tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23575712
Tiểu thuyết
18.08.2013
Ngũ Hà Miên
Bão

Phước Xuân bày rượu thết cả đoàn tùy tùng. Bấy giờ, gặp tiết thu trăng sáng, tất cả được mời ở lại Thi Phổ một đêm cùng vui chơi. Nhà Phước Xuân có nuôi cả một dàn nhạc và một đoàn hát bộ mà vở ông thích nhất là Ngũ Hổ Bình Tây của cụ nghè Đào Tấn ở Bình Định.


Nhường cho anh vợ cầm trống chầu[1], gia chủ tự đóng vai Địch Thanh, giọng ông cất lên, khi hùng dũng: Như ta đây, phụng thánh chỉ, bình nhung, ngã, Địch Thanh, Nguyên soái…


Khi tha thiết não nùng lúc vị tướng trong Thuyết Đường nầy sa cơ lỡ bước:


Mẹ tựa cửa buồn lòng triêu mộ


Con trông mây tủi phận thần hôn


Chỉ buộc sầu mấy mối


Dao cắt ruột trăm chiều…


Khiến cho cây tre bụi chuối ngoài vườn cũng phải kêu chàng gió heo may dừng lại chốc lát, đừng bỡn cợt nữa, để cùng say đắm lắng nghe, trong khi trời đất cùng buồn theo cảnh ngộ người trong truyện, buông những giọt lệ mưa thu tí tách rơi, giữa tiếng đàn bản, đàn bầu nỉ non than thở giọng Nam ai.


Vãn tuồng hát, họ cùng bày trò thả thơ. Ngày mai, vợ về quê. Mười dặm đường so với con bạch câu sức đi trăm dặm của mình thì chẳng xa xôi gì. Nhưng dẫu sao, với Phước Xuân cũng là cuộc chia tay. Bấy giờ, chàng gieo một bài thơ nôm tả cảnh biệt ly:


Nghìn dặm trông theo cánh nhạn vèo


Dùng dằng nửa ở nửa trông theo…


…Tử lý đó về tan giấc… (khuyết)…


Khuyết là chữ trong câu thơ cổ mà chủ nhân chừa trống cho khách lựa để lắp vào. Ai lắp đúng chữ ghi trong cổ thư thì được xác nhận là học rộng và trúng giải.


Phước Xuân đưa ra bốn chữ khuyết: Mộng, điệp, ngủ, hạ thì anh vợ lựa chọn đúng chóc: Mộng.


Ông ngâm lên: Tử lý đó về tan giấc mộng


Tất cả ồ lên sung sướng hoan nghênh khi Phước Xuân, nét mặt rạng rỡ, chìa ra cuốn sách cũ để chứng minh tài học của anh vợ và tằng hắng lấy giọng, ông ngâm: Tử lý đó về tan giấc mộng.


Ủa, sao mà lời ngâm của Phước Xuân man mác u buồn? Trăng mười bốn đã lên khỏi ngọn tre. Rượu thịt, đàn hát đã vãn. Đoàn kiệu võng lên đường đưa phu nhân trở về Tú Sơn. Phước Xuân xin mẹ tháp tùng vợ. Tới nơi, trăng đã ở đỉnh đầu, có tiếng một con chim kêu trong khe núi. Người ngựa vào trang trại an nghỉ. Ngày sau, anh vợ vui mừng cho mời các nho sĩ và phú hào địa phương tới chung vui, giới thiệu em rể cùng cử tọa:


Đây là Phước Xuân, danh sĩ đất Thi Phổ. Các vị đã gặp Phước Xuân cách đây hơn một năm trong ngày vu quy của em gái tôi. Vương Bột trong bài Đằng Vương các tự có câu: Ô hô! Thắng địa bất thường, thạnh diên nan tái[2]. Nay chúng ta gặp lại nhau, chẳng phải là cái duyên trời sao? Xin cùng nâng chén chúc mừng cho Phước Xuân sân hòe quế sắp nảy một cành non[3] và tỏ cho thiên hạ biết cái chí của chúng ta. Sóng thần trong đáy cốc Ngu Cơ còn mạnh hơn cả sức nhổ núi lay thành Hạng Tịch. A ha!


Đám đông hò reo tán thưởng, bưng nguyên cả hũ rượu ngon bằng gạo trì trì[4], đặc sản của vùng, mà cạn trong một hơi.


Được men nồng gợi hứng, trong chiếu rượu bỗng có một tráng sĩ nhảy ra trước sân, rút thanh bảo kiếm, hai tay nâng lên ngang mày cung kính quỳ xá bái yết cử tọa mà rằng:


Để tạ ân chủ nhân và chào mừng danh sĩ đất Thi Phổ, tôi xin đi bài Võ Quang Trung Thập Bát Kiếm[5] gia truyền, hầu giúp vui các vị.


Tức thì người đó đứng lên, múa thanh đao loang loáng làm thành một vòng nguyệt bạch che kín khắp người. Và trong cõi thái cực, âm dương tương phối đó, có tiếng vang như sấm vọng từ cõi xa:


Đây đường kiếm trừ tà khử bạo của Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ non một trăm năm trước.


Rồi im bặt. Mọi người nín thở theo dõi. Lại có tiếng dõng dạc:


Đa tạ thí chủ đã có lòng giúp tôi một cơn say trước buổi lên đường vào Nam thảo tặc!


Vầng hào quang biến mất, tráng sĩ hiện nguyên hình đầu quấn khăn, mình bận áo chẽn màu nâu, quần quấn xà cạp đỏ, nghiêng mình thi lễ lần nữa, rồi nhún mình nhảy ra cổng, mất dạng trong sự ngơ ngác kính phục của mọi người. Không sao, giây lát sau đó, cuộc rượu lại tiếp diễn. Thời đó, những anh hùng ẩn trong đám cỏ lau vụt đến rồi vụt đi là chuyện thường. Phước Xuân xin cho mang ra một dải lụa bạch và nghiên bút. Ông nhấc cây Tảo thiên quân[6], lông Bạch hồ ly[7] lên, vừa lim dim nhập định vừa đưa tay vẽ trong không gian những hình thù rồng rắn như mời gọi, cần khẩn thần linh giao hòa, tiếp cận với thiêng liêng. Rồi, bỗng mở mắt, ông lia bút thoăn thoắt trên trang ngọc la[8] đang trải ra trước mặt như một cánh đồng tuyết trắng mênh mông, chờ những đóa hoa xuyên tuyết xuất hiện. Cử tọa trố mắt nhìn, có người lẩm nhẩm đọc:


Sơn bất yểm cao, hữu tiên tắc danh,


Thủy bất yểm thâm, hữu long tắc linh.


Tư thị lậu nhất, duy quân đức hinh


Anh rể rạng rỡ hạnh phúc, lại rót ly đầy cho Phước Xuân:


Thật là phượng múa rồng bay. Phước Xuân danh bất hư truyền. Cảm ơn dượng đã mượn lời Đường thi bá Lưu Vũ Tích mà khen tặng tôi và trang trại Tú Sơn quê mùa này, cùng các bằng hữu ở đây. Lại xin cạn chén để kỷ niệm buổi tao ngộ chư tinh, văn xương võ khúc kiêm toàn thị hiện[9] hôm nay. Tất cả điều say khướt. Phước Xuân được dìu vào hậu đường đánh một giấc cho tới gần sáng. Ông trỗi dậy tìm nước uống thì anh rể cũng đã thức, đến bên giường vấn an. Phước Xuân hỏi:


Người tráng sĩ hôm qua là ai vậy?


Người nhà, em thúc bá tôi: Trần Quang Tú.


Quả là một kỳ nhân, anh ấy tính đi đâu?


 Tay đó võ nghệ siêu phàm, tính lại khảng khái, nửa đường thấy chuyện bất bằng chẳng tha. Chú ấy nghe nói người Tây dương đã lấy mất hai đầu nước ta, nay lại sắp vây hãm Đế đô, chú đã có lần tâm sự với tôi là nhất quyết sẽ ra đi.


 Để làm gì?


Tôi chỉ biết có vậy.


Ai ngờ đất Tú Sơn này lại có bậc nghĩa khí trùm đời.


Dượng không biết sao? Họ Trần chúng tôi là hậu duệ của tướng quân Trần Quang Diệu và nữ Đô đốc Bùi Thị Xuân.


Ủa, Nam sử thuật là năm Nhâm Tuất (1802), sau khi thất trận Trấn Ninh, nữ Đô đốc và Trần tướng quân bị bắt giải về Phú Xuân. Và Gia Long, đã thi hành án tru di tam tộc?


Đúng vậy, nhưng dượng có nhớ chuyện Tề Hoàn Công và người thợ sửa bánh xe không?


Cổ nhân đã chết, ta chỉ biết về người xưa bằng những gì truyền lại. Sử xanh còn đó, nhưng có lắm sự thật mà cả cộng đồng thừa nhận, vẫn không xác thực bằng tri thức lẻ loi của một cá nhân đã đích thân trải qua chứng kiến.


Như chuyện về tổ tông họ Trần Quang của bên vợ dượng chẳng hạn. Đúng là Gia Long đã truyền lệnh chém cả ba họ thuộc gia đình hai bên cha mẹ của Tướng quân và nữ Đô đốc.


Vua Gia Long tích lũy một mối căm thù từ tuổi mười lăm đến ngoài bốn mươi, kiên gan trì chí suốt phần tư thế kỷ bôn ba nhịn đói nhịn khát, có khi hàng tháng phải ăn củ chuối, cuối cùng mới diệt được nhà Tây Sơn. Triều đại Thái Đức và Quang Trung tuy có một vị chân chính anh hùng phát tích, nhưng về sau nội bộ xâu xé nhau, lại không ngăn được nạn ngoại thích, nên sụp đổ nhanh chóng. Cũng là lẽ thường!


Lấy oán báo oán, oán oán trập trùng.


Cái lưới trời lồng lộng, thưa mà không ai thoát được đó vẫn dành chỗ trống cho Nghiệp. Họ cha, họ mẹ của Trần tướng công và Bùi nữ đô đốc quả là bị tróc nã tới cùng. Họ điệu không sót một ông già bà lão, một hài nhi nào ra pháp trường. Nhưng vẫn có một bà thiếp có mang được người nhũ mẫu già quê ở đây dẫn đi trốn, theo đường tắt trèo đèo lội suối mà từ Tây Sơn thuộc vùng núi non Bình Định về đến đất Tú Sơn, Quảng Ngãi khỉ ho cò gáy này. Bà vú bắn tiếng tới hàng xóm rằng mình có con gái lỡ chửa hoang để phòng tai vách mạch rừng.


Và hổ phụ đã sanh hổ tử. Tới ngày nở nhụy khai hoa, cậu bé con cất tiếng chào đời, rống lên như cọp gầm, lớn nhanh như thổi, cho đi học thì cực kỳ sáng dạ, cầm tới cây côn, ngọn giáo thì chiêu thức được khai triển biến hóa khôn lường như đã tập võ từ hồi còn nằm trong bụng mẹ, được đặt tên là một trong số hai mươi tám vì sao của Nhị thập bát tú[10] : Chẩn, Trần Quang Chẩn.


Trứng rồng lại nở ra rồng và cần phải giấu gốc tích. Ngài Trần Quang Chẩn chính là Tằng tổ[11] của tôi. Không đi thi, tất nhiên. Ông ra sức khai khẩn vùng đất Tú Sơn này, bấy giờ còn hoang vu, giành nhau với hùm dữ rắn độc từng con suối, từng cụm rừng thưa. Nhờ được di truyền cái tài cầm quân cỡ Hàn Tín của tướng quân Trần Quang Diệu, phút chốc ngài trở thành một đại phú hào.


Đó, ông cố vợ của dượng. Kịp đến khi tôi chào đời cách đây hai mươi lăm năm thì chuyện xử lăng trì vị nữ Đô đốc anh hùng tại Tượng hổ đấu trường Phú Xuân đã trở thành cố sự xa xôi. Và cha tôi đã trình với làng, tổng để trở lại với phổ hệ họ Trần.


Phước Xuân kinh ngạc, hóa ra mình là cháu rể của một vị tướng nổi tiếng thời Tây Sơn, tử thù của Cao Tổ hoàng triều: Trần Quang Diệu.


Nhưng ông vẫn băn khoăn, không biết như thế nên mừng hay lo?


Mừng vì giọt máu của ông đang chờ được hạ sanh kia thuộc về một dòng dõi văn võ kiêm toàn. Lo vì chắc đâu đời đã hết những kẻ tiểu nhân muốn tấn công, moi móc gốc tích nhà họ Trần Quang này, mà tiếp tục oán thù truyền kiếp?


Lo vì nếu là con trai, có khi nó cũng nối cái nghiệp vùng vẫy trên chốn giang hồ như người tráng sĩ bên ngoại hôm qua, đã phiêu bạt nơi đâu, lang thang như mây gió trên trời, chợt là một hình tượng hùng vĩ, chợt như mảnh khăn tang, có đấy rồi lại không đấy:


Thiên thượng phù vân như bạch y


Tu du hốt biến vi thượng cẩu


                                                 (Đỗ Phủ)


Dịch:       Trên trời mây nổi như lụa trắng


Phút chốc biến thành con chó xanh[12].


Nắng chiều đã giục giã, Phước Xuân lên ngựa về Thi Phổ, trong lòng ngổn ngang trăm mối, có lúc lại bị ám ảnh bởi câu thơ mà định mệnh đã bất ngờ đưa vào cuộc vui văn chương hôm trước:


            Tử lý đó về tan giấc mộng.


Rồi việc đồng áng lúa bắp đầy kho, mía chuối xanh mượt trên nương, những cuộc vui với bạn bè, tiếng tơ tiếng trúc, những câu hát phú, nam xuân, nam ai trong tuồng Ngũ Hổ, Sơn Hậu… đã làm ông nguôi ngoai. Thoắt đó lại tới tuần trăng mới.


Một sáng, ông thức dậy định thả thuyền trên bến Đ ình, theo sông Cầu Đập thăm miếng ruộng xa ở ấp Điền Trang, thì có tin từ Tú Sơn ra báo, là phu nhân vừa chuyển bụng tối hôm qua. Mẹ được tin rất mừng.


Lập tức ông đóng ngựa, ra roi cho phi nước đại, chỉ mong sớm gặp mặt người vợ yêu...


Tới nơi ông thấy trong nhà đông đảo nhốn nháo. Nghe tiếng nhạc ngựa hối hả, như nôn nóng thiết tha, người anh vợ vẻ mặt buồn thiu, đã chạy ra lắc đầu:


Hư rồi. Cả hai mẹ con!


Phước Xuân như thấy mặt đất đang sụp dưới chân mình.


Hiền thê và đứa con trai đầu lòng của ông đã được đưa đi ngủ giấc vĩnh cửu ở Rẫy Tranh, thuộc ấp Ao Chòi, làng Tú Sơn[13] cách mộ cha bà độ mười bước.


Trung niên táng thê, nhất bất hạnh giả[14], ông lẩm bẩm:


Mình đã trả, trong thời gian ngắn ngủi của hơn một năm, cái món nợ tiền kiếp mà nhà sư bận áo bá nạp đã nhắn gọi trong giấc mơ.


Mẹ ông đau buồn, trở nên bệnh hoạn luôn. Cho nên sau tuần mãn tang vợ, ông đã tục huyền với một thiếu nữ họ Cao ở An Chỉ, xã Hành Phước, huyện Nghĩa Hành, Quảng Ngãi.


Suốt mấy năm mong mỏi và thất vọng kể từ khi vua Hàm Nghi phải xuất bôn ra Quảng Trị trong chính biến Ất dậu (1885), kế thất đẻ một hơi ba người con gái, khiến mẹ ông khổ sầu lo lắng ra mặt, nghĩ là cái nhánh họ Nguyễn Văn này trời cứ bắt hiếm hoi hết đời cha rồi tới đời con.


Thế là tiếng chuông mõ của mẹ lại vang lên hối hả cầu xin Trời Phật, đều đặn mỗi tối cho đến khuya. Ngày rằm, mồng một nào mẹ cũng cùng người dâu kế lễ chùa.


Thấy mẹ nhiều lúc ngồi tư lự bên thềm, đối diện với cái bóng nắng chiều đang hấp hối trên ngọn cau trước nhà, lắm lúc ông cũng nản công việc, nhiều khi bỏ cả cái thú đàn ca hát xướng, ngâm hoa vịnh nguyệt.


Không biết có Trời Phật thật hay không? Nhưng đến khi người dâu kế sinh nở lần thứ năm thì mẹ toại nguyện: bà đã có cháu đích tôn.


Cả họ mở hội ăn mừng, nam Nhâm, nữ Quý lại nhằm năm Thìn (1892), Phước Xuân giờ đã ba mốt tuổi, niềm hạnh phúc lớn lao mà đứa hài nhi gieo vào gia đình khiến ông như được tiếp sức bởi một luồng sinh lực vô biên. Nhân thôi nôi của bé, ông trồng một cây đào trước sân và dùng tên cây đặt tên cho con trai đầu lòng: Nguyễn Đào.


Quái lạ, cây đào này đứng lặng yên ngoài ngõ, nhìn con nước lũ hàng năm đến tháng Mười lại sủi bọt chảy tràn, ào ào trước sân, có khi hàng tháng liền.


Thân nó ốm, chẳng mấy sum suê cành lá, đặc biệt chỉ ra hoa mà không cho trái. Tháng Ba hoa rụng, bao giờ nhìn những cánh hoa đào rơi, ông cũng ngậm ngùi ngâm câu cổ thi: Tam nguyệt đào hoa liên thiếp mệnh. Dịch: Tháng Ba, hoa đào thương phận thiếp.


Thấy mẹ cưng cháu đích tôn, người dâu nở mày nở mặt với thiên hạ, ra sức phát huy cái cơ ngơi có sẵn, sắp đặt công việc cày bừa cấy hái qui củ và thu hoạch tốt đẹp.


Phước Xuân giao du rộng, cùng hai người phú hào đồng tuế trong làng kết làm tri kỉ. Họ chung tiền mua mấy mẫu ruộng để lấy hoa lợi mà nuôi cả một đoàn hát bộ tương đối lớn trong nhà, sắm đủ phường bát âm cùng áo mão y trang. Suốt ngày, tiếng trống chầu thùng thùng không ngớt, tiếng sênh phách, tiếng đàn nhị, đàn bầu và thập lục vang khỏi rặng tre, theo hơi gió xuống tận con đường cái quan mà bóng dáng những người lính Pháp, với gót giầy đinh đã bắt đầu xuất hiện.


Người bạn thân của Phước Xuân là Phạm Đồng Lâm ở xóm dưới may mắn chiếm khôi nguyên kỳ thi Hương năm Giáp thân (1884) và đã ra làm quan, từ Hậu bổ ở Sơn Phòng rồi đi Huấn đạo thỉnh thoảng về ghé thăm.


Ông Thủ khoa[15] thường đi bộ lên nhà bạn một mình, dép cỏ, áo vải thô. Họ cùng ngồi ở bộ trường kỷ trước nhà, uống trà và nhắc lại thời tóc còn để chỏm hoặc bình luận một chi tiết nào đó trong Tứ thư, Ngũ kinh[16]. Họ mặc nhiên không đề cập gì tới thời sự. Đồng Lâm có con trai, còn Phước Xuân muộn màng hơn, mới được một thằng bé kháu khỉnh.


Thấy mẹ và vợ bạn một mực sùng mộ đạo Phật, Đồng Lâm hỏi:


Chúng mình từ nhỏ theo học Khổng Minh nay anh tham cứu thêm được Thiền Lão[17], chắc có sở đắc gì mới?


Tôi thừa lúc nông nhàn đọc được Thiền Tông Chỉ Nam của vua Trần Thái Tông. Ngài nói: Đạo không phân biệt nam bắc, người thì có kẻ trí ngu, nên cái đạo của chư tổ cũng phải do Tiên thánh mà truyền bá ở đời. Do đó, tùy căn duyên mà ra phép ứng xử. Nhưng rốt lại cũng chỉ là một chữ Tâm. Khổng Thánh Tu, Tề, Trị, Bình.


Phật Tổ phổ độ chúng sanh. Đạo gia xuất thế mà nhiên hóa nhơn tánh[18], tất cả đồng nguyên ở cái thiện ý muốn một cõi sống tốt đẹp cho muôn loài và con người: Nhân tâm duy nguy, đạo tâm duy vi/ Duy tinh duy nhất, doãn chấp quyết trung. Dịch: Tâm người nghiêng ngửa, tâm đạo tế vi, phải biết nắm lấy cái tinh nhất, là trung đạo.


Đồng Lâm phe phẩy cây quạt mỉm cười, thầm thán phục cho tri kiến cao siêu của người bạn tri kỉ:


Tuyệt lắm, vậy mà nhà đại Nho, ông Hàn Dũ đời Tống, đã phê bình vua Lương Võ Đế: vì say mê đạo Phật mà bỏ việc trị dân, đến nỗi giặc nổi lên vây khốn, Lương Võ Đế phải chết đói ở Đài Thành, sao Phật không tới cứu? (Ngạ tử ư Đài Thành, phật bất chi cứu - trích Hàn Dũ).


Phước Xuân lâu lắm mới trở lại cái giọng hài hước của buổi thanh xuân, ông vỗ vào vai bạn:


Thì tôi cũng dựa vào câu ấy, mà giải nghĩa khác. Rằng: Võ Đế ngạ tử ư Đài Thành, Phật Bất Chi cứu. (nghĩa hóm hỉnh: Võ Đế chết đói ở Đài Thành có đức phật tên Bất Chi đến cứu, không chết).


Hai kẻ tri kỉ được một mẻ cười phóng dật. Thực ra họ giống nhau, dù một kẻ (Đồng Lâm) đang ruổi rong theo hoạn lộ, nói như lời Phan Thanh Giản: Đường mây cười tớ ham rong ruổi.


Còn kẻ kia (Phước Xuân) quyến luyến ở chốn sân vườn, thờ mẹ cho tròn chữ hiếu.


Một bên an nghỉ trong cái nghiệp của bậc sĩ quân tử đem quách sở tồn làm sở dụng[19] (Nguyễn Công Trứ), một bên an nhiên tự tại cho Karma dẫn dắt. Cả hai bên đều biết rằng, một trong những người đồng học của họ, cử nhân Lê Trung Đình đã ứng nghĩa Cần Vương, dấy binh chống Pháp, bị bắt, mang ra chém, bêu đầu ở bãi sông Trà Khúc.


Họ cũng biết Đình Nguyên[20] Phan Đình Phùng đang làm Ngự sử, đã dám đương nhiên giữa chốn Triều trung, sang sảng can ngăn Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết việc phế lập: Nhất giang lưỡng quốc nan phân thuyết/ Tứ nguyệt tam vương sự bất thường. Dịch: Một giòng sông (Hương) mà chia làm hai nước (Pháp và Nam Triều), chỉ bốn tháng mà phế lập ba ông vua[21] chịu bị đuổi về quê, và nay đã chiêu tập nghĩa sĩ kháng Pháp trong rừng núi Vụ Quang. Họ hiểu mỗi con người đều có cái phần chung, cái phần riêng, đồng nhất nhau ở tính người nhưng vẫn đặc thù, đặc thù đến độ đồng nhất cho mỗi cá nhân trong cái nhân loại ngày càng đông đảo này. Nhìn đứa con trai đầu lòng bụ bẫm của bạn trong tay người vú em, Đồng Lâm nói:


Thằng bé mắt sáng trán cao, vai ngang, dài đòn, tướng mạo khá lắm. Mấy năm nữa nếu tôi có được chút gái út, chúng ta sẽ làm sui nhé.


Phước Xuân thở dài:


Triệu Khang Tiết nói: Bất tri kim nhật ngã/ khước tác hậu lai thùy. Nghĩa là: Chẳng biết cái ta hôm nay, mai sau sẽ là ai; thì việc của một mai làm sao tính được. Huống chi là phải chờ tới mấy chục năm sau, chờ bạn sinh con gái rồi, nuôi nấng lớn lên đến trưởng thành? Nhưng giá được vậy thì quý biết bao, đem tình bằng hữu ra tình thông gia, chúng ta sẽ có chung một đàn cháu, chắt chít tới muôn đời. Chúng nó sẽ đầy đủ cả Khổng Mạnh, Thiền Lão đặc thù của nước An Nam ta, của Quảng Ngãi, của cái làng Thi Phổ nhỏ bé này.


Phải chăng, từ một lời hứa giữa bạn bè người lớn với nhau trong mùi hương mong manh thoảng bay và trong khoảnh khắc của một cuộc trà dư, mà ai cũng tin rằng đưa bé gái rồi ra sẽ ra đời, và cậu con trai của Phước Xuân, rồi ra sẽ là rể của quan Thủ khoa, vị hôn phu của một tiểu thư, chưa hề chắc là sẽ được sinh ra trên cõi đời. Nhưng bí nhiệm làm sao, khi niềm tin thổi sức sống vào một con người, một vật thể, chỉ có thể gọi là Karma.


Cậu bé trai đầu lòng của Phước Xuân, người tiểu chủ tương lai đang còn nằm nôi đó đã khiến sức mạnh cơ bắp của những lực điền tăng lên, đường cày sâu hơn, lúa sai hạt hơn, như Lưu Bị tìm được A Đẩu giữa rừng gươm giáo Tương Dương, đã đem lại bao nhiêu năm thần công lực cho hàng hổ tướng Quan - Trương - Triệu.


Nàng dâu chăm chỉ đảm đang, mẹ chồng từ hoà sức người sức của nhà Phước Xuân mùa sau gấp bội mùa trước, lúa chứa nghìn hộc trong vựa, tiền có vạn quan... Nhưng cốt cách của Phước Xuân vốn có mối liên hệ bí ẩn và thiêng liêng với nhà sư già đi chân đất, khoác chiếc áo bá nạp đủ màu, khâu từ các mảnh giẻ cũ của trăm nhà bố thí. Nên ông không cần cái tích lũy ruộng nghìn mẫu, vàng trăm lượng. Ông chưa hẳn là người giàu có nhất Thi Phổ. Vậy mà, có khoản đệ nhất đẳng điền[22] tên là Lỗ Cá, rộng chừng dăm mẫu, cách nhà vài trăm bước của người điền chủ gặp cơn gia biến phải bán, có thể được mua với giá rất hời. Ông đã từ chối khi người dẫn mối đến chào hàng. Ông nói:


Nhằm lúc người ta phải cơn hoạn nạn, mà kiếm món lợi, là bất nhân, ta không màng.


Tích điền dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng canh


Tích thư dĩ di tử tôn, tử tôn vị tất năng độc


Bất như tích âm đức, phú ư minh minh chi trung.


(Chứa ruộng để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đã cày. Chứa sách để lại cho con cháu, con cháu chưa chắc đã đọc. Sao bằng chứa cái âm đức mà gửi vào cõi u minh?).


Âm đức, nó là cái gì vậy? Phải chứa nó, gửi vào cõi u minh, làm gia tài cho đời sau, ông nghĩ vậy. Cho nên, gặp cơn thiên tai địch họa năm Thân (1896) giáng xuống miền Mộ Đức, ông đã xuất cả gia sản gần vạn quan tiền và năm trăm ang lúa mà phát chẩn cho dân nghèo. Năm sau vợ người bạn ông, Thủ khoa Đồng Lâm hạ sinh người con gái út. Vì công việc từ thiện đó, triều đình sắc phong Phước Xuân tước Đăng sĩ Tá lang nhưng hàng Tổng, người ta vẫn chỉ gọi ông là ông Bá Năm, giản dị vậy thôi. Nhà ông ở ngay bên đường cái quan (quốc lộ 1 ngày nay) gần chợ Thi Phổ, cách Hà Nội và Gia Định một quãng đường bằng nhau.


Khách bộ hành đường xa buổi đầu thế kỷ hai mươi ai nấy đều biết tiếng ông. Vì bất cứ người nào xuôi Bắc vào Nam, mà lỡ độ đường, thiếu lương thực hay không có chỗ nghỉ chân, đều có thể ghé nhà ông. Cơm cá nục kho mặn, rau muống chấm mắm cái, bát nước luộc vắt lát chanh vào làm canh, đạm bạc thôi, nhưng ai cũng có thể yên trí là sẽ được tạm no để ngủ một đêm, đặng sáng hôm sau lại khăn gói lên đường, trên cuộc bộ hành xa lơ xa lắc, có khi đầy bất trắc của mình.


Và bao giờ mỗi người cũng được tiễn chân bằng một ruột tượng gạo (độ năm ký) quấn chặt xung quanh bụng, vài tiền kẽm tiêu vặt. Nhất là người Thanh Nghệ, mà theo truyền thuyết, thủy tổ của ông, ngài Nguyễn Đăng Quang đã phát tích từ Nông Cống, đã theo Gia Dụ Hoàng đế Nguyễn Hoàng trong đám lưu dân đi tìm một bình nguyên mới cho dân tộc vào năm Mậu thìn,1558.


Ông còn sắm đầy đủ chén bát Nội phủ bịt bạc đủ dùng cho những bữa cỗ hàng mấy trăm người tại đình làng Thi Phổ mà sự đông đảo của cư dân về sau này phải phân ra làm hai xã.


Đoàn hát bộ của ông phục vụ cả đám đàn bà con nít mỗi năm ba bốn lần vào các dịp Tết, tế Thành hoàng, vào ngày giỗ cha ông và lễ hội rằm tháng Bảy ở chùa.


Con người đó xứng đáng để quản một cái gia phòng vừa sung túc, vừa lễ giáo với năm gái, ba trai đều được đặt tên cây hoa, chữ Hán có bộ Mộc là Đào, Lý, Đồng.


Đào giống cha, chí hiếu và ham học, hay theo phụ thân đến viếng quan Thủ khoa. Có lần ông Bá đến chơi. Quan Thủ khoa thử Đào, vờ thét gọi lính hầu trói bạn lại, Đào khóc xin chịu tội thay cha. Quan Thủ khoa cho là Đào có hiếu, lại càng dốc tâm kết làm sui gia.


Năm Duy Tân thứ năm, quan thủ khoa được đổi vào làm Đốc học Phú Yên. Người con gái út đã mười sáu tuổi, vu qui về nhà họ Nguyễn.


Hai năm sau quan Đốc trí sĩ hồi hưu, cũng là năm Thế chiến thứ nhất bùng nổ ở châu Âu, ông Bá Năm lại mộng thấy nhà sư đến đưa đi. Ông ngủ giấc bỏ đời năm năm mươi ba tuổi, không kịp trông thấy cháu đích tôn chào đời, chỉ một năm sau đó.


Tiền bất kiến cổ nhân


Hậu bất kiến lai giả


(Trước không thấy người xưa. Sau không thấy kẻ đến). Nhưng ông không rơi lệ như Trần Tử Ngang ngày xưa. Cho đến cuối thế kỷ hai mươi, khi một trong những người cháu nội của Đăng sĩ Tá lang Phước Xuân kể lại câu chuyện nầy thì bao bão loạn đã thổi qua đất nước ông. Đặc biệt, con cháu của thõng mắm treo đầu giàn vô cùng đông đảo, trôi dạt khắp cái tỉnh Quảng Ngãi nhỏ bé, khắp mọi miền quê hương nước Việt mến yêu và cả năm châu bốn bể.


Hạt gạo núi Ấn sông Trà, núi Dàng xanh xanh nhìn từ Thi Phổ, miếng nước sông Cầu Đập luôn mang dấu ấn Karma.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động & Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, 2013.


www.trieuxuan.info








[1] Trống lớn, đánh trong lúc diễn tuồng hát bộ.




[2] Trích trong bài Đằng vương các tự của Vương Bột, nhà Đường. Nghĩa là: Đất danh thắng không thường, bữa tiệc đông vui khó gặp lại.




[3] Ý nói quế đâm chồi mới, chỉ việc Phước Xuân sắp có con.




[4] Loại gạo đỏ nhưng cực kỳ thơm ngon, đặc sản của vùng Tú Sơn, Mộ Đức, Quảng Ngãi.




[5] Kiếm pháp 18 chiêu của vua Quang Trung truyền.




[6] Tên loại bút lông quí, để viết chữ Hán thời xưa.




[7] Bạch hồ ly: con chồn trắng.




[8] Lụa trắng như ngọc (la: lụa)




[9] Các vị văn võ đều giỏi, có mặt.


 




[10] Nhị thập bát tú: hai mươi tám vì sao trung cổ Thiên văn học của người Lạc Việt.




[11] Ông Cố, 4 đời.




[12] Vân: mây; cẩu: chó. Vân cẩu: chỉ cuộc đời biến đổi.




[13] Nay thuộc xã Đức Lân, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.




[14] Nghĩa: tuổi còn trai trẻ mà chết vợ, là bất hạnh nhất (cổ ngôn).




[15] Chức danh người đậu kỳ thi Hương ngày xưa, cử nhân đầu bảng.




[16] Tứ thư là bốn cuốn sách: Luận Ngữ, Mạnh Tử, Trung Dung và Đại Học. Ngũ kinh là năm cuốn: kinh Thi, Thư, Xuân Thu, Lễ và Dịch, bằng chữ Hán, là 9 giáo trình quan trọng của thư sinh ngày xưa.




[17] Thiền: Đạo Thiền, tức đạo Phật; Lão: đạo Lão.




[18] Bỏ cái tham dục của tánh người mà học theo sự thản nhiên, tĩnh lặng của thiên nhiên.




[19] Đem hết cái sở học còn lại (tồn) mà dùng (dụng) thi thố giúp đời.




[20] Đậu kỳ thi của Triều đình.




[21] Năm 1883, sau khi Tự Đức mất, ba vua Dục Đức, Hiệp Hòa, Kiến Phúc bị phế chỉ trong 4 tháng.


 




[22] Ruộng hạng nhất.


 



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
Biệt ly huy hoàng - Thanh Giang 30.07.2018
Tình yêu và lý tưởng - Thomas Mann 28.07.2018
xem thêm »