạm đi chơi về ghé mắt nhìn vào lớp học đang xì xào, tiến gần thì gặp và chia sẻ ngay niềm thương cảm cho cái ánh mắt ướt đẫm và đang tuyệt vọng cầu cứu của anh Tấn khi anh đứng trước tấm bảng đen với bài toán cộng phân số đơn giản và ngọn roi đang nhắp nhắp của anh Sáu.


Năm cách mạng, cha anh đã bị giết vì cái tước Cửu phẩm mạch nha của mình và vì mối quan hệ giữa ông và quan Tri phủ[9] Mộ Đức. Vậy mà đích thân quan Tri phủ, gốc người Huế thì chẳng hề hấn gì, lại còn được phong làm Chánh án tại một huyện khác ở Liên khu 5 vì nhờ có một người bà con làm lớn trong Ủy ban Kháng chiến miền Nam Trung bộ. Nếu cõi âm có thực, chắc ông Cửu phẩm sẽ đệ đơn khiếu nại, Diêm Vương sẽ phải lúng túng thối tờ kêu oan về cho ông Tri phủ bấy giờ là quan tòa mang cái mác cách mạng thứ thiệt, để ông phán xử theo luật dương gian, vốn có những đường quanh ngõ cụt đứt thôi lại nối của lòng người. Cha chết vì cách mạng nên anh Tấn rất hăng hái tham gia cách mạng, và năm 1948 anh đã vào Đảng. Khi thịt cầy đi theo rượu đế, khi thuốc lá đi với trà ngon, anh kết thân với Bí thư Huyện ủy, như cha anh với ông phủ Tân hồi xưa, nên anh được cất nhắc làm cán bộ tuyên huấn, phụ trách thanh niên và văn nghệ, động viên các giới đồng bào cần kiệm liêm chính, chí công vô tư.


Cầm cái loa tay bằng giấy báo cũ tự bồi, đứng trên chiếc ghế đẩu, dưới ánh đèn dầu mù u, anh siêng năng đi họp dân ở các xã, lôi cuốn người nghe bằng những lời lẽ mộc mạc như cái sức học của anh và miệng cười hoa nở, anh được giới nữ choai choai đáp ứng nồng nhiệt.


Bởi, anh bí mật có một cô vợ nhỏ, vốn là học sinh cấp hai rất xinh, và còn moi đâu được một cô khác. Sau khi tình tự đã đời, anh chuyển cho tay cán bộ có cỡ của Ủy ban xã. Thời chống Pháp mà anh dám có đồng hồ Printania và xe đạp Lucifer bằng thép của Thụy Sĩ, gõ lên kêu lanh tanh và cái răng vàng tỏa ra sự giàu sang như để bù trừ với cái u ám, nghèo nàn đang phủ lên miền quê đầu những năm năm mươi thế kỷ trước ở Quảng Ngãi.


Rồi... đình chiến. Anh đến thăm nhà trước khi bí thư Huyện ủy đi tập kết, xin giấy giới thiệu vào Qui Nhơn để cùng đi. Nhưng thay vì dép râu áo vải theo hướng Nam, anh thắng sơ mi trắng, quần tây ống rộng ra thị xã Quảng Ngãi để nửa tháng sau theo một đại đội tâm lý chiến của Ngô Đình Diệm do một đại úy Bảo An Đoàn chỉ huy vào tiếp thu Mộ Đức. Người ta ca ngợi anh, cho anh là có hiếu, làm việc với Quốc gia để trả thù cha. Cuối 1963, cụ Ngô chết, anh bỏ phong trào Cách mạng Quốc gia mà vào Quốc dân đảng bấy giờ đang có thế ở miền Trung. Anh lại có thêm bà vợ bé nữa ở tỉnh và sắm xe Vespa Italia thời thượng đi về. Đầu tháng Tư 1975, anh đi học tập, cần mẫn lao động và vâng lời ngoan ngoãn cán bộ quản giáo nên được khen ngợi hết lời, được phê là tiến bộ nhanh và được về… sớm, tuổi vừa năm mươi. Dạo đó, Hạm đang điều hành một cơ quan kinh tế tập thể. Anh vào Sài Gòn xin một chân bảo vệ, được Hạm rủ về ăn cơm và bàn công việc. Anh vẫn hào hoa phong nhã như xưa: thuốc cán (đầu lọc), áo sơ mi trắng, nếp ủi sắc như dao. Chiều chiều anh lại đi uống bia hơi, tất cả sẵn sàng để gần cổ lai hy, anh đi Mỹ theo diện H.O.


Thôi, hãy trở lại thời xưa. Theo lời yêu cầu của mẹ Hạm, cô dượng nó đã cho chị ruột của anh Hội là chị Hỳ lên phụ việc bếp núc. Con gái thời đó không mấy ai được đi học, cho nên việc chính của chị là giúp mẹ Hạm đi chợ, nấu ăn. Thế mà chị cũng dành dụm để có thể dấm dúi cho Hội, Tấn khi cái kẹo khi trái ổi, khi dúm muối ớt để được họ chỉ cho mặt chữ Quốc ngữ, bập bẹ học đánh vần. Chỉ qua vài kỳ nghỉ hè, chị đã đọc được sách báo.


Mỗi sáng, chị dậy sớm, nhóm lửa nấu một nồi cháo tấm thật lớn. Đến khi lũ con trai thức giấc, chúng ra giếng múc nước rửa mặt. Hồi đó chẳng có kem, bàn chải gì ráo; thỉnh thoảng chúng dùng xác vỏ cau khô của các bà ăn trầu mà đánh răng với muối. Chị Hỳ bỏ một chiếc nong ra nền nhà bếp, đặt những chiếc chén sành giáp vành rồi múc đầy cháo vào từng chiếc, giữa là một tô muối bột rang chín. Bọn con trai sà tới như đàn gà, vừa huých tay nhau, vừa trò chuyện như mổ bò, vừa suỵt soạt húp cháo nóng còn nghi ngút bốc hơi, một loáng đã hết sạch. Đấy, buổi ăn sáng của đám học trò ở nhà Hạm, mà nó cũng tham gia ké vào đấy. Học trò nhà quê, sáng lót lòng bằng cháo tấm, vậy mà về cái công việc tầm thường nhỏ bé đó, cha Hạm lại cũng có một câu chữ Hán rút từ trong sách của Thánh hiền ra: Thường thực minh chúc dĩ vi bổ thận nguyên (phải năng cháo sáng để bổ thận), vốn là chân nguyên của con người ông muốn chứng minh rằng, bất cứ điều gì được gọi là tốt, bổ ích thì nhất định phải xuất phát từ lời răn dạy của Thánh hiền.


Tóm lại, lũ anh Hội, anh Tấn thì ngày càng cố công một cách khó nhọc để nhồi thêm một tiếng, một chữ Pháp vào cái óc ngoan cố của mình hay biết thêm một phép toán dưới nỗ lực truyền bá Tây học của anh Sáu, anh Bảy thì cha Hạm, ông vẫn giữ mãi cái thiên chức hối nhơn bất quyện (nghĩa là dạy người không mệt mỏi) của mình mà gieo rắc đạo Nho, cái gì mà không xuất phát từ tiên hiền, liệt thánh, minh quân lương tể thời xưa thì đều là mọi rợ, là của man di hết.


Tất nhiên cái không khí đông vui, có tiếng ê, a học bài của những cái đầu chụm vào nhau dưới ánh đèn dầu mà người qua đường có thể nhìn thấy qua hàng rào tre thưa đang vi vu hát chào gió nồm thổi mát. Có những trận đá banh gần như quên ăn trên bãi cỏ tràn ngập bông cỏ may gần cấm[10] Ma Gia bằng những trái bưởi được lùi trong bếp tro nóng cho mềm đi. Có những hồi ngồi kháo chuyện gẫu nồng nực mùi thuốc rê khét lẹt mà mỗi khi nghe có tiếng chân người lớn đi tới, gần như là cả bọn phải cùng phất bàn tay quạt cho khói thuốc nhanh chóng tan biến ngay để xóa gọn vết tích tội phạm. Có những buổi cùng đi tắm sông, thách nhau ai lặn lâu hơn hay sang được bên kia bờ bẻ bắp trộm rồi bơi về nhanh nhất. Có những tối mưa dầm trời đen như mực, cùng ngồi mỗi đứa cố tưởng tượng ra để góp cho kỳ được một chuyện ma rùng rợn và đoan quyết là đích mắt tao thấy, hoặc lan truyền và phóng đại những chuyện hư hư thực thực xảy ra trong làng xã; như chuyện ông đội Giàu có con gà mái nửa đêm nhảy lên nóc nhà gáy inh ỏi chứng tỏ nhà ấy có người chửa hoang… Lên bảy tuổi, cái tuổi bắt đầu hiểu biết hết tất cả những hoạt động kể trên, Hạm hoặc được ngồi nghe, đứng nhìn, dự phần nên nó rất khoái, tưởng chừng như được vĩnh viễn an trú trong sự rong chơi thoải mái.


Nào ngờ tai biến đã đến với nó. Đó là một hôm nó đi chơi về, bị anh nó kêu vô, nghiêm nét mặt, chậm rãi lừ mắt nhìn nó từ đầu đến chân:


Tóc tai mày dài bờm xờm quá rồi, phải cạo sạch. Da dẻ đen như mọi, lại ghẻ chốc lởm chởm. Áo thì nồng nặc mùi hôi, chắc mày suốt ngày lội bùn và dang nắng. Bảy tuổi, mày đã lớn. Ngày mai, phải bắt đầu đi học.


Thật là một bản án nặng nề, sét đánh ngang tai. Nó rớm nước mắt cầu cứu mẹ. Nhưng chạy trời không khỏi nắng, cha nó giở lịch chọn ngày tốt, mẹ nó lục tủ tìm con dao cạo, mang ra mài thật sắc. Rồi như bao nhiêu lần trước, sau nhiều phen trốn tránh vô vọng nó bị điệu ra giếng, xối nước liên hồi, xát xà bông rát điếng từng mẩu thịt đỏ lòm trên miệng ghẻ. Và người ta vẫn để nó ở truồng như nhộng, ấn đầu cho ngồi trên tảng đá cho mẹ nó cạo đầu. Thời ấy ở tuổi nó cho đến tám chín, đầu nó chỉ chừa một miếng chỏm mụ bà to bằng nửa cái vá dừa sát trên trán. Dẫy sạch tóc tai là chuyện hàng tháng, nhưng lần này nó giẫy giụa và nhè nhè rên khóc khiến mẹ nó phải phát vào mông nó mấy cái rõ đau, Hạm mới chịu ngồi im, thút thít để nghe tiếng dao lướt qua xoàn xoạt trên đầu. Cái viễn cảnh phải ngồi ngay ngắn, trọn ngày trên chiếc băng làm bằng tấm phản, đối diện với những cuốn vở học trò lem luốc, góc cuốn cong queo và bò ngang ngòng ngoèo những chữ a, b, c hóc hiểm, đối với nó là một thứ cực hình. Mặc kệ, sáng hôm đó, sau chén cháo điểm tâm, nó được lệnh ngồi ở bàn đầu, mũi dài thòng lòng, vừa đưa ngón tay theo ngọn roi chỉ từng chữ một của anh Sáu, vừa phải lải nhải đọc theo: a…. bê… bê… a…. ba, bê… Hết nhận mặt chữ cái, tập viết, nó học vần xuôi vần ngược của những bài học vỡ lòng. Những lằn roi, những tiếng khóc, miệng thì gào to lên tiếng đánh vần cho ai cũng nghe mà óc Hạm thì để đâu đâu: ở những tổ chim mới lót vườn bên, ở hình ảnh chập chờn hấp dẫn của một con bướm lạ cánh vàng điểm đỏ mới tung tăng xuất hiện trên cành khế vừa đơm bông trước nhà sau một trận mưa giông mùa hè mát mẻ.


A xê ác, a xê hát ách, a anh… nó đọc mà mắt ngó ra vườn.


– A anh gì? Anh nó quát.


Dạ, a anh… a anh… em!


Trót, trót… mấy lằn roi mây vun vút giáng xuống đôi vai trần gầy guộc của nó. Nó tru tréo:


Ối, đau quá, lạy anh, anh Sáu ơi!


– Hạm, sao mày tối dạ vậy? Sao mày không chịu học?


Trót, trót… lại một vài lằn roi nữa giáng xuống cái đũng quần xà lỏn, in dấu trên mông nó.


– Chết mất, lạy anh trăm lạy ngàn lạy anh…


– Hạm! Mày muốn đi học hay đi chăn bò?


– Dạ, em không muốn đi học. Anh Sáu cho em đi chăn bò, chăn bò sướng hơn.


Nó vừa rên la vừa năn nỉ xin cho khỏi chịu cái cực hình đi học này.


Quả vậy, mới bảy tuổi nó đã có thể nhanh nhẹn nhảy tót lên lưng một con nghé, ngất ngưởng và đủng đỉnh, uy nghi như ông tướng tiến ra các vùng gò mả, vật thì thong thả gặm cỏ và buồn sừng húc nhau chơi, còn người thì tha hồ đánh đáo hay đào hang bắt dế, cho chọi nhau cho tới nhừ tử rồi lượm lá khô nhóm lửa nướng mà ăn tiệc với nhau. Thứ nhất là lúc trời đã về chiều, gối đầu lên mô đất, nhìn lên khoảng trời xanh dịu dàng lấp lánh một vài ngôi sao mọc sớm, rồi úp nón lá lên mặt, giữ trong chốc lát cái cảm giác nhẹ nhàng đó. Bây giờ thì hết rồi, giã từ vùng cỏ non nghĩa địa… giã từ những bông cỏ may mấy chục năm sau nay loạn trong gió thu già trên mả mẹ cha.


Hạm bị biệt giam ở chái tây suốt hai tuần lễ. Anh Sáu và anh Bảy nó thay nhau kèm cặp. Trừ hai bữa cơm, ban ngày nó không được đi đâu, vật lộn với mấy cái vần ngược tiếng Quốc ngữ khó đọc. Có khi mệt mỏi líu mắt lăn ra ngủ, nước bọt (giãi) chảy thành dòng xuống một bên mép, khiến anh nó phải đánh thức và bắt đi tắm giặt. Anh Mười nó lại được lệnh áp tải ra giếng và lập công trong nhiệm vụ này một cách cần mẫn. Nói tội trời, chẳng đặng đừng mà nhờ đó, người nó đỡ hôi hám, ghẻ chốc bớt dần, da đỡ đen sạm đi và sau hơn hai tháng ở tù, nó đã có vẻ mập ra và bập bẹ đọc được sách Quốc văn giáo khoa thư lớp đồng ấu.


Từ đó, cả nhà mới phát hiện ra là nó không đến nỗi đần độn lắm. Duy có cái bệnh đái dầm là đến mười tuổi mới dứt! Ban ngày ham chơi lại thích ăn mặn uống nước nhiều, tối nào nó cũng nằm mơ thấy mình như một văn nhân thi sĩ đang thênh thang dạo chơi ngoài ruộng, thoải mái nhìn trăng trong gió mát mà vén quần… tự do. Mỗi lần như vậy, nó phải trả giá bằng sự chịu đựng một vài phát tay vào đít hoặc thất thần bởi ngọn roi của mẹ. Mẹ nó nói:


– Hư quá, con trai lớn mà còn đái dầm là u mê. Phải đánh cho nó tỉnh ngủ và bỏ cái tật đó. Vả, cứ bậy ra mãi thì ai hơi đâu mà giặt giường chiếu cho nó?


Le premier septembre 1937


Đấy là một mốc thời gian khá quan trọng trong đời Hạm. Sau này học trong cuốn Livre unique cours moyen deuxième (sách học tiếng Pháp lớp nhì đệ nhị tức năm thứ năm chương trình Tiểu học sáu năm bấy giờ) nó thuộc lòng mấy câu ngắn như sau:


Maintenent je vais à l’ école…


J’apprends chaque jour ma lecon…


Le sac qui pend à mon épaule


Dit que je suis un grand garcon


(Bây giờ tôi đi đến trường, mỗi ngày phải học thuộc bài vở. Cái cặp treo trên vai tôi nó nói với tôi rằng nay tôi đã lớn). Nó đã thấm thía cái dòng chảy tự nhiên của đời người. Anh nó là người nóng như lửa, bắt nó học luôn chữ số và làm toán cộng trừ một con. Mặt chữ số một đến chín thì nó nhận được rất mau.


Thông thường, nếu mẹ nó đi chợ về cho nó ba cái kẹo, anh nó nhót trước bớt đi của nó một chiếc thì khỏi cần dạy bảo nó cũng biết đứt cái đuôi con nòng nọc là nó chỉ còn hai cái làm của riêng và khư khư giấu kỹ; chưa cần tới tuổi có quyền công dân, vẫn chiếm lấy sở hữu và sẵn sàng chịu đòn để giữ của một khi vô cớ bị tước đoạt. Nhưng trước trang giấy trắng, với bài toán đơn giản 2 + 1 = ? thì mười lần như chục là nó làm sai, khi là 2, khi là 4, có khi nguệch ngoạch vẽ con 3 vào đấy nhưng tuyệt nhiên không hiểu tại sao như vậy là đúng.


Hạm đã chịu khá nhiều roi vọt vì những bài toán cộng trừ này. Ôi, cái tuổi lên bảy của những chiếc kẹo ngọt ngào mẹ mang từ chợ về mỗi chiều, cái tuổi tít mắt theo dõi cánh diều hay mãi không trung, nhưng đồng thời vẫn có một thứ mây mù đen ngòm và bí hiểm bao vây trí tuệ nó. Qua đoạn học vần ngược, bây giờ đến những bài toán cộng một con, những ác thần thường mang tới những lằn roi, tiếng khóc và những mộng mị hãi hùng. Gần tháng rồi mà vẫn không có lối thoát nào cho nó trước những con toán câm nín luôn tai họa. Nó thầm trách cha mẹ và các anh nó quá ác, bắt nó phải đi học. Nó ghen tị với Chót, em nó, bốn tuổi, còn làm nũng với mẹ và còn được tha hồ lêu lổng. Nó đâm ra sợ hãi những con toán. Ai dè đâu sau này nó là anh học trò ban Tú tài được thầy phê vào học bạ: Rất thông minh về toán (Très intelligent en Mathématiques) và ai dè đâu, đến ngoài sáu mươi tuổi, nó vẫn là đứa lêu lổng số một. Câu chuyện như vầy:


 


4. BÀI TOÁN CỘNG


 


Một buổi sáng thứ Bảy đẹp trời cuối hè nọ, anh nó và các anh học trò lớn (lại lũ anh Hội, anh Tấn) rủ nhau cơm đùm, nước chai làm thành một đoàn học trò ô hợp nông thôn với đủ thứ áo, quần, nón, guốc… đi bộ năm cây số đường làng, xuống nhà cô nó ở Cà Đó để ra bãi biển Minh Tân đá banh, tắm biển rồi dựng lều sinh hoạt Hướng đạo, trò chơi lớn, ngủ đêm ở sát chân sóng một vài hôm. Trước khi đi, anh nó, cái ông thầy dạy hè tận tụy này không quên để lại trong vở tập làm bài của nó hai bài toán: 2 + 3 và 4 + 1 với lời đe đọa hai bữa nữa tao về mà không làm được thì… chết với tao!


Hạm lúc đầu mừng lắm khi nghĩ tới việc ít ra cũng được tháo cũi xổ lồng trong vài ngày. Nhưng thôi, cái sự vắng mặt của ông sáu Quặm[11] chỉ một tiếng đồng hồ trong nhà này cũng đã là phước lớn với nó rồi. Thế là nó như con chim sẻ, vừa chạy vừa nhảy tưng ra đồng với lũ bạn, lại hùng hục lùng soát kỳ toét mấy ngọn cau trong xóm bị ông quản Lư vườn bên réo la; lại ra bến Chùa đâm bổ xuống nước bơi lội, tóe nước vào nhau mãi tới chiều; sau bữa cơm lại lăn ra ngủ như chết, chẳng biết trời đất gì. Mãi tới sáng hôm sau, Chủ nhật, mặt trời đã lên cao hơn một con sào, tiếng chim gáy xôn xao trên cành cao mới đánh thức được nó. Sắp đến hồi mấy ổng về rồi, nó chợt nhớ lại, vội vàng mang cuốn vở tập ra, thọc cây viết lá tre vào bình mực tím, cắn môi suy nghĩ mông lung trước trang giấy trắng nhem nhuốc. Mãi vẫn không có thêm được chút ánh sáng nào rọi vào cái đầu óc đen tối của nó cả. Nó lo sợ, mồ hôi rịn ra trên trán, nước mắt đầm đìa: 2 + 3 = ?... Ôi, bí hiểm làm sao…


Bỗng có tiếng chó sủa ran ngoài ngõ. Hú hồn, nó ra nhìn ra: chị Rơ, chị họ nó, hơn nó năm tuổi đang cầm chiếc sào chăn vịt đi vào. Chị là con bác hương bộ Cán, trước kia bác cũng thừa hưởng gia sản của tổ phụ để lại nào ruộng nào trâu, nhưng bác hoang đàng, ham mê cờ bạc thua sạch hết. Chị Rơ đang học lớp ba trường làng đã phải bỏ học ở nhà, vừa cấy lúa, nhổ cỏ, tát nước; vừa phụ thêm nghề nuôi vịt kiếm thêm gạo cho gia đình. Chị thả vịt ăn trong ruộng Bầu Xuân trước nhà và vào bếp nhà Hạm, tìm siêu nước chè đang vần trong bếp tro nóng. Thấy nó ngồi một mình buồn bã, nước mắt lưng tròng, chị hỏi:


Em làm sao đây?


Anh Sáu ra hai bài toán, em làm mãi không được.


Dễ ợt. Chị nhìn vào trang vở và nói: hai cộng ba bằng năm


Nó quẹt mũi rồi trân trân nhìn chị, vẫn không hiểu.


A!


Chị tu một hơi nước chè tươi rồi thả chiếc sào ở đó, chạy vội ra cổng. Hạm tuyệt vọng nhìn theo. Nhưng kìa, chị Rơ đã trở vào, cao sáng hẳn lên dù vẫn mảnh áo hai vai sờn rách và chiếc quần dài vải ú đen bạc màu đã nhanh nhẹn tiến đến gần nó.


Này, em đếm coi chị có mấy cái đọt tre?


Nó nhìn kĩ hai chiếc lá non còn cuốn lại như hai cái tăm mà chị mới lia xuống bàn. Nó đáp:


Hai!


Chị bảo:


Đó là con số trên của bài toán cộng, số 2. Bây giờ, em làm toán cộng thì chị phải bỏ thêm một số đọt bằng số dưới. Em hãy coi lại con số dưới là mấy?


Hạm nói ngay:


Ba!


Tức thì chị xùy ra ba đọt nữa rồi nói như ra lệnh:


Nhóm hai số lại và đếm coi cả thảy được mấy cái?


Hạm chậm rãi chỉ từng chiếc một: 1, 2, 3, 4, 5 cộng hết được năm đọt. Năm đọt, nó như sung sướng thét lên. Chị kết luận dõng dạc, chắc chắn như một vị giáo sư nghiêm túc giảng bài trên bục gỗ trường đại học:


Đúng rồi. Em viết vào đi, hai cộng với ba là năm.


Chị chậm rãi nhấn từng tiếng một:


Làm toán cộng là gom số trên và số dưới lại mà đếm, được bao nhiêu thì đó là số thành.


Không biết hồi xưa Đức Phật sau bảy năm dãi đầu mưa nắng ngồi nhập định dưới gốc cây bồ đề, chim làm tổ trên đầu mà không biết, vô thượng bi - trí - dũng chống lại bóng đêm mịt mù, câm điếc, dày đặc và hung hiểm của ma vương đến khi ngài tỏ ngộ chơn lý thì hào quang rực sáng tới đâu? Hay không biết khi đấng Christ chịu chết trên cây thập tự giá đêm đông Trung cổ rét buốt để cứu chuộc tội lỗi cho loài người thì Thánh linh đã rực rỡ tân hóa cảnh quang nhân sinh tới mấy vòm trời. Nhưng riêng với Hạm, sự chỉ vẽ nôm na về cách làm bài toán cộng đơn giản bằng mấy cái đọt tre non hái ở hàng rào bởi người chị gái chăn vịt quê mùa chưa học hết lớp ba, đối với Hạm là một thức tỉnh lớn lao. Từ cái bic bang1 phát xuất điểm đó, Hạm luôn tra hỏi, tìm hiểu mọi thứ mà về già thì lại càng rõ: chân lý luôn luôn bắt đầu từ cái đơn giản nhất và luôn luôn đến như một bic bang.


Ôi! Bà chị họ nghèo mười hai tuổi đó về sau lấy một anh bộ đội Nam tiến. Anh hy sinh ở chiến trường Tây nguyên thì chị cầm cây sào chăn vịt nuôi con, chờ cho một linh hồn trở về, chờ mãi đến khi tóc bạc. Cuối cùng, chị nằm xuống, hội nhập vào cái đồng nhất thể bao la có lẽ cũng để mong gặp lại chồng một cách yên lành. Chị là người khai tâm cho Hạm, như tia lửa điện trong lò phản ứng hạt nhân, ngắn ngủi nảy ra chỉ trong vài phần ngàn giây mà tạo lập cả vũ trụ.


Lớn lên, đọc Xích Bích phú của Tô Đông Pha, đến câu: Tùng kỳ biến giả nhi quan chi, tất nhiên địa như nhất thuấn giả (Theo cái góc độ biến động mà quan sát sự vật, thì trời đất chỉ bằng cái chớp mắt); mà cha Hạm đã Việt hóa một cách tài hoa:


                                    Thử đem lý biến mà bàn       


Có khi chớp mắt dài hơn cao dày.


Hạm thấy người xưa thâm thúy biết bao!


Vô cùng ở đấy, cực vi cũng ở đấy. Thần linh ở đấy, ma quỉ ở đấy, con người cũng ở đấy. Có điều là mãi đến sau khi có cái sức học của một Cử nhân mấy chục năm trời, tuổi quá bảy mươi gần kề miệng lỗ, Hạm mới nhận ra được hết vẻ huyền nhiệm của nó.


Ánh sáng đã bắt đầu ló dạng trong cái đầu óc đen tối ngu đần của Hạm. Nó bắt đầu thích thú tới việc học, nhưng lơi lỏng ra là nó vẫn lẻn đi mò cua bắt ốc, chăn bò với lũ bạn. Bấy giờ, nó làm toán rất nhanh, viết chữ nắn nót thật tròn đều, ai cũng khen. Một hôm, nó linh cảm thấy trong nhà đang xảy ra một việc gì đấy có vẻ trọng đại. Cha mẹ nó, ông bác họ, ông hương bộ Cán, nghiêm giọng kêu anh Cả nó, bây giờ đã hăm hai tuổi, vào nói chuyện. Chuyện người lớn.


Rồi bỗng dưng, không nhằm ngày giỗ chạp gì mà nhà cửa được quét dọn sạch sẽ, sửa sang tươm tất. Các bộ lư đồng được mang xuống chùi láng bóng, mấy tấm trướng kim tuyến thêu rồng phượng trắng vàng xanh đỏ trên giường thờ được tháo ra phủi bụi, giặt giũ. Chim én đã rải rác bay về nam. Lúa tháng Tám chín vàng nằm rạp trên các thửa ruộng đẫm sương và ngào ngạt mùi rạ mới. Người ta vặt sạch những chiếc lá vàng già trước tuổi xuất hiện trên cây mai trước nhà. Trời thì xanh lơ như huyền mặc tư lự, chờ đợi một lời nguyền tốt đẹp.


Anh Cả sắp cưới vợ!


Hạm đi khoe với lũ nhóc trong xóm. Quả là cuộc đời luôn mới mẻ, bao gồm cả vui sướng lẫn u buồn. Mới vài tháng trước Hạm còn bị ăn đòn như cơm bữa, nay chẳng những đã được khen, lại còn sắp được ăn đám cưới nữa chứ.


 


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








[1] Cụ Hồ Đắc Hàm bấy giờ là hiệu trưởng trường Trung học Phú Xuân ở Huế (1937). Chức vụ Directeur bấy giờ được gọi là Quan đốc.




[2] Tức thầy Nguyễn Tấn Đức, nhà giáo lớn tuổi nhất ở Quảng Ngãi.




[3] Đi lùi về phía sau lưng, mặt vẫn hướng về phía người lớn, để bày tỏ lòng tôn kính cha mẹ, theo lễ giáo thời bấy giờ.




[4] Chỉ thành phố Huế trước 1945.




[5] Tiếng Pháp: on (un): một; đơ (deux): hai; toa (trois): ba; cách (quatre): bốn.




[6] Vacăng (tiếng Pháp) vacance: kỳ nghỉ hè.




[7] Hồi đó, cấp Tiểu học có đến 6 lớp: 1. Đồng ấu, 2. Dự bị, 3. Sơ đẳng (thi bằng Yếu lược), 4. Nhì đệ nhất (Moyen 1), 5. Nhì đệ Nhị (Moyen 2), và 6. lớp Nhất (Supérieur), thì thi Tiểu học. Kỳ thi này chia làm 2 phần: thi viết và thi miệng. Thi viết thí sinh phải: viết chính tả, làm 1 bài luận và 1 bài toán, tất cả bằng tiếng Pháp. Ba bài này phải được 18 điểm mới được thi vấn đáp.




[8] Quan tước của triều đình phong kiến Việt Nam thời Nguyễn có 9 bậc (gọi là cửu phẩm), thấp nhất là cửu phẩm, lên cao là bát phẩm… đến nhất phẩm. Mỗi phẩm có hai hạng: chánh và tùng. Nhất phẩm tương đương với Bộ trưởng (Thượng thư).




[9] Tri phủ: quan chức cai trị thời phong kiến ở mỗi phủ (huyện lớn).




[10] Khu rừng nhỏ, chừng vài sào, tồn tại tự nhiên giữa các xóm làng hồi xưa.


 




[11] Tên quây nôi của anh Sáu Diễn: Quặm.




1 Big Bang: Vụ nổ lớn, từ đó sinh ra không gian, năng lượng và vật chất để tạo ra vũ trụ như hiện nay. Khởi thuỷ, vũ trụ chỉ là một đại dương cực kỳ đặc và nóng. Big Bang xảy ra, vũ trụ ra đời sau đó.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 10.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
xem thêm »