tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 22307382
Tiểu thuyết
19.08.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

 Phần 2. THẰNG HẠM


1. TƯỚNG TINH HẮC HỔ


 Đó là một ngày đầu tháng Chạp. Trời rét đậm, mưa lất phất, gió heo may thổi làm rên rỉ rặng tre già sau nhà. Trời tối như mực. Có lẽ đã gần hết canh một. Trống đổi phiên từ ngôi điếm cổ cạnh nhà điểm hai tiếng vẳng lại. Người đàn ông trung niên trằn trọc mãi không ngủ được. Ngọn đèn dầu phụng trên án thư heo hắt, tỏa một thứ ánh sáng xanh rờn yếu ớt, nhợt nhạt khắp gian giường thờ.


Chợt có tiếng khua cửa. Ông vẫn nằm trên tấm phản gụ bóng loáng, có trải chiếc mền bông vào mùa lạnh theo kiểu những người khá giả ở quê thời bấy giờ. Người đầy tớ trai gọi với lên:


– Thưa thầy, ông lớn lên chơi.


Ông vội vã ngồi dậy, vuốt nếp áo cho ngay thẳng rồi luống cuống ra mở cửa. Ông chưa trông thấy gì, vẫn nói ra bóng đêm:


– Bẩm thầy, xin rước thầy vô kẻo cảm lạnh.


Vị lão quan bước vào. Râu tóc đã bạc, bận áo the thâm, đầu chít khăn đóng, người cao lớn tráng kiện dù đã trên bảy mươi tuổi, tay cầm chiếc gậy có đầu một con nghê bịt bạc. Ông nhanh nhẹn bước xuống chiếc võng điều do hai người lính khiêng. Người hầu già xách chiếc đèn bão.


Ông lão đảo cặp mắt long lanh nhìn khắp phòng, giọng như hàm chứa một cái gì có vẻ đùa cợt: Lương thì cái rưỡi lính hầu ba/ Võng lọng đem theo, chóe để nhà.


Nhà nước cấp có vậy. Cái rưỡi lương hưu, ba người lính. Hai người khiêng võng, chỉ còn lại một, không đi lọng ban đêm thì cho cửu Vàng cầm đèn bão theo hầu, phong lưu bấy nhiêu đủ rồi, cái chóe đựng giấy bút phải để nhà.


Vừa phủi bụi nước mưa bám trên áo, giọng ông bỗng ngậm ngùi:


– Đại hàn năm nay khá lạnh. Tôi đánh nhẩm tay Thái Ất, thấy cơ trời có nhiều biến động, vợ anh lại gần tới ngày sanh, tôi lo lắm.


Người con rể, vốn là môn sinh cũ của ông lớn, Thủ khoa Hương thí, Đốc học trí sĩ, vẫn đứng chắp tay cung kính:


– Bẩm thầy, con cũng vậy, không hiểu sao cứ nằm thao thức hoài. Thôi để con soạn bàn đèn nướng thuốc, thầy kéo vài hơi cho ấm người.


Ông lớn không nói gì. Ông không nghiện, nhưng thói quen tiếp khách của các nhà nho giàu có thời xưa, nhất là đối với các vị hưu quan vẫn luôn phải nhờ đến khói phù dung mỗi khi vui với bạn bè bàn việc văn chương chữ nghĩa hay cao đàm thế sự. Ông ngả người ngay xuống phản. Người chủ nhà, con rể ông, hai tay đưa chiếc gối đến cho ông lớn tựa đầu vào rồi lo sửa soạn dọc tẩu.


Cả hai đều im lặng. Cha vợ đã bảy tám và con rể chưa tới bốn mươi mặc dù tuổi tác chênh lệch, nhưng rất tâm đắc trong cõi lặng thinh này.


Ông lớn đang lim dim nhìn đôi câu đối bằng chữ Nho sơn son thếp vàng lóng lánh sáng trên mặt gỗ đen, được treo trang trọng trước bàn thờ. Câu đối nầy chính ông đi đám mừng tân gia cho ông Bá, bạn học và là cha chồng con gái ông, khi ngôi từ đường chi họ Nguyễn Văn này được khánh thành:


 


Thiên kinh, địa nghĩa, vật tắc dân di


Xuân võ, thu sương, phong tần nhã vĩ [1].


Ông rất tự hào đã rút được nguyên hai câu này từ trong cổ thư đối đương nhau một cách tề chỉnh và tả được chính xác gia phong của cụ bá Năm, người sui gia đáng mến đã sớm lìa đời cũng là bạn nối khố với ông thuở hàn vi. Bỗng ông hỏi:


– Bẩm, có nghe hổm rày ngoài chợ người đồn đại gì không?


Bẩm là tên tộc đứa con trai đầu lòng của chủ nhà, cháu ngoại Quan Đốc. Trung và Nam bộ Việt Nam có thói quen kêu tên một người đã lớn bằng thứ của người đó trong gia đình kèm theo tên của đứa con đầu lòng.


Giữa tiếng cháy xèo xèo của viên thuốc phiện đen, chỉ to bằng con ruồi đang sôi trên ngọn đèn dầu lạc, người con rể vẫn một mực tôn kính, dù cùng đang trong tư thế nửa nằm nửa ngồi:


– Bẩm thầy, hồi chiều thập[2] Thiệu có ghé đây. Nó cho hay là ông đội Giàu sẽ dẫn lính Tây ở tỉnh về bắt những người làm hội kín.


Ông lớn rướn người lên, hai tay đỡ lấy dọc tẩu:


– Tôi nhớ sấm Trạng có câu:


Mã đề, dương cước, anh hùng tận


Thân, Dậu niên lai kiến thái bình.


Giờ đã cuối năm Canh ngọ, tức cái móng con ngựa là mã đề, sang năm Tân mùi cẳng dê là dương cước, vào các năm Ngọ (1930) và Mùi (1931) nầy cái hùng mạnh của người nước Anh hết rồi. Kế tiếp sau đó đến năm Thân, năm Dậu, thế giới mới có thái bình được.


Tiếng mưa rắc đều và tiếng nước giọt thở than bên ngoài. Ba người lính nhàn tản đã lỉnh xuống bếp bên ánh lửa hồng, vừa nói chuyện, mồi thuốc rê, vừa chờ một nồi bắp rang nổ giòn rưới mắm ớt cay xé miệng, nóng hổi mặn mà giữa cái lạnh lẽo tàn đông xứ Quảng.


Ở nhà trên, tiếng kéo thuốc phiện ro ro nghe như vang vọng từ một thế giới thiên cổ xa xôi nào vọng về, khói bay thơm phức đưa hai dật sĩ[3] một già một trẻ vào cõi phiêu diêu. Con rể dâng cho ông lớn một chung trà Vũ Di Sơn[4] đặc sánh, rót từ chiếc ấm Thế Đức[5] gan gà vào chiếc chén nội phủ màu ngọc bạch vẽ hình một ông già cưỡi lừa qua một chiếc cầu nhỏ, với hai câu thơ:


Kỵ lư quá tiểu kiều


Độc thán mai hoa sấu.


(Cưỡi lừa qua cầu nhỏ/ Than tiếc khóm mai gầy).


Trầm ngâm giây lâu, người con rể ngồi lên ngay ngắn:


– Dân tình miền Nam Ngãi[6] này gần đây ồn lắm. Thằng Nhì Quế, cháu họ con, đang hoạt động phản đế. Nghe nói chú Biện cũng đang làm gì đó?


Biện[7] là em ruột ông lớn. Quan đốc chép miệng thở dài:


– Từ ngày cáo quan về trí sĩ, thầy tự thấy đã già rồi, lực bất tòng, không sao còn đủ sức để ý tới chánh sự nữa. Mà người Pháp với dân An Nam mình cũng quá tay. Ngồi mà ngẫm lại, như cái tâm sự của Phan Đình Nguyên[8], xót xa làm sao:


Cửa trùng xa giá[9] quan sơn ngoại


Tứ hải nhơn dân thủy hỏa trung.


(Chín tầng xe chạy ra quan ải/ Bốn biển nhân dân nước lửa sôi).


Quan Đốc thở dài. Quốc phá, gia vong, ngài nghĩ. Từ năm Ất dậu trước, vua phải bỏ ngôi chạy ngoài cõi quan san, dân đen lâm cảnh nước sôi lửa bỏng. Nhà ông thì hai người con trai đà sớm ra người thiên cổ, cảnh tre già khóc măng, quả là nước mắt chúng sinh trong ba ngàn thế giới còn nhiều hơn nước bể ở bốn đại dương, như lời thơ: Cây quế hòe sao khéo gặp mưa dông mà ông tự vịnh: Như hạt lúa nổi chìm trong bốn bể, Cánh phù du cao thấp dưới lưng trời.


Đi đâu cũng không tránh được cái buồn, quan Đốc tỏ ý muốn ra về. Người con rể, theo đúng lễ nghi cầm dù tiễn quan mãi đến cổng nhà, bên kia đường cái quan qua mấy thửa ruộng mới cấy và mấy xóm nhà dân lưa thưa nghiêng bóng bên những bụi tre còi.


Đêm mồng bốn tháng Chạp mùa đông trăng non sớm bị cái lạnh thổi tắt, người con rể về đến nhà thì đã canh tư, giờ Sửu. Vặn ngọn đèn hoa kỳ nhỏ lại chỉ còn đốm lửa xanh, ông ngả lưng xuống phản thiếp đi.


Trong giấc ngủ huyễn hồ, ông mơ thấy mình đang đứng trước nhà, cạnh điếm canh, nhìn qua ruộng Bầu Xuân bên kia, gió thổi trên lúa non đang độ con gái, xa xa là bóng tre dịu dàng tận Cầu Đập, thì nghe có tiếng la: – Cọp! Cọp!


Rồi có bóng người chạy tán loạn, đây đó ánh đuốc bùng cháy sáng lên trong đêm, vài ông trương tuần đang cầm gậy gộc, dao mác lố nhố hì hụi đuổi một con cọp lớn màu đen. Từ đời cụ tổ Nguyễn Đăng Quang vào đây khai hoang lập ấp, đến bây giờ trải mười đời, non ba trăm năm, đất Thi Phổ còn rất thưa thớt dân cư. Mặc dù cách núi lớn những nửa ngày đường, nhưng thỉnh thoảng thú dữ như cọp, heo rừng vẫn về tới bến Đình, đến chùa Thi Phổ hay cấm Ma Gia sát đường cái quan bây giờ mà ủi lúa hay bắt trâu bò, thậm chí vồ cả người nữa.


Con cọp lớn, hình như mình mẩy vằn vện, thấy lửa nổi và đám đông như vây lấy mình, bèn há miệng ra thè cái lưỡi đỏ lòm và hàm răng nhọn hoắt gầm một tiếng vang rền. Ông nghe như đất rung chuyển dưới chân. Nó bỗng dưng đứng sựng lại, đoàn người thất kinh cũng dừng chân. Nhưng chỉ giây lát, nó cụp đuôi bỏ chạy. Lạ thay, nó chỉ nhằm nhà ông mà xông tới. Đến đầu xóm, con hổ chống hai chân trước, đập đuôi và bằng một cái sức có thế tạo nên một trận cuồng phong, nó phóng vút vào chiếc cổng đang mở trống toang mà khi nãy ông đã quên không đóng. Nó đang phủ lên mình ông. Ông kinh hãi hét lên một tiếng, choàng tỉnh giấc. Cùng lúc là tiếng đập cửa, ông vừa tỉnh một giấc mơ kỳ lạ. Tiếp theo, là tiếng người đầy tớ:


Thưa thầy, thiếm vừa chuyển bụng… Mau quá, không kịp đi kêu mụ, đẻ rồi!


Ông như run lên lẩy bẩy, không biết vì dư hưởng của một giấc mơ kinh dị hay vì sự sinh nở đột ngột của vợ. Nhưng ông vẫn cố tự trấn tĩnh, và vặn ngọn đèn to hơn, mồ hôi đẫm trán, ông rút then cài cửa và theo đứa cháu xuống nhà ngang. Trong buồng, bà mụ nhà quê vừa đến đang làm nốt những gì cần thiết, rồi có tiếng oe oe của trẻ sơ sinh cất lên. Ông hỏi:


– Trai hay gái?


– Dạ. Một thằng - bà mụ đáp. Nhỏ con mà tiếng khóc nghe như ông tướng - bà nói thêm.


Ông lẩm bẩm:


Lại một thằng. Vậy nó là thứ mười một, tuổi Canh ngọ, tháng Chạp, ngày mồng năm.


Nhìn trời, ông nghĩ, bây giờ chắc là giờ Sửu rồi. Và, như những gia trưởng lúc bấy giờ, chuyện bếp núc chợ búa muối mắm, cả sinh con đẻ cái không phải là việc của người quân tử cao ngạo nhàn đàm trị quốc bình thiên hạ phải lo. Ông lẳng lặng trở lại bàn thờ, thắp ba cây hương cắm lên trước bài vị Tổ tiên, nghiêng mình thi lễ, đánh ba tiếng chuông trước tượng thờ Quan Công. Rồi vặn đèn cho nhỏ lại, ông thản nhiên tiếp tục đi nằm, lần này kéo một giấc đến sáng bạch.


Chỉ mấy ngày sau, phong trào Cộng sản bùng lên ở miền quê Quảng Ngãi. Tây ở đồn khố đỏ về lùng sục khắp nơi, khám nhà bắt đi nhiều người. Quan huyện Nam triều hạ trát[10] cấm dân chúng không được đi lại ban đêm. Nếu có việc gì quá cần thiết thì phải xin phép trương tuần và phải xách theo đèn bão.


Thằng bé ra đời èo uột lắm. Dường như vì Tứ hành xung[11] với cái mạng của nó mà mẹ nó cũng lâm vào cảnh thập tử nhất sinh. Một tối, người sản phụ lên cơn sốt cao, mồm lẩm bẩm nói trong mê sảng. Đứa bé chỉ còn bằng nắm tay, bỏ bú một ngày rồi, thở thoi thóp nằm bên cạnh, mạng sống hai mẹ con không còn bằng sợi chỉ mành. Cha nó cố ra vẻ bình thản nhưng cũng không giấu nổi bối rối, ngổn ngang trăm mối trong lòng. Ông đã nghĩ tới việc đóng chung cho hai mẹ con một cổ thọ đường[12]. Nhà có một gia y là thầy Ba Trinh, nổi tiếng khắp miền Nam Ngãi nhưng ở tận trên Nguồn[13], phép quan lại đang cấm ngặt không cho đi lại, nhất là lên rừng, ông đành bó tay. Không thể ngồi nhìn vợ tắt hơi, ông gọi đứa cháu tên là Nhì Quế:


– Mầy thắp ngọn đèn bão cùng tao đi ra tiệm thuốc bắc ông hương Hường ngoài chợ. Đám tuần canh có hỏi đi đâu, mày liệu cách mà trả lời nghen.


Đầu tháng Chạp mà trời còn mưa lụt lớn. Nước lũ băng qua vườn nhà, đổ xuống ruộng ông hương Văn mé đông hàng rào nghe ầm ầm suốt ngày đêm, như tiếng gầm rú của thần Thủy tinh trong cổ tích. Người con trai cả mới mười lăm và đứa em trai thứ bảy lên bảy, cùng đánh trần vật lộn với con nước lũ hung hãn tới tướm mồ hôi mới xoay xở cho chiếc ghe nan dùng đuổi vịt của nhà qua được bờ đất. Xong, họ phải trở vào phập phồng canh thức bên giường mẹ, vẫn ánh đèn đêm leo lét. Trời đang mưa to, nước gần liếm nền nhà, tất cả như đang trong những ốc đảo, đâu đó có tiếng kêu cứu ơi ới vọng lên trong đêm tối.


Tiếng mái chèo khua buồn, ánh lửa nào rực lên nơi xa! Hai chú cháu gõ cửa hiệu thuốc vào nửa khuya. Nghe tiếng quen, dù là bà con, chủ hiệu thuốc bắc vẫn không dám mở cửa, bèn nói thầm qua chấn song:


– Gì đó anh Sáu?


– Nhà tôi bị sản hậu quá nặng. Chú bốc giúp tôi thang lục vị sâm truật, chánh hoài vi quân [14] về đổ cho bả thử coi sao.


 Một que diêm bùng lên ở bên trong, rồi có ánh đèn tọa[15] tỏa sáng. Ông hương Hường đã có vẻ dạn hơn:


– Hồi chiều lính rao loa cấm mở cửa ban đêm, anh chờ tui một chút.


Thời gian âm thầm, chậm rãi nặng nề trôi. Tiếng một con cú mèo nào kêu gở từ cấm Ma Gia vọng lại trong đêm. Thang thuốc gói giấy nhựt trình thò ra ngoài, hai chú cháu cẩn thận đỡ lấy rồi sờ soạng chèo ghe về, cái lạnh thấm vào tận gáy.


Ngay từ muỗng thuốc đầu tiên ực qua cổ, người sản phụ thở đều hơn. Tới sáng, cơn sốt đã thuyên giảm. Thằng bé ngày hôm sau đã có sữa mẹ, xem phần bớt nguy kịch. Cha nó còn tích cực phụ lực với các loại dược thảo trong cơn chèo chống này bằng cách tối nào sau khi cơm nước xong, qua canh một là ông dóng chuông mõ tụng Kinh Ông, tức kinh của Quan Công mà ông rất mến mộ.


Tết năm Mùi - 1931 đối với ông ngoại thằng bé, tức ông lớn Thi Phổ là một cái Tết hãi hùng. Em ruột ông, cụ biện bị lính Tây về xét nhà. Vốn tính cương trực, cụ kháng cự lại không cho. Chúng giơ súng ra dọa. Cụ xông tới giật lấy tay chúng, bị lính Lê dương[16] bắn chết.


Ông lớn thương em mà cũng không ưa gì Pháp, phản đối kịch liệt với viên Công sứ Quảng Ngãi. Ông còn ra tận tòa Khâm ở Huế kiện, công việc dây dưa không mấy kết quả, ông ngày một ưu phiền, nhiễm bệnh, xem chừng ngày một yếu.


Gái bớt hai, trai bớt một, ngày mồng bốn tháng Giêng Quí mùi, mặc dù người râm ran rã rượi, ông lớn cũng lên dự đám đầy tháng của cháu ngoại. Ông mang theo một cây mai vàng nhỏ, và đích tay mình đào một chiếc lỗ lớn trước sân nhà con rể, đặt nó xuống, lấp đất, và tưới táp cẩn thận, dặn phải chăm bón tử tế.


Mâm cỗ gồm con gà, đĩa xôi và nải chuối còn xanh cắt từ vườn nhà. Bà mụ quê lâm râm khấn:


– Trên bà Chúa sanh thai, dưới mười hai bà mụ… Xin hãy phù hộ cho thằng bé ăn nhiều, mau lớn.


Sau đó, hai thầy trò, bố vợ và con rể ngồi nhắm rượu trong vắng lặng. Người con rể không dám nói về cái chết của chú vợ, sợ làm gợi lên mối thương tâm. Quan đốc hỏi:


Bẵm[17] định đặt tên cho thằng nhỏ là gì?


Người rể kể lại câu chuyện lúc đẻ nó, ông nằm mơ thấy con cọp đen, và thưa:


Cứ theo điềm chiêm bao, con tính đặt tên quay nôi cho nó là thằng Beo. Beo với cọp thì bẩm thầy… cũng là một.


Quan Đốc xua tay:


– Không được đâu. Cái tên hệ trọng lắm chứ! Ở xứ mình thì beo có nghĩa là gầy túm lại. Mang cái tên đó nó lớn sao nổi. Thôi để tôi đặt cho. Hãy kêu nó là Hạm, hạm cũng là cọp, con cọp trong giấc mơ của Bẵm.


Thế là một tháng sau khi chào đời, thằng bé đã có tên thằng Hạm. Cha nó, trong những lúc thoải mái thường nói đùa là nó dám có cái tướng tinh bạch hổ của Tiết Nhơn Quý, hổ tướng đời nhà Đường bên Tàu lắm.


Rồi nó cũng lớn lên, hồn nhiên như cây lúa trên ruộng đồng Thi Phổ, bằng giòng sữa và lời ru ngọt ngào của mẹ, bằng tiếng cầu kinh; và sau này, giọng ngâm thơ của cha, bằng mồ hôi tưới xuống ruộng của anh Cả.


Lên bảy tuổi, Hạm mới biết lờ mờ về cái thôn xóm bé nhỏ của mình, nơi nó sinh ra và lớn lên.


 


2. THẰNG NHÃI CỦA RUỘNG VƯỜN


 


Đó là làng Thi Phổ nằm ven quốc lộ I, cách thị xã Quảng Ngãi chừng vài chục cây số về phía Nam, với cánh đồng nhỏ nhưng màu mỡ nhất tỉnh mà cha nó thường tự hào là Đồng Nai con. Bấy giờ làng mới có vài cái nhà ngói là nhà ông Bác Tiên, địa chủ giàu có nhất vùng và từ đường[18] ông ngoại nó. Nhà thờ ông lớn đặc biệt được làng cấp cho hai sào đất thổ cư để lập vườn và xây nơi thờ tự. Thi Phổ nổi tiếng bởi một cái chợ họp buổi chiều, chỉ gồm ba bốn dãy lều tranh xiêu vẹo được chống đỡ yếu ớt bằng những cây cột tre lỏng khỏng.


Bạn hàng ngồi chồm hổm, ầm ĩ léo nhéo, la hét bán buôn trên nền đất thó hủng hiu. Chợ đông từ xế bóng cho tới chạng vạng tối. Nhờ chỉ có cách biển Cà Đó về phía mặt trời mọc và cách núi Dàng ở phía Tây đều dặn chừng vài giờ đi bộ nên các tiều phu đen đủi từ miệt rừng và những bà vợ dân chài, được gọi là nậu rổi có thể gặp gỡ nơi đây hàng ngày; sau khi kĩu kịt trên vai những gánh cá thu, cá ngừ tươi rói hay những bó củi khô cằn để đổi lấy những lon gạo mống chiêm đỏ lứt, những thúng khoai lang khô xắt mỏng[19], những mớ mắm cá cơm, mấy cục đường cát đen còn nồng mùi mật, hay hào phóng lắm mới là một khúc vải tám vừa đủ cho một bộ áo quần bà ba mà mỗi người phải hai, ba năm mới một lần dám hoang phí may mặc vào dịp Tết.


Ngộ nhất là ngay trong gia đình nhà Hạm cũng là nơi hội tụ một cách tự nhiên và êm ả, đầy đủ cái không khí rừng sâu bể biếc đó: hai bà cô của nó, cô Chín Toàn và cô Mười ba Lãnh, đều là con bà thứ thất của ông nội nó, người chị có chồng làm nghề biển dã, và người kia làm dâu tận trên Nguồn. Mỗi lần về ăn giỗ, nhất là giỗ ông nội nó, đúng vào ngày mồng mười tháng Chạp âm lịch hàng năm, bao giờ cả họ cũng kéo nhau đi dẫy mả trước chánh kỵ hai ba bữa. Cô Chín mang về cúng những con cá chim ngon nổi tiếng của vùng biển nghèo quê chồng; còn cô Mười ba, những trái thơm vàng rực, những trái dưa gang mập ú. Đặc biệt cho bọn trẻ con như Hạm, bao giờ cô cũng có một túm sim chín mọng, cứ đưa vào lưỡi đã thấy tan ra ngọt lịm khắp người. Chúng nó reo lên: Cô! Cô ơi! Và hát:


Chiều chiều mượn ngựa ông Đô


Mượn dù chú Xã đưa cô về Nguồn…


Và nhiều khi du côn hơn:


Cô lô, cô lốc


Xúc ba mủng ốc, đổ đầy người cô


Cô cũng chỉ nhe miệng cười, hàm răng hô vẩu thật hiền, và cô mắng yêu: Cha bây! Không hiểu cái người cô nào trong cổ tích mà sang thế, đám cưới có ngựa ông Đô, có dù chú Xã đi đưa.


Nó chưa bao giờ được lên rừng xanh để thăm quê chồng của cô Mười ba mà nghe nói là phải qua khỏi chợ Đồng Mương, leo cầu sắt sông Thoa. Cũng theo lời cô kể, như một thiên đường trong mơ của trẻ thơ, luôn có những cây sim bông tím ngắt, trái chín mọng cứ chìa ra bên đường đi, lúc nào cũng vừa với tầm tay hái của con nít.


Cô Ba ở tận trên kia!


Tụi nhỏ hay kháo nhau như vậy, mỗi hoàng hôn về, sẩm tối mùa hè bắc chõng ra sân nhìn sao trời lác đác hiện mà chỉ tay về phía đỉnh núi Dàng lốm đốm những chấm lửa cháy rừng.


Dạo đó Thi Phổ, với những rặng tre cằn cỗi thả lá rụng đầy những con đường mòn trong xóm nhỏ, chừng như yên ngủ tự ngàn đời, đã bắt đầu có những xôn xao nhè nhẹ. Thế chiến thứ hai sắp bùng nổ.


Nhà Hạm, như cha nó thường tập Kiều để tự vịnh: Gia tư nghĩ cũng thường thường bậc trung[20]. Đó là một ngôi nhà tranh ba gian, hai chái theo kiểu quê miền Trung, với những vày kèo và những hàng cột thật to bằng gỗ lim lâu ngày lên nước bóng loáng, đứng táng trên những tảng đá hoa cương tròn như mặt trăng.


Cha nó kể là nội nó khởi công làm nhà này suốt ba năm liền, thợ thầy có tới hai, ba mươi người đêm ngày đào móng, đục đẽo, chạm trổ… trai bạn ăn uống thâu đêm hát hò không ngớt.


Trần nhà là một lớp ván, trên phủ một lớp đất sét dày cả gang tay rồi mới đến mái tranh, mùa đông kín và ấm áp còn mùa hè thì im ắng mát mẻ. Ba gian nhà giữa không những quan trọng mà còn thiêng liêng nữa, có hai gian cửa bàn khoa với những con lơn chạm trổ công phu, quanh năm đóng kín mít, chỉ được mở ra vào những ngày giỗ, Tết. Sát vách, ba bộ ván rầm đặt trên sáu hàng ngựa gỗ để kê ba dãy ghế thờ, chốn tôn nghiêm nhất: hương án đông đảo dân cư hơn cả, chen chúc những cặp chân đèn, nậm rượu, độc bình, bát nước, ống hương, đặc biệt những chiếc đỉnh trầm bằng đồng, nắp có con kỳ lân nhỏ đang nhe răng đe dọa ma quỷ, canh giữ chốn thâm u này. Thấp hơn và đứng giữa là chiếc ghế cơm, nơi biện các món ăn dâng cúng mà cánh đàn bà con gái của cái họ Nguyễn Văn nhà quê nhưng nhiều tự hào này thường khoe tài nấu nướng trong lũ chén tô dĩa nhỏ xíu chồng chất nhau trên chiếc mâm đồng bao giờ cũng được đậy bằng một cái bánh tráng nướng vàng.


Trong cùng, ba chiếc khán thờ sơn son thếp vàng, có hình lưỡng long triều (chầu) nhật nguyệt, ngọn đèn dầu lạc vừa đủ tiết ra một thứ ánh sáng xanh lè, tăng vẻ âm u cho hai cặp thần chủ của ông bà nội và ông bà cố, nó cũng tin chắc là phảng phất đâu đây để theo dõi và phù hộ con cháu.


Sự tử như sự sinh, phải thờ phụng người chết như khi còn sống…, cha nó thường dạy vậy.


Chiếm lĩnh vị trí cao vọi nhất nhà là một chiếc trang lớn, cũng sơn son thếp vàng, nơi đó cha nó thờ tượng một vị tướng quân mặt đỏ râu dài oai nghiêm đứng giữa một Châu Xương thật dữ dằn đang lăm lăm thanh long đao sáng quắc tương phản với một Quan Bình nhu mì như một thư sinh đang dắt một con ngựa không có vẻ gì là có thể đi ngày ngàn dặm như trong truyện Tam Quốc mà cha nó tin thật, và mỗi lần kể lại cho anh em nó nghe, lại một lần bày tỏ sự kính phục và say mê.


Cả họ nhà nó đặc biệt trọng vọng ba bức hoành phi, chữ Hán cẩn bằng vàng thật, treo trên trần nhà, bức hiếu nghĩa mà triều đình ban tiết hạnh khả phong cho bà cố nội nó năm Đồng Khánh thứ ba. Vào những trưa hè thôn quê yên tĩnh, hai hàng cửa gỗ đóng kín mít, ba gian nhà thờ tối om, ngọn đèn leo lét phản chiếu một cách yếu đuối ánh sơn thếp và các hình Mai, Lan, Cúc, Trúc trên các cặp liễn gỗ xà cừ, tất cả âm u lạnh lẽo. Dù nắng rực lên ở bên ngoài, nhưng nếu bị người lớn sai đi lấy một vật gì nơi đó, Hạm cũng cố so bì để chèo kéo cho được Chót, thằng em út kề nó, cùng rón rén leo qua ngạch cửa cao nghều từ chái đông chạy nhanh vào, trống ngực đập thình thịch, định thần một chút, chớp vội lấy rồi thoăn thoắt lỉnh ra, cảm giác lạnh ướt của nền đất như còn thấm vào gót chân trần.


Cha nó nói là bao giờ làm ăn được thì sẽ bỏ tiền ra tráng xi măng cái nền và xây tường lợp ngói. Nhưng, giấc mơ này, mãi cho tới năm sáu mốt tuổi nhắm mắt lìa đời ông cũng không sao thực hiện nổi. Bìa phải vườn nhà có cái giếng con sâu vài sải tay, thành bằng đá tổ ong đã nứt nẻ lâu đời, nước mát lạnh và ngọt lịm, có thể thòng dây dừa cột mo cau thả xuống múc lên, uống ừng ực ngon lành. Rặng tre già sau nhà, cha nó không bao giờ chặt, để rậm rạp làm hàng rào, nói là chắn bớt cái rét mướt cơn gió bấc của vùng này, lạnh cắt da những đêm đông, nhất là nửa khuya về sáng.


Mỗi năm, tùy tình hình ruộng nương và mức độ dột nát, mái tranh được lợp lại một phần sau các vụ lúa, nhất là tháng Tám khi những giọt mưa thu bắt đầu rả rích mấy hôm. Những cây mạ non trên nóc nhà nẩy mầm từ các hạt thóc lép còn lún phún trông thật thương cho cái vẻ mượt mà chóng qua vì cuộc đời quá ngắn của chúng.


Sân nhà nó chỉ nhỏ bằng bàn tay, được giới hạn bởi hè nhà trên ở phía Bắc và hè nhà ngang ở phía Đông. Nhà xây về hướng Đông Nam, ngõ vào có mái lợp và hai cánh cổng gỗ. Hàng rào trước là những bụi trúc mọc dày theo kiểu:


Liêm ngoại trúc ảnh cao


Gia trung khách thường hữu


(Ngoài thềm bóng trúc cao. Trong nhà khách thường có) của những nhà nho xưa, vốn lấy loài cây này làm tượng trưng cho người quân tử (tiết thực tâm hư), nghĩa là mắt thì thẳng mà lòng luôn rỗng lặng, vô tâm.


Bên ngõ có một cây đào, chẳng bao giờ thấy ra trái nhưng luôn được chăm sóc vì trùng tên với gia chủ. Ngoại trừ một chiếc ao con có ống lù thông với ruộng Bầu Xuân ươm nước quanh năm trước nhà, vạt đất nhỏ bên giếng thường trồng rau muống và bắp đậu còn thì cả vườn chỉ trồng cau. Hồi còn nhỏ, Hạm thích nhất là những cây cau, không những vì thân chúng mốc thếch vươn lên, luôn luôn mang dáng dấp những người con gái kiên nhẫn đợi chờ mà còn vì ngọn cau bao giờ cũng là nhà của họ hàng nhà chim sẻ lúc nào cũng rủ nhau về chích chích lắm lời ồn ào nói chuyện, cãi vã nhau, làm tổ và sinh con đẻ cái đông đảo bằng đầy đủ vật thực như: chuồn chuồn, châu chấu, rơm rạ trong mùa nắng ráo tháng Ba.


Là thằng bé gầy đét, đen đúa và xí trai, hồi chưa tới tuổi đi học, Hạm sống gần như suốt ngày trên những con đường xóm, trên những cây ổi còi. Góc ruộng nào có con cá lia thia xanh vừa nhả bọt trắng làm tổ nó đều biết rất rõ. Trưa nào nó cũng trốn nhà lên bến Đình vùng vẫy trong dòng nước đục ngầu, đầy phân trâu của con sông Cầu Đập nhỏ bé, bơi qua bên kia sông cùng lũ nhóc xóm Bầu lùng tổ chim hoặc bẻ ngô trộm. Ổ chim dồng dộc trên cây bưởi nhà ông quản Lưu đã nở được mấy con, còn bụng cứt hay đã rụng râu mép[21], chú chim sẻ nào trên bẹ cau vườn nhà đang bắt đầu đâm lông cánh? Chỉ cần nghe những tiếng kêu chim chíp từ xa vẳng lại, Hạm đã biết đó là loài chim gì, đã đến lúc phải nhẹ nhàng như một con rắn leo lên mà tóm gọn lấy để sau đó ngồi chờ dưới sân mà chứng kiến một cách thích thú mẹ chúng trở về nhìn cái tổ toang hoang mà khóc than một cách tuyệt vọng. Loài vật cũng có tình mẫu tử.


Hồi đó Hạm cũng có một con chim sẻ, con chim độc nhất trong một chiếc tổ ngay dưới mái tranh nhà nó. Hạm nhai gạo sú với nước bọt của mình, nên lớn lên dù được thả ra, con chim cũng không bay đi mà cứ quẩn lấy chân Hạm. Đứng ở xa, Hạm chỉ cần huýt sáo miệng một cái nhỏ, là con chim chíp chíp đáp lời và bay liền đến đậu ngay trên đôi vai trần của thằng bé khẳng khiu, khiến nó sướng rơn người. Vậy mà, chỉ một lần mê mải đánh đáo, con chim bị đứa nào ăn trộm mất, khiến nó ngẩn ngơ nhớ tiếc như đứa mất hồn. Cha nó đã có hai câu thơ vịnh rằng:


Đánh đáo một giờ mất con chim


Thất tình ngơ ngẩn biết đâu tìm.


Bốn anh nó, ngoại trừ người anh cả sau khi đậu cái bằng Tiểu học yếu lược đã bị cha nó bắt ở nhà trông coi việc ruộng vườn, hương lửa cho ông bà. Anh Sáu Diễn học trường huyện, nổi tiếng giỏi và ngoan, đỗ Rime (Primaire)[22]. Thầy trợ Đức, tiếc cho tài học nếu phải dở dang, bèn khuyến khích cha nó và đích thân viết thư giới thiệu với cụ Hiệu trưởng trường Hồ Đắc Hàm ở Huế để được nhận vào lớp đệ nhất niên, với một nửa học bổng. Anh Bảy Xung còn ngồi ở năm áp chót bậc Tiểu học tại Thạch Trụ, tức Phủ Cũ Mộ Đức cách nhà mười một cây số. May mắn có người chị con ông cậu ruột lấy chồng tại đấy nên cũng không mấy tốn kém. Thế là nhà Hạm chỉ còn ba anh em kề nhau: nó ở giữa, anh Mười Xòn và em chót nó đều cách nó mỗi người hai tuổi. Ruộng đất của cha mẹ nó chỉ còn chừng năm, sáu khoảnh, tổng cộng chừng ba mẫu Tây, hầu hết là ruộng hương hỏa, túng bấn lắm thì có thể mang đi cầm cố tạm một vài mùa nhưng tuyệt đối không được bán. Cho nên tuy có tiếng là nhà làm nông nhưng việc cày bừa cấy nhỏ, làm cỏ, bón phân tát nước đều phải mướn. Cũng may trong nhà có chú Khôi là người bà con họ xa giúp việc trông coi. Chiều tối, chú ngó gió trông mây, tiên đoán thời tiết không sai một ly, để trình với mẹ nó cắt đặt, kêu người làm. Sáng tinh sương mẹ đã dậy gọi chị Tám Hỳ, con cô Hương nó nhóm lửa nấu cơm cho trai bạn ăn. Hồi đó, con trai, con gái các gia đình, lên mười bốn, mười lăm tuổi, nếu không đi học, thường được gửi ở nhà bà con để được dạy cho việc nấu nướng, dọn dẹp và lời ăn, tiếng nói. Dưới ánh bếp chập chờn, những người dân cày ngái ngủ khỏi phải nhìn cái gì trên chiếc mâm gỗ chỉ có độc tô mắm cá cơm muối thật mặn còn nguyên con trộn với bí đao. Họ ăn thoăn thoắt, ngon lành chỉ một thoáng đã hết sạch cả một nồi ba cơm gạo đỏ lức. Họ cắn những trái ớt chín, to mọng kêu bùm bụp, vừa hít hà vì cay xé miệng rồi xì xụp uống hồng hộc một hơi những bát nước chè tươi đặc quẹo, nóng hổi. Xong, họ quầy quả chụp nón lên đầu, tất tả ra ngõ.


Từ nồi cơm của trai bạn, bao giờ mẹ cũng dành sẵn cho ba anh em nó mấy chén. Anh nó ăn trước rồi ôm vở đến trường cùng lúc với đám trai cày thợ cấy ra đồng, giữa lúc tiếng trống trường làng từ xa đang hối hả kêu gọi những anh học trò trễ nải nhất. Em nó thì còn quá bé. Thức dậy, nó ung dung lấy chén đũa ăn sáng, ung dung lân la tới chỗ cha nó đang tự pha trà độc ẩm, nó nhón lấy một chung trà giảo[23], dù đã pha tới nước thứ ba nhưng vẫn còn chút hương vị thoang thoảng của mùi thanh tâm liên tử mà cha nó thường ca ngợi.


Nó lẳng lặng chớp lấy một chung[24] khỏi phải lễ nghĩa gì. Cha nó chẳng la rầy, chỉ biết phì cười, có khi ông còn lấy làm thích thú với đứa con từ bé vốn rất vô tâm, mà làm thơ đùa nó. Thơ rằng:


Thằng Hạm sướng bây ơi


Sớm mai ngủ dậy, xổm ra ngồi


Cần rần lên xuống xơi cơm lức


Lẩn thẩn vào ra nhậu nước nôi.


Lẽ ra là phải nhậu nước trà, nhưng cha Hạm nghĩ rằng: là rể quí của một vị Thủ khoa, không lý gì một người chữ nghĩa đầy mình như ông mà chịu có một câu thơ lạc vận. Cho nên bài tứ tuyệt này của ông phải kết thúc như thế.


Hạm ra đời đem tới cho mẹ một trận đau thập tử nhất sinh dai dẳng hàng năm nên hình như nó không được mẹ thương như với anh Mười anh trai kề nó và em Chót em út nó. Anh Mười đã được may cho tí áo quần tươm tất và bắt đi học rất sớm. Em Chót thì vừa ra khỏi nhà đã được mẹ ơi ới kêu về vì sợ nắng trưa. Hạm chỉ độc có chiếc quần xà lỏn đen ngả màu xanh chàm. Người ta mặc nó với những cơn nắng gắt ngoài ruộng vườn. Nhưng nó đã có người bạn chí thiết là Thọ, cùng tuổi, con người anh họ nó, ở sát vườn nhà. Thôi thì hai đứa tha hồ bới đất tìm giun, uốn kẽm làm lưỡi câu, nhổ cây trúc trong hàng rào làm cần, hai đứa lang thang tha thẩn như những bóng ma trên bờ mương ruộng lúa gần Vũng Sim, cây dâu đất là vùng ao, hồ nhỏ trong làng. Trời càng đổ lửa trưa hè, lũ cá trê, cá lóc, cá rô, cá mại vừa lớn lên trong mùa khô, càng phải nhóm về những vũng nước ngày một thu hẹp cạnh các ao đầm và bóng cây râm mát. Nhìn một chiếc bong bóng nhỏ âm thầm trồi lên từ đáy nước, Hạm đã biết đích đó là một chú rô trai trẻ háu ăn hay một chị cá tràu trưởng thành thận trọng. Nó sẽ dìm phao cho đúng tầm mức để khơi gợi sự thèm muốn của đối tượng. Kìa! Chiếc phao đang động đậy. A lê hấp, chiếc phao bị rút xuống. Hạm nhanh tay giật, một gã cá rô mập bự bằng hai ngón tay đang kịch liệt vùng vẫy trên bãi cỏ non. Cuối cùng chú không còn chịu đựng nổi sự đau đớn của chiếc ngạnh bén càng lúc càng đâm sâu vào mang. Chú tuyệt vọng nằm yên chịu trận, chờ Hạm đến từ tốn tóm gọn ơ rồi nhẹ nhàng bỏ vào chiếc đụt tre có trét dầu rái dộng đầy nước. Chú rô kinh hoàng vì vết thương và cảnh trí lạ, nhưng cũng đã hơi an tâm nhận ra bên cạnh mình một số đồng loại và họ hàng, cả những chú cá mại, cá cấn bụng đỏ chỉ lớn hơn hạt bí ngô một chút đang ung dung bơi lội.


Cứ như thế, dù có chiếc nón cời trên đầu, da nó vẫn sém đen, chân mãi lội trong bùn, mồ hôi tươm ra nhễ nhại tanh tưởi. Nó cười nhe hàm răng vàng khè đóng cả gánh bợn cơm, vừa đắc ý lắc lắc cái đụt, vừa kêu thằng cháu còn mê mải chú mục nhìn các đợt sóng lăn tăn của ao tù làm dao động những lá tre già nổi phiêu bồng rải rác đó đây:


Thọ! Về thôi. Bi giờ tụi nó sắp dắt bò ra bến rồi.


Thế là hai đứa cuốn nhợ, xách giỏ theo con đường đất lồi lõm dấu chân trâu lần về xóm. Một con cu gáy đậu trên cành cây cao nào đang gù. Trước nhà nó, cây tử kinh đang mùa hoa nở đỏ. Không biết có phải vì câu chuyện ba anh em họ Điền[25] không, nhưng cha thường nói: Kinh tử hoa lấm tấm, không đỏ gắt như đứa khoe khoang mà tụ thành chùm, sum nẫm như anh em họ hàng thương nhau. Nhất là hoa trổ giữa mùa nắng hạ khô cháy tháng Năm, thật giống cung cách của người quân tử, cảnh đời càng cay nghiệt, tấm lòng càng bình thản tỉnh tươi. Và ông ngâm:


Tháng Năm trưa nắng đón


Một cánh chim xa về


Hỏi thăm gốc kinh tử


Đã mấy lần ra huê?


Hồi đó, Hạm chẳng hiểu gì. Nó xổ cá vào cái ảng bể. Xong, nó cứ để nguyên chân cẳng đầy bùn đất mà chạy vào nhà bếp. Cả nhà đã ăn trưa và đi ngủ cả. Ngự trị nhà bếp, với ba bức vách đất xù xì ám khói là một chiếc giường tre lớn mà vạt là những thanh tre to bản được kết nhau bằng những sợi dây giang, nơi cư trú an toàn của lũ rệp đã sinh sống ở đó hàng mấy trăm thế hệ. Một cái treo nang bự tổ chảng, bốn quai cột dây dừa thòng từ đòn dông nhà xuống, trong có rá cơm mà bao giờ mẹ cũng chừa sẵn cho nó chừng ba, bốn bát đã khô quéo, nguội lạnh tự bao giờ. Trong cái om đất, một con cá nục mốc thếch, to bằng ngón tay cái đang nằm sóng sượt cô đơn giữa chút nước mắm kho mặn vẩn đục và lều bều những xác ớt. Nó dùng bữa ngon lành theo cái lối nam thực như hổ mà cha nó thường ca ngợi, thoáng chốc đã hết sạch. Rồi nó đủng đỉnh đến chỗ ba ông Táo đang yên phận đội chiếc om đất. Nó chắt cạn nước chè xanh còn ấm từ đó ra cái gáo dừa rồi tu một hơi ừng ực. Nói vậy chớ không phải bữa nào cũng có con cá nục kho mặn với bốn lưng cơm đâu. Thường thì chỉ có mắm cái muối bí đao mặn chát và cơm thường phải độn ngô khoai. Nhà nó thuộc loại khá giả, dân trong xóm thì củ mì là món ăn chính quanh năm.


Sau này lớn lên, được đi học hành, rồi cũng đỗ đạt, nhớ lại thời thơ ấu, Hạm thấy rằng một con người vẫn có thể phát triển trí óc và thân thể, bất chấp những tuyên bố nghiêm túc của dinh dưỡng học. Cuộc sống tự nhiên, quê mùa, im lìm không hề đếm xỉa tới những chất bột, chất đạm, chất béo và số calori để lớn lên như trong sách vở sau này. Nó chỉ có một chế độ ăn uống cực kỳ đạm bạc như thế suốt thuở niên thiếu.


Những buổi trưa như vậy, nếu Thọ bị cha nó kêu về ăn đòn ít roi rồi hoặc sai một việc gì, như lùa đàn vịt lên bến Chùa chẳng hạn, thì Hạm trơ trọi một mình. Buồn tình, nó rón rén lên nhà trên, mò đến chiếc phản gõ kê trước bàn thờ nội nó, như một thằng kẻ trộm tinh khôn và cẩn thận, sờ soạng để khỏi làm thức giấc cha nó, rồi nó êm ái nhẹ nhàng ghé đít nằm sát mí, ngay dưới chân ông.


Thoạt đầu, nó nhìn lên trần nhà: bộ lồng bản chạm khắc công phu bằng gỗ, cảnh cá chép hóa rồng, cảnh long mã phụ đồ[26]… Cuối vày kèo có chạm hình một đóa cúc thật to và một con chim đậu trên đó, nó nghĩ giá là một con chim thật thì hay biết mấy. Vẩn vơ một chặp, nó ngáp, hai mắt ríu lại, chìm vào giấc ngủ.


Xế chiều, cha nó thức dậy, ông vừa lòng trông thấy thằng nhỏ ngoan ngoãn nằm co ro theo thế cẩu ngọa, ngủ nằm giống con chó, mà ông từng thích thú đọc trong sách tướng số, miệng nó nhễu đầy keo. Ông nhẹ nhàng kéo nhích nó vào trong cho khỏi té và rồi nó cũng thức dậy sau đó ít lâu. Bóng những cây cau đã đổ dài trong vườn rải rác bông trinh nữ, nó lại thơ thẩn đi tìm bạn. Chúng nó chơi trò đố lá, chia làm hai nhóm, thi nhau tìm kiếm khắp bờ tre, bụi cỏ, những loài thảo mộc bé nhỏ, hữu danh và vô tên tuổi, mọc hoang dại và cũng bằng những mảnh đời riêng lẻ, kỳ bí: những cây thù lù, bọ hôi, dền cứt gà, thài lài, rau đắng, rau sam… có khi trong trò chơi này chúng còn thu được những thứ lạ, rất có giá, như những con dế cơm béo ngậy, những con nuông kiến giương trong sọ dừa, những quả khế chua còn non, những huê mít nhỏ phủ cám vàng. Tất cả có thứ không cần nhóm lửa lá khô thui nướng, đều được chia cho nhau nhai rào rạo với muối. Nếu chúng may mắn lấy đá chọi chết được một gã rắn mối, kỳ nhông gì đấy là một bữa tiệc to.


Ôi tuổi hài đồng của Hạm, không được nuông chiều, không phong gấm rủ là nhưng không bị kiềm chế và chịu một nền giáo dục khắt khe quá sớm đó đã khiến nó có thể mặc tình cùng lũ bạn trong xóm ra nằm ngoài gò mả những chiều quê yên tĩnh, nghe tiếng giun dế thở than, nhìn gió thổi qua cánh đồng lúa xanh rập rờn dợn sóng. Xa xa là chân trời màu thiên thanh với những áng mây trắng thình lình nức mụt bay la đà.


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








[1] Kinh sách của Trời, nghĩa của Đất, luật tắc của vạn vật, lề thói của nhân dân, tất cả như mưa mùa Xuân, sương mùa Thu, hòa diệu như rau Tần trong thơ Quốc Phong, rau Vỹ trong thơ Đại Nhã Kinh của Kinh Thi.




[2] Thập: chức coi mười dân phòng trong xóm, ngày xưa.


 




[3] Người học Nho rảnh rỗi, ẩn dật.




[4] Tên núi ở Tàu, nổi tiếng vì có loại trà cực ngon.




[5] Tên loại ấm trà Tàu cực quí.




[6] Tức Quảng Nam, Quảng Ngãi.




[7] Em ruột ông làm chức Chuyên biện trong làng.




[8] Tức cụ Phan Đình Phùng, thi Đình, đỗ đầu.




[9] Chỗ vua ở, qua 9 tầng cửa, gọi là Cửu Trung. Xa giá là xe của vua đi. Đây chỉ vua Hàm Nghi đã chạy ra Quảng Bình năm 1885.


 




[10] Lệnh của quan, từ huyện trở lên, gọi là trát.




[11] Nó tuổi Ngọ (1930, mẹ nó tuổi Dậu 1897). Các năm Tí, Ngọ, Mẹo, Dậu được tin là Tứ hành xung.




[12] Tức quan tài, hòm bằng gỗ để liệm, chôn người chết, có chữ Thọ.




[13] Thượng du Quảng Ngãi, nguồn của sông Vệ.




[14] Lục vị: sáu vị thuốc theo đông y là cơ bản của người, gồm: Trạch tả, Hoài sơn, Mẫu đơn, Táo nhục, Thục địa, Phục linh. Vị quân: vị thuốc vua, vị thuốc chánh. Trong toa thuốc Đông y, có vị chánh (quân), vị quan trọng (thần), vị hỗ trợ (tá), và vị phụ (sứ). Trong toa này Hoài sơn còn gọi là Chánh hoài là vị thuốc chánh.




[15] Đèn dầu hôi dùng xem sách, tiếp khách.  




[16] Do chữ Légionnaire: Lê dương, tức lính Pháp thực dân tuyển ở Bắc Phi.




[17] Bẵm là tên con đầu lòng của rể, ông lớn chỉ chủ nhà, cha đứa bé mới sanh.


 




[18] Nhà thờ.




[19] Xắt thành que vuông, dài chừng 7cm rồi phơi khô.




[20] Truyện Kiều (Nguyễn Du).




[21] Chim con mới nở, mép mỏ có màu vàng, khi gần biết bay, mép này rụng đi.




[22] Bằng Tiểu học thời Pháp thuộc.




[23] Trà đã pha đến nước thứ ba.




[24] Còn gọi là chén tống, to hơn, để chuyên nước trà từ ấm (bình) sang, rồi chia cho các chén nhỏ, gọi là chén quân.




[25] Trong sách Quốc văn khoa thư bậc Tiểu học thời Pháp có câu chuyện ba anh em họ Điền, lâu nay vẫn chung sống hòa thuận. Nhưng rồi nhà có xích mích, họ quyết định chia tài sản ra ở riêng, từ vườn ruộng, trâu bò… Nhưng lại có một cây tử kinh trước sân nhà, cũng phải chia. Sáng ra, người anh cả cầm búa tính chặt cây làm ba, nhưng nhác thấy cây đã héo úa, bèn quẳng búa, khóc mà rằng: Cái cây còn buồn chết biết phải chia xa, anh em ta nỡ lòng nào… từ đó, ba gia đình lại ăn thuận ở hòa như cũ.




[26] Cảnh một con ngựa đầu rồng, chở trên lưng một bức vẽ 8 quẻ của Bát quái.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 20.04.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 20.04.2018
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 10.04.2018
Những người đàn bà tắm - Thiết Ngưng 09.04.2018
Thiên sứ - Phạm Thị Hoài 30.03.2018
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 16.03.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 16.03.2018
Đêm Sài Gòn không ngủ - Trầm Hương 18.01.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 20.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
xem thêm »