tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23610284
Tiểu thuyết
17.08.2018
Ngũ Hà Miên
Bão


Trên đường về Quảng Ngãi bằng máy bay qua Đà Nẵng, bao giờ chàng cũng ghé Francis. Anh đối với chàng rất tốt, thường giữ lại ăn trưa, có khi cho người vào tận sân bay đón bạn. Chàng rất thích món Spaghetty[1] gồm những cọng mì dài bằng mút đũa con, luộc chín xào thịt bò ăn với salade và cà chua mà bà vợ xinh đẹp của ngài Tổng lãnh sự ra tay nấu nướng một cách bài bản.


Mỗi khi như thế, Francis hay đùa:


– Em đã có gì cho giáo sư chưa?


Bà nhí nhảnh:


– Rồi, anh yêu. Em biết ổng rất thích spaghetty!- Và họ cùng cười ngặt nghẽo, trông khá hạnh phúc.


Nhưng tài nghệ nổi bật của bà là trang hoàng căn phòng khách nhỏ với vài bức tranh, một bộ ly chén uống trà thật tuyệt. Chỉ với ba gói Lipton (họ chưa có con), mấy muỗng café đường, chiếc ấm bạc nước sôi nhè nhẹ reo vui, chén sứ đời Minh gọi hồn cả một Trung Quốc cổ kính. Và bàn tay Tây phương với những ngón búp măng nõn nà khéo léo kia, có sự toa rập của mưa to gió lớn và không khí giá buốt tháng Mười miền Trung, bữa trà đạo trong nhà gây một ấn tượng nho nhã trái ngược với công việc mà hai bên đang theo đuổi. Ông muốn biết những suy nghĩ của người trí thức Phật giáo trước hiện tình. Còn chàng, cũng như Phước, người anh em bí mật, mong ước sao qua cuộc chuyện vãn, hiểu thêm những dự định của người Mỹ.


Nhờ mối thâm tình đó, sau này năm 1975, cũng bằng nguồn tin tình báo do chàng cung cấp, quân giải Phóng đã kịp thời và sấm sét đánh lấy Tân Cảnh rồi Tây nguyên, tới tấp tiến chiếm Phan Thiết khi sức lực phía miền Bắc cũng đã khước. Cục R đã yêu cầu Phước và chàng trả lời câu hỏi sinh tử:


– Nếu ta tiếp tục tấn công vượt qua vĩ tuyến bắc 12[2] thì mười lăm vạn thủy quân lục chiến Mỹ trang bị tối tân bằng tên lửa thế hệ mới đang áp sát ngoài khơi Vũng Tàu có tái can thiệp không?


Chàng đã thận trọng gọi điện đến Tòa Đại sứ Hoa Kỳ để biết chắc Lehmann[3] đang bận làm việc ở bàn giấy của ông ta với người bạn, người cộng sự viên thân tín cầm đầu CIA vào thời điểm đó: Albert Francis. Lehmann và Francis là cặp bài trùng, hai cặp vợ chồng này ở sát bên nhau tại đường Tú Xương. Trong Tháo chạy tán loạn[4], France Neff đã kể lại.


Lập tức chàng lái xe đến nhà Lehmann. Hai vị phu nhân của Phó Đại sứ và Giám đốc CIA Việt Nam đang lúi húi tháo mồ hôi hột tự đóng gói lấy đồ tế nhuyễn.


Không còn mời chàng ngồi và uống trà theo nghi cách phương Đông như thường lệ nữa, họ buồn rầu báo tin ngay chàng hay, họ phải gấp rút chuẩn bị đi Bangkok.


– Chính phủ chúng tôi đã dứt khoát không tái can thiệp.


Chàng làm bộ thở than đã bị bỏ rơi. Hai người đàn bà, bằng tất cả nhân ái của những phụ nữ trí thức châu Âu, bày tỏ lòng lo lắng cho số mệnh của chàng một khi quân Bắc Việt tràn ngập Sài Gòn.


Bà Lehmann chậm rãi nói:


– Xin Chúa phù hộ ông. Rất mong có phép lạ để chúng ta còn gặp gỡ nhau.


Phước đã liên lạc khẩn cấp để báo nguồn tin đặc biệt này. Sau đó, như ta đã biết, chiến dịch lịch sử Hồ Chí Minh đã tiếp tục vũ bão đến 30- 4.


Mối thâm tình gần như đồng tính luyến ái giữa chàng và Phước đã bắt đầu gây sự nghi ngờ ở người xung quanh, trước hết là vợ chàng. Nàng vốn dị ứng với hai từ đấu tranh. Ấn tượng về những tháng ngày gieo neo trước 1954 ở Liên khu Năm, sự làm lụng cật lực mà vẫn đói khổ làm nàng kinh sợ kháng chiến. Trong bữa cơm tối, nàng hỏi:


– Cái chú Phước nào đó quen với anh bao giờ mà gần đây lui tới đây hoài, nói chuyện gì thầm thì mãi thế?


Chàng chột dạ, nhưng vẫn bình tĩnh:


– A, chú ấy họ Hoàng, Hoàng Xuân Phước, bà con với bác sĩ Hoàng Bá[5]. Chú là giáo sư Anh văn. Anh đang có công việc ở Quốc hội phải tiếp xúc với các quan chức Mỹ. Chữ Anh mình chưa rành, phải nhờ chú ấy tới luyện giọng cho mỗi tuần vài bữa. Những giờ nào chú tới dạy mà có khách của anh đến, em nói giùm là anh đang bận học nhé.


Nghe tới tên ông Hoàng Bá, nàng dịu lại ngay. Ông bác sĩ coi nàng như con, từng chăm chút cho nàng và anh cả nàng đi học hộ sinh và y tá, cái nghề đã nuôi sống gia đình anh ruột và chị dâu nàng khi phải tay xách nách mang tám đứa nhỏ trong cảnh tản cư bần bách từ Hành Thiện xuống thị xã mấy năm nay. Tuy vậy, nàng vẫn còn thắc mắc:


– Ai chứ bà con bác sĩ Bá thì mình phải coi như người nhà rồi. Nhưng sao chú ấy ăn bận cẩu thả quá, cổ áo đen thui, còn cái xe đạp mới khiếp, cà tàng quá. Bỏ cặp kính trắng đi, chú ấy như một ông ăn mày.


Nàng không hề biết Phước mang tên giả do chồng nàng đặt cho và anh ta là một Tiến sĩ từ Mỹ về, hiện giữ một chức vụ quan trọng trong bộ máy chánh quyền của Đại tướng - Thủ tướng Trần Thiện Khiêm, mỗi khi anh đi đâu đều có xe máy lạnh đưa rước và có vệ sĩ ngồi kề bên.


Chàng đã hơi yên tâm, nhưng khi đem câu chuyện phải nói láo ngay cả với vợ kể lại cho Phước nghe, Phước tỏ vẻ lo ngại thật sự. Phước bảo:


– Anh em ta phải cực kỳ cảnh giác. Từ nay mỗi tuần chúng ta chỉ nên gặp nhau một lần. Anh phải ăn bận cho ra một chính khách tư bản thật sự, luôn khoác áo vest, thắt cà vạt, xách cặp Samsonite Nhật chánh hiệu, đi giày Boscal, không thể lôi thôi được. Và chỗ chúng ta bàn công chuyện có thể là những paillotte[6] trong vườn khách sạn Continentale, gần trụ sở Hạ nghị viện mà chúng ta cùng đi bộ tới. Ai đến trước, sẽ phải ngồi chờ. Đây, số điện thoại của em, gặp Tiến sĩ Triệu. Anh tự xưng là Trương hay Tê.


Trước tòa Đô Chánh[7] có quán ăn Anh Đào, khi có việc gấp anh nói chiều nay, chị Đào làm thôi nôi cho con hay có giỗ thì em biết và đến ngay. Cũng có khi chúng ta hẹn cùng đến nhà sách Phan Đình Phùng gần nhà anh mà ta gọi là bác Phan.


Buồn cười thay, không ngờ sau Giải phóng địa chỉ đó lại là nhà ông bà sui của chàng, nơi hai cháu nội chàng, bé Bin và Bon ra đời. Đặc biệt, vào 1974 trước khi bị ám sát, bọn đặc vụ của ông Thiệu bám sát chàng đến độ, mỗi khi muốn trực tiếp cùng có một quyết định quan trọng, chàng phải ra góc Phan Đình Phùng – Nguyễn Thiện Thuật leo xe buýt đi đã đời một vòng đến Chợ Lớn, xuống Sài Gòn cho tới khi xác định chắc rằng không còn cái đuôi nào theo dõi thì mới nháy mắt nhau, chàng ngồi ở hàng ghế đầu, Phước thì cuối toa, để cùng xuống một trạm vắng vẻ nào đó mà nói chuyện. Có lần Phước nói:


– Em vừa từ trên ấy về. Em kể chuyện về đời sống đạm bạc của anh, tuy làm Dân biểu nhưng có đồng nào dư ra đều đem phục vụ cho công việc chung hết, ăn cũng chỉ rau muống chấm với nước cá nục kho, ngủ thì trên cái đivăng gỗ vừa làm ghế dựa tiếp khách, kéo ra kéo vô kẽo kẹt, mấy ảnh ngạc nhiên lắm. Khi tả tới cái cốt cách quá bình dân của anh, anh Sáu dặn em thưa lại với anh là đóng vai nào thì phải nhập vai nấy. Anh phải có cái dáng dấp đường bệ, kiêu kỳ một chút à contre coeur[8], tỉ như trong cuộc, nên tỏ ra ta đây quan trọng đến trễ dăm ba phút, khi vào bàn nên đứng nghiêm lừ mắt nhìn từ đầu tới chân mọi người một cái cho đúng kiểu bề trên, làm bộ nghiêng mình thi lễ ra vẻ bằng lòng rồi mới chậm rãi đặt đít xuống ghế cho thật quan cách.


Chàng phì cười:


– Ôi, có mà tôi té cười, làm bể hết mọi việc đó.


Phước bào chữa:


– Thì có ai bắt anh trở thành kịch sĩ ngay đâu.


Một hôm chàng ghé 132 Sương Nguyệt Anh nhà giáo sư Vũ Văn Mẫu[9], Trưởng khối Dân tộc Thượng nghị viện. Chàng thăm hỏi, bày tỏ lòng kính phục gia đình ông và cái khí tiết của ông khi năm 1963 đang làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao sang cả như vậy mà trong chế độ sắt máu thời đó đã dám giũ áo từ quan, cạo đầu phản đối Ngô Đình Diệm. Vì biết chàng đặc biệt được yêu mến bởi giáo sư Trần Ngọc Ninh, một nhà trí thức mà hồi đó ở Sài Gòn ai cũng nể trọng, đồng thời tin cẩn chàng là người nòng cốt của phong trào Phật tử bấy giờ, nên Giáo sư Mậu đem hết tâm sự mình ra tỏ lộ. Chàng dò thái độ của ông đối với Chủ nghĩa Cộng sản nhưng ông không trả lời trực tiếp. Ông chỉ vào bức tranh Mirage de la vie[10] mà ông đang vẽ dở một cô gái soi gương chải tóc điểm trang nhưng nếu nhìn nghiêng thì ra hình một bà già, chậm rãi nói:


– Giáo sư biết không, tôi có người em gái, cô Vũ Thị Tí, tuổi với ông Thiệu, nữ sinh hoa khôi Hà Nội 1945. Từ toàn quốc kháng chiến, cổ làm công tác nội thành Cộng sản, yêu một cán bộ Cụ Hồ nhưng cơn bão loạn của thời đại đã khiến cho mỗi người bị thổi dạt đi một nơi. Tình duyên không tròn, cô du học bên Pháp. Còn chú em tôi, Vũ Văn Canh, tiến sĩ Vật lí từ Paris về thẳng Hà Nội, cũng đang ở bên kia bờ giới tuyến. Ai lường được tất cả những gì sẽ xảy ra nếu không nói đến hai chữ duyên, nghiệp? Vì thế mà tôi thờ đạo Phật, tưởng hồi 1963 cạo đầu đã có thể vĩnh viễn mượn cửa thiền giũ sạch bụi trần, nào ngờ vẫn còn nặng nghiệp. Cái chức Nghị sĩ này là món nợ với đồng bào mà tôi phải trả. Thấy chàng gật gù chia sẻ với ông niềm cảm khái vô biên trước cảnh đời. Ông tiếp:


– Từ 1945 tới nay đã 26 năm, đống xương vô định đã cao bằng đầu[11], cảnh đó phải được chấm dứt. Quí thầy Ấn Quang vừa nhất trí với anh em ta hình thành một tổ chức chính trị để góp sức vào công cuộc hóa giải hận thù, đem lại thanh bình cho đất nước.


Thế là nhóm chàng biết Phật giáo đang chuẩn bị cho ra đời một lực lượng chính trị, Phước nôn nả tìm gặp. Gần Tết, hai anh em lại đánh một vòng xe buýt lên Chợ Lớn, giả làm người đi mua mai ở Tổng đốc Phương[12]. Năm đó gia đình chàng đón xuân sung túc hơn mọi năm với cả một cây mai trưng trong chiếc ảng to trước nhà. Chàng tiếc cha đã không còn để cùng nhìn ngắm nó. Và càng thấm thía đời Đóa, em con chú ruột chàng:


– Anh ra ứng cử, không làm được gì lớn thì cũng giúp vặt cho anh em bà con và trước mắt, có thêm chút rau cá cho lũ nhỏ đủ chất để lớn lên cho bằng con cái người ta.


Nhìn bánh mứt trong nhà có phần nhiều hơn mọi năm, lòng chàng chẳng những không mấy vui mà còn thêm áy náy. Một buổi chiều, cả nhà đang lăng xăng vớt vát cho cái quán bún bò đang trên đà xuống dốc vì bắt đầu thưa vắng khách thì có bác xe ba gác cập trước hè với lỉnh kỉnh đồ đạc. Bác tài đang loay hoay tháo dây xuống hàng thì Phước, trên chiếc xe đạp cà tàng truyền thống của mình vừa theo tới. Anh vẫy tay Văn, con trai chàng và gọi Thước, cháu kêu chàng bằng bác đang trọ học, nhờ tiếp tay mang vào nhà một bộ salon nệm mút, bọc hai màu vàng và xanh lá cây, bấy giờ đang là model của những nhà mới ăn nên làm ra. Anh ta bình thản mở cái ví đen cũ kỹ của mình trả tiền như một phú hộ thứ thiệt. Hóa ra Phước đã dè xẻn từng đồng lương dạy thêm để cố tâm trang hoàng cho cái phòng khách bé tí của chàng. Mặc cho chàng nhăn nhó như mặt khỉ, Phước nói:


– Anh tiếp khách trên cái divăng kéo trông nó bê bối quá. Như thế này thì cũng chỉ mới tiềm tiệm thôi. Ở nước ngoài, các chính khách bao giờ cũng có phòng khách tại nhà tối tân, nhiều khi đủ chỗ họp hành ăn nhậu cho hàng trăm người.


Phước ngắm nghía căn phòng ra vẻ chưa vừa lòng:


– Bức tượng bằng đồng cảnh Đế Thiên Đế Thích mà anh Trần Đình Huyến[13] cho anh để vào đây thì rất hợp. Chánh khách Phật tử phải treo hình Phật chứ. Và bức tranh Thời gian vẽ một thiếu nữ đẹp đang tiếc nuối tháng ngày qua mau của họa sĩ thời danh Hiếu Đệ tặng anh, thì nên treo ngay trên bàn viết. Anh vừa là Phật tử, vừa là nhà thơ. Em muốn nhắc cho bất cứ ai đến đây đều phải nhớ điều đó.


Chàng đang phát rầu thì Phước nói thêm:


– Mà chưa hết đâu. Anh còn phải có một cái xế hộp[14], hai cửa bốn bánh đàng hoàng nữa đó. Nghĩ mình phương diện Quốc gia, quan trên trông xuống người ta trông vào, Truyện Kiều đã nói vậy.


Chàng giật mình nghĩ đến lời hiệu triệu của Hiến đối với bạn bè hồi chàng ứng cử:


– Thưa các bác, từ bao lâu nay tôi cũng như đa số các bạn khinh miệt trò chơi dân chủ, luôn nghĩ đến chuyện bầu bán chỉ là trò lừa gạt đồng bào. Nhưng gần đây, tôi thấy một chiều hướng mới đang lên, một thái độ mới đang thành hình, đó là nhập cuộc, đấu tranh tích cực hơn. Nên chúng tôi đã không ngần ngại ủng hộ thầy học chúng tôi ra ứng cử. Xin các bạn đừng cười cho rằng chúng tôi tự dối mình hoặc rơi vào ảo tưởng. Dù sao, tôi vẫn quả quyết với các bạn một điều: thái độ thờ ơ bất cần của chúng ta bấy lâu không hiệu quả và không làm cho kẻ thù của chúng ta sụt ký chút nào. Chúng ta thử nắm tay nhau một lần, thử làm một cái gì, biết đâu kinh nghiệm mới sẽ mang lại cho chúng ta một thành công mới?


Chàng xót xa nghĩ rằng anh em bầu bạn đã kỳ vọng nơi mình nhiều quá và trong khi bà con mình còn quá khổ, thay vì phải ngày đêm nằm gai nếm mật, Phước cố tô vẽ cho mình một bề ngoài phè phỡn, đúng điệu một chính khách Tư sản, khác xa lạ với số đông đồng bào đang vô cùng nheo nhóc trong cuộc chiến ngày càng ác liệt.


Đành lòng sống một cách vương giả giữa cái phong cảnh đìu hiu đang phủ lên Tổ quốc chúng ta như câu thơ của chàng trong bài Nói với Bé thì lời hứa thử làm một cái gì mà Hiến đã tuyên xưng hộ chàng hồi ra ứng cử, những lời lẽ đó sẽ vĩnh viễn chỉ là nói dối. Đây là tất cả những gì nó làm ray rứt tâm can chàng.


Thằng Trang mới hai tuổi từ trong bếp chạy ra bíu lấy chú Phước. Phước ôm nó lên cổ rồi đặt xuống ghế đệm salon mới tinh còn thơm mùi nhựa, hỏi: Thích không? Thằng bé khoái chí, gật đầu bập bẹ: Mát quá.


Chàng lại thấm thía cho cái câu đối ở nhà sử gia Phan Khoang:


Bán dạ phong xuy, phân lãnh noãn.


Đào hoa hàm tiếu, liễu hàm sầu.


Chỉ một cơn gió xuân gấy lạnh là mỗi bên cảm nhận một cách khác nhau, hoa đào mỉm cười hé nở trong khi cành liễu ngậm sầu: tính đa diện trong nhận thức qua triết học. Rõ ràng nhất, bác Xuân, người khách rất thân cận với Thượng tọa Trí Quang thường ghé nhà chàng chơi. Bác lắc đầu nhìn bộ salon mới:


– Từ nay không còn là ông giáo thanh bần nữa nhé.


Rồi từ đó gần như bác đi biệt luôn. Chân lý ở đâu? Chàng đem câu chuyện nói với Phước. Anh an ủi chàng:


– Em chỉ biết khoa học. Anh chính là giáo sư tâm lý học. Mỗi người có cách nghĩ, cách làm riêng của mình. Ăn thua ở chỗ[15] mục đích tốt thì thôi. La Fin justifie le Moyen. Nếu ta xác định được mọi việc của ta không nhằm hoàn toàn vào lợi ích cá nhân thì hãy yên lòng.


Chàng chưa rửa được mối phiền muộn nhè nhẹ trong lòng thì có tiếng chuông điện thoại reo vang. Vội chạy tới bốc máy, đầu dây bên kia có giọng người học trò cũ muốn đến thăm. Chàng vui vẻ nhận lời.


Phước còn đang cù vào nách thằng bé Trang cho nó cười sằng sặc thì chiếc xe Jeep nhà binh đã đỗ xịch trước nhà. Ba ông sĩ quan cấp tá. Trên cầu vai lóng lánh những đóa hoa mai bạc[16] nhanh nhẹn nhảy xuống, đồng loạt chào: Thưa thầy.


Chàng bắt tay các bạn, mừng thầm vì thấy những cựu môn sinh của mình đã nên ông nên bà:


- Chào các cậu, không ngờ mà một lúc có đến những les trois moisquetaires[17] lận.


Đầu tiên là Nguyễn Thiên Công, Trung tá tiếp vận coi bảy kho xăng Quân đội khu vực Sài Gòn - Gia Định. Rồi tới Trần Thế Diệp, Thiếu tá Hải quân và cuối cùng Huy, Trung tá Không quân ở Tân Sơn Nhất.


Chàng quay qua giới thiệu Phước với họ:


– Đây là chú Phước, sinh viên dạy Anh văn cho thằng Văn con đầu lòng tôi.


Họ nghiêng mình thi lễ cùng nhau. Diệp lém miệng:


– Hân hạnh được gặp anh ở nhà thầy chúng tôi. Có lẽ hôm nào cũng xin nhờ anh luyện cho tôi nữa, sắp có đợt tu nghiệp bên Mỹ.


Với một trong số ba người này, chàng có một mối duyên đến là lạ. Công là con một anh Vệ quốc đoàn Nam tiến, có vợ ở Nghĩa Hành đã hy sinh ở chiến trường Tây nguyên hồi chín năm. Là con một, Công được mẹ buôn bán tảo tần, cưng chiều nuôi cho ăn học. Hồi lớp đệ nhị[18], anh ta thật xuất sắc nhưng tính tình phóng túng. Vào ngày Quốc khánh của ông Diệm, anh chọc phá đám nữ sinh ngay trong đêm rước đèn mừng lễ, bị Hiệu trưởng lên án đuổi. Chàng đã lên tiếng bênh vực. Nhờ đó anh ta tiếp tục học, đỗ tú tài và sau bị động viên. Sống lâu lên lão làng, anh cũng leo tới hàng ngũ sĩ quan cấp tá và cơ may tới, anh được sang Texas học về dầu khí. Anh nghĩ là chàng có ơn đặc biệt với mình. Xuống xe, anh kêu tài xế khệ nệ vác xuống hai can xăng bằng sắt đầy ắp, kính cẩn:


– Kính chúc thầy cô và các em năm mới vạn sự như ý. Và cái này – anh chỉ vào hai can xăng – Để thầy đi thăm viếng Tết tổng thống, thủ tướng và đặc biệt, cụ Bộ trưởng Quốc phòng Trần Văn Đôn cùng Dân biểu tỉnh ta.


Chàng nói:


– Cảm ơn mấy anh. Tôi cũng chúc lại các bạn cùng gia đình tân niên đại cát. Cho nhiều thế, tôi không có xe hơi.


Diệp cũng người Nghĩa Hành, quê vợ chàng, cũng mồ côi cha, vô lính, được phân bổ vào hải quân. Nguyên là sư thầy Hồng Ân, vào Sài Gòn hay đến đàm đạo với Hòa thượng Nhật Minh chùa Linh Sơn, 149 đường Cô Giang, tổ đình của môn phái Lâm Tế tại miền Nam.


Năng lui tới đó, chàng được quen hai vị Phật tử, đạt chí thủ từng bỏ ra mỗi người hàng mấy chục lạng vàng để trùng tu ngôi di tích của danh tăng Khánh Hòa này, thành một tu viện uy nghiêm tráng lệ. Đó là hải quân Đề đốc Trần Văn Chơn và cụ bà Diệu Đức. Nhờ mối thân tình với ông Chơn, chàng đã gửi gắm người học trò cũ mình cho ông. Anh chàng này đã cũng khá thông minh. Sử sách chép về Sài Gòn, khi nói tới nghề bán sinh tố và xe nước mía phải ghi tên Diệp làm ông tổ sư của nghề:


Năm 1964, đi thực tập ở Mã Lai, viên chuẩn úy sinh ra từ miền quê nghèo Quảng Ngãi này được cấp mấy chục đôla. Thay vì dùng nó ăn nhậu như bao người khác, anh ta chỉ dám đi uống nước trái cây, một món mà Sài Gòn bấy giờ chưa có. Anh để tâm và tới khi mãn khóa học, đem số tiền nhỏ nhoi gom được mua một chiếc xe nước mía mang về. Món giải khát bình dân nhưng mới mẻ này được Sài Gòn niềm nở đón chào. Diệp tổ chức mua gỗ và mướn thợ về coi kiểu xe sinh tố đó mà làm theo. Không ngờ sản phẩm được nhiệt liệt hoan nghênh, bán chạy như tôm tươi, mấy năm đầu phải đặt cọc tiền trước hàng tháng mới có. Đến nay, các xe sinh tố có mặt khắp nước. Trên nhờ Tư lệnh Hải quân che chở, dưới có vợ biết làm ăn, anh trở thành ông sĩ quan giàu có của quê nhà Quảng Ngãi đãi ra sạn ngay tại Sài Gòn. Diệp coi chàng như người cha tinh thần.


Còn Huy thì cũng khá li kỳ. Anh ta được gia đình chạy chọt vào Không quân. Dạo đó tướng Đỗ Mậu đã bị Thiệu, Kỳ phế, không cho làm gì. Ông này tìm quên nỗi ưu phiền đó bằng cách nghiên cứu Tử vi nhưng, tiếc thay, chữ Nho của ông có hạn, nên thỉnh thoảng ông hay đến chàng chơi. Ngày nọ, ông gặp Huy ở 80 Nguyễn Thiện Thuật. Cả hai, tướng Đỗ Mậu, người là bạn vong niên của chàng, còn Huy, người là học trò cũ thích thơ văn, một già một trẻ bằng nhau, cùng ngấm ngầm chống Công giáo và Ngô Đình Nhu, ông Mậu kết với đám sĩ quan Không quân, nay những người đó đã lên đại tá, thiếu tướng, một tiếng của ông cũng đủ giúp Huy nhanh chóng đổi màu những bông mai trên cổ áo anh ta[19].


Sự vồn vã của các học trò cũ càng làm chàng đau khổ chua chát nhận ra rằng, nếu chàng không có cái chức dân biểu đáng nhờm tởm này thì còn lâu đám học trò mới chịu khó tới đây, tiêu phó đi những giờ phút trọng đại trong năm mà lẽ ra họ phải dành cho đám tay chân cao cấp của Thiệu, Khiêm, những kẻ có thể ban phát thêm bạc tiền danh vọng.


Hôm đó Huy mang theo một chai Wishky. Lần đầu tiên chàng nhờ Phước thay mình cụng ly với ba ông tá, nói đùa:


– Phước tam anh chiến Lữ Bố[20] giùm tôi nhé!


Quả nhiên, Phước càng uống mặt càng tái mét, nói cười như không. Công và Huy đã ở Mỹ nhiều năm, họ cùng nói chuyện thân mật với Phước về những nơi cùng ở học, ra bề rất tâm đắc, hứa kết bạn lâu dài, rôm rả cho tới khuya. Phước không quên khen ngợi cái lưu loát của Huy về tiếng Anh, trước khi ngỏ lời nhờ vả:


– Anh rất rành cơ khí. Vậy anh tìm giúp ông thầy cái xế cũ đi. Làm dân biểu, không lẽ để thầy mình cuốc bộ hay chài chân đẩy cái Honda cho nổ máy thì khó coi quá.


Huy nói:


– Cái việc cỏn con ấy, cùng lớp tôi, cũng là học trò cũ của ổng, có thằng Đình. Nó đỗ cao học Hóa đang dạy trường đại học, có tật mê xe làm sao. Nghèo mà ham, anh chàng suốt ngày nghiên cứu những kiểu xe hơi. Để tôi bảo nó kiếm cho thầy một cái Toyota.


Phước ngắt lời:


– Theo tôi, nên là một Austin màu trắng. Các giáo sư người Anh phong nhã hay xài loại nầy, kiểu dáng không hợm hĩnh mà sang, lại dễ chọn chỗ đậu, ở bất cứ đâu.


Riêng chàng, chàng thừ người nghĩ ngợi về Đình. Nó bà con họ xa với chàng, cha mẹ nghèo, phải quanh năm cày thuê cuốc mướn. Hết công việc đồng áng thì đi bán trứng vịt lộn dạo trong làng. Mẹ chàng thương tình mua giúp luôn. Vậy mà cả mấy anh em Đình đều lên được đại học. Cùng lớp với Trần Đình có Ngô Duy Chu và Nguyễn Chiển theo gia đình công chức ngoài Bắc di cư đến Quảng Ngãi. Quái lạ làm sao, trong khi Chu và Chiển thuộc gia đình công chức di cư, cũng dạy đại học thì lại hoạt động bí mật cho Cộng sản, cùng với tiến sĩ Trần Đình Ngọc, mấy thầy trò kín đáo lên làng Đại học ở Thủ Đức trồng một cây bồ đề kỷ niệm ngày Cụ Hồ qua đời. Đình con nhà bần cố, thì trái lại, biết được việc đó, nên phản đối, rõ ràng không ưa những sinh viên tranh đấu. Quả là cuộc đời có những cái tréo ngoe không ai hiểu nổi Karma.


 


4. BẢN TUYÊN BỐ VIENNA- 1972


 


Trở lại với thời 1972, nhờ cái Đảng Xã hội rất dỏm, chàng được Quốc tế Xã hội (International Socialist, viết tắt I.S) mời sang Vienna (Áo) dự Hội nghị lần thứ 12 của I.S với chủ đề Hòa bình trên hành tinh, kèm theo một vé máy bay, du lịch vòng quanh thế giới, đây là một cơ hội hãn hữu. Chàng đánh điện cho ông Tổng thư ký của Quốc tế Xã hội ở Luân Đôn, cảm ơn rồi thử bàn với Phước mọi thứ, chuẩn bị khởi hành. Phước gợi ý cho chàng liên lạc với Nguyễn Thái Sơn ở Pháp và Thái Quang Trung đang ở Anh để cùng đi dự hội.


Phước thảo ngay một bài diễn văn dài yêu cầu trước Xã hội Dân chủ trên thế giới cùng họp ở đó hãy bằng hết sức mình lên tiếng buộc người Mỹ phải chấm dứt việc ủng hộ chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và Mỹ, phải tức khắc rút quân khỏi Đông Dương. Chàng đọc một hơi thấy rất vừa ý, nói với Phước:


– Chú phải dịch ra Anh văn cho tôi chứ?


– Hẳn nhiên là em làm được việc đó. Nhưng anh có người anh nuôi, trước đi bộ đội kháng chiến, là anh Lương Sĩ Huỳnh đang làm tòa Đại sứ Anh ở Sài Gòn. Anh nên nhờ anh ấy, trước hết để chứng tỏ là anh biết dựa vào anh em. Sau nữa, anh Huỳnh đang được ông Brass, đại sứ Anh Quốc tại Sài Gòn tin dùng, phải cố kết mối tình thân sẵn có, ta sẽ có khi rất cần tới.


Thế là chàng chạy tới anh Huỳnh. Nói tiếng Bắc, cùng gia đình vô Quảng Ngãi hồi 1946, đi bộ đội giải ngũ vì sốt rét, anh đi dạy Trung học ở trọ nhà chàng, trở thành bạn chí thân của anh Sáu, anh Bảy, được mẹ thương như con ruột, cùng lúc với anh Nguyễn Đình Trí và anh Nguyễn Hữu Ngư. Tuần lễ nào mẹ cũng gom áo quần các anh giặt giũ và khâu vá tươm tất. Hai năm trước, năm 1970, chàng dọn về nhà mới, 80 Nguyễn Thiện Thuật, quận 3 anh Huỳnh mang cho chàng một chai Champage, chàng rất quý, cất để vào tủ làm kỷ niệm nói khi nào bé Hoàng Lan (bấy giờ mới 9 tuổi) có chồng, sẽ khui ra uống mừng. Mãi mười tám năm sau, Lan mới làm đám cưới thì anh Huỳnh đã như hạt bụi bay vào cõi xa mù trong khói lửa chiến tranh, nay chẳng biết ở đâu… Ai đi? Ai ở? Ai còn mất?


Tất nhiên, bấy giờ anh Huỳnh đã sốt sắng chuyển ngữ bản tuyên bố chấn động của chàng tại Hội nghị chính trị Quốc tế nầy ra tiếng Anh, bản thảo chàng còn trân trọng gìn giữ tới gần bốn chục năm sau.


Tuyên bố của GS NVH tại hội nghị Vienna 1972 đã có tác dụng như một quả bom nguyên tử: lần đầu tiên trong tình hình Đông Dương, có một nhân sĩ trí thức miền Nam không là Cộng sản đòi Mỹ phải tức khắc chấm dứt chiến tranh! Nhưng sau đó, chàng đành phải hủy bỏ chuyến xuất ngoại, do tình hình trong nước năm 1972 đột xuất có nhiều chuyển biến quan trọng: ông Nixon đi Bắc Kinh và chiến sự mùa hè đỏ lửa bột phát ở Quảng Trị. Mãi bây giờ cũng không ai xác minh là có thật không? Như Phước nói:


– Tình hình đang dầu sôi lửa bỏng, khẩn thiết xin anh ở lại trong nước, để lo những công việc gấp rút và cần thiết hơn.


Chàng đã phải đánh điện cáo lỗi cùng Quốc tế Xã hội và nhờ Nguyễn Thái Sơn, đại diện mình đọc bài diễn văn đó. Thái Sơn đã báo cáo lại là nó được hoan nghênh nhiệt liệt và có tiếng vang rất lớn thời bấy giờ.


L’engrenage[21], guồng máy, là tên một vở kịch của Jean Paul Sartre. Nó cho rằng sinh ra ở đời ai rồi cũng bị cuốn vào guồng máy hết. Như việc ông Nixon đi Bắc Kinh. Riêng với anh em đấu tranh trong guồng máy, tin nầy làm tất cả cực kỳ hoang mang. Nixon bắt tay Mao Trạch Đông, Trung Quốc đi với Mỹ rồi chăng? Quốc tế Vô sản, bức thành đồng để mọi người tựa vào đó, như Antée trong thần thoại Hy Lạp, phải luôn chấm chân trên mặt đất để có nguồn sinh lực vô biên mà chịu đựng bao gian khổ. Quốc tế Vô sản thiêng liêng kia đã rạn nứt rồi sao?


 


5. MÙA HÈ ĐỎ LỬA


 


Mặt khác, tại Quảng Trị hai bên đang ở trong một cuộc quần thảo sinh tử, đất nước ta như một cơ thể, toàn thân máu me. Những hình ảnh chết chóc không ngớt kinh hoàng đi vào giấc ngủ đầy ác mộng của chàng. Công tác đòi hỏi Phước phải làm việc ngày đêm. Bao nhiêu bà con còn kẹt trong các trại nạn nhân chiến tranh mà báo chí ngày nào cũng kể khổ đã làm chàng phải suy nghĩ: mỗi người một bơ gạo, mấy ca nước ăn uống tắm rửa, ta làm được gì cho họ đây? Trước tình tình đó, chàng cũng thấy một chuyến đi Vienna họp Quốc tế Xã hội dù có gặp được Hằng Nga ngủ ở trong rừng đi nữa, thì cũng là bất nhẫn. Và chàng đã quyết định ở lại nhà.


Na, người em nuôi từ Quảng Trị chạy vào Cam Ranh cho biết bác sĩ Hoàng Bá đã bị công an ông Thiệu bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ- Huế. Lí do: cảnh sát nắm được nguồn tin Bên kia sắp tấn công Quảng Trị và Huế, bèn giở hồ sơ cũ rà soát các đối tượng tình nghi, thấy trong danh sách có ông bác sĩ Bá năm Mậu thân (1968) chứa Cộng sản trong nhà và cho hai người con học đại học đang là sinh viên đã cùng Tiến sĩ Lê Văn Hảo thảo truyền đơn viết khẩu hiệu hoan hô Mặt trận Giải phóng.


Na tuy là người Huế nhưng ở pháp giới với Quảng Trị, họ Lê. Na có người cháu tên Lê Sơn Thanh là một viên chức lớn trong Bộ Nội vụ chính quyền miền Nam. Những giọt máu đào dây mơ rễ má trong cuộc chiến đẫm máu triền miên trên đất nước ta trải non ba chục năm đã có vai trò nhất định của nó. Và chuyến đi Sài Gòn của Na nhằm liên lạc kín đáo với Lê Sơn Thanh đã có kết quả: Thanh bí mật hứa sẽ giải nguy cho ông Bá. Nhưng khi hỏi về tình hình vợ con của Na, chàng y tá cao lớn nầy bỗng nhiên bật khóc:


Nhà cửa ở ngoãi đã cháy sạch chỉ còn hai bàn tay trắng.


Na nói có đi thăm ông Bá, râu ổng không cạo, rậm rạp như một ông cố đạo, người ốm nhách, chỉ còn đôi mắt trắng xác dưới vừng trán cao. Đây là lần thứ hai ông bị bắt. Lần đầu, năm 1955 cũng vì lý do đòi hòa bình:


– Vợ con em tránh đạn pháo kích vào Huế trước khi chiến sự bùng nổ ở thị xã Quảng Trị khoảng năm hôm. Làm nghề y, em nghĩ, bao giờ mình cũng cần cho bất cứ ai bị thương. Nhưng cuối cùng những tiếng loa yêu cầu di tản vang lên hối hả những buổi chiều khi bóng đêm sắp về và nhất là, một thành phố vắng người ghê rợn quá.


Đây đó chỉ còn những con chó đói đi lang thang, thỉnh thoảng lại dừng chân dí mũi vào một xác chết sình thối không ai chôn, hửi hửi rồi ngước lên nhìn vầng trăng, trơ trọi, hờ hững trên nền trời tru lên những tiếng lạ lẫm như gọi hồn ma những kẻ bất hạnh. Cùng người bạn trên một chiếc xe gắn máy, có lẽ hai đứa em là những kẻ cuối cùng lưu luyến rời cái bệnh viện thị xã nghèo nàn, hắt hiu những cơn gió Lào bắt đầu ù ù thổi qua những căn nhà trống trơn buồn hiu mùa hè đỏ lửa[22] năm ấy.


Chúng ta ở trong thời đại ra ngõ gặp người chết. Thây người ven đường, thây người bên những ngôi nhà đổ sập, thây những cụ già đã kề miệng lỗ, thây những em bé còn măng sữa, thây những phụ nữ với thai nhi trong bụng. Hai chúng em đèo nhau trên chiếc xe chạy xè xè trong vùng nồng nực tử khí đó, những tưởng ra đến cánh đồng thì nó sẽ bớt nặng mùi đi.


Vào đến Hải Lăng thì hai đứa phải xuống xe dắt bộ: xác người tràn lan trên mặt đường suốt một đoạn dài, khoảng cuối cùng cứ mặc cho những thân thể, đã chết hẳn có, còn âm ấm với hơi thở mong manh như sợi tơ mành có, chỉ mới gẫy hai chân mà còn nằm đó không lết ra được bìa đường có. Những bánh xe nhà binh bằng cao su to đùng, đen đúa cứ thản nhiên nhai nghiến cà nát những thi hài, những cơ thể còn cố níu kéo sự sống tuyệt vọng, óc người trắng hếu vung vãi tận bờ cỏ. Máu nhuộm thâm đen cả con lộ ngút ngàn bò giữa một bên đồi trọc cây sồi, một bên dong cát kéo dài tới phá Tam Giang.


Na dừng lại, hình ảnh rùng rợn còn nguyên trong trí óc. Chàng nghĩ tới câu ca dao: 


                         Thương anh em cũng muốn vô


Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang


Na tợp một ngụm nước trà rồi tiếp:


– Từ thuở cha sinh mẹ đẻ tới giờ, em chưa bao giờ chứng kiến một cảnh như thế. Em đích mắt trông thấy một người đàn bà còn trẻ chưa chết hẳn nhưng thằng bé con bầu bĩnh trên ngực chị, vẫn ôm lấy bầu vú no tròn trắng muốt của mẹ nó mút chùn chụt. Anh nhớ không, năm 1964 em đã xông vô lửa đạn cứu hàng chục người bị thương trong chiến cuộc ở Mộ Đức, máu bết đỏ cả áo quần. Thế mà vừa rồi, với những luồng đạn hai bên chí chéo bên tai, em cũng đành như mọi người làm ngơ bỏ chạy. Ba ngày sau, em còn ớn cơm, không ăn được. Bây giờ nhắc lại em vẫn lợm giọng và vẫn ăn năn cho sự hèn nhát của mình. Tội nghiệp thằng bé, chắc là không ai bồng cứu nó, giờ nầy nó đã đi đầu thai chưa? Mùa hè đỏ lửa, đại lộ kinh hoàng, hình như bài thơ nào đó có hai câu:


Quê hương tôi có làm chi nên tội


Mà đêm đêm máu đỏ ngập đường cày?


Hồi đó, cứ tưởng anh thân Cộng mà thở ra giọng điệu đó, bây giờ kinh qua bao hãi hùng cuộc chiến, bản thân mình suýt mất mạng, em thấy anh có lý: chúng ta phải cố sao đừng giết nhau. Cứ những loại tin như vậy dồn dập tới. Lửa cứ cháy, người cứ chết, đàn bà cứ mang bầu. Cuộc sống chiến đấu, đau khổ, hoan lạc vẫn đan xen nhau.


Trên đường chạy loạn vào Huế, vợ Na sinh một thằng bé. Na gọi điện thoại nhờ chàng đặt tên, chàng vui miệng nói ngay:


– Thì năm nay chú bị sao Thiên Di hành, phải chạy loạn mãi, chú cứ khai sinh cho nó là Lê Khắc Di để khắc ghi một cuộc di tản ngoài ý muốn mà nhớ đời chơi?


Sau này Di cùng hai anh nó đều học Y khoa, đỗ thạc sĩ, cháu mang một cái tên đầy tính thời sự và bỡn cợt do ông bác nuôi - lão Ngoan Đồng[23] đặt cho thế thôi. Có điều gì chắc chắn trên cõi đời phù du này đâu?


Rồi thằng He, người mai sau sẽ thay cha nó thờ ông ngoại chàng, vừa bị bắt lính đưa ra giới tuyến và mất tích. Bao nhiêu biến cố tới tấp xảy đến, theo chàng cũng chỉ vì cuộc chiến tranh này.


 


6. BẤT LỰC Ở QUỐC HỘI, THÌ TẠO LỰC TRONG CÁC GIỚI
          ĐỒNG BÀO


 


Chế độ cũ thì tam quyền phân lập, Quốc hội có nhiệm vụ làm luật và thảo luận, biểu quyết ngân sách cho cả nước mỗi năm. Dân biểu nghị sĩ được bất khả xâm phạm, bọn chàng thường nói đùa là intouchable[24], nghĩa là như cùi hủi, không ai dám đụng tới. Với chàng, công việc ấy chỉ giúp chàng hiểu biết tình hình chung của miền Nam bấy giờ như quân sự ra sao, ngân sách lấy đâu mà có, tổng cộng bao nhiêu. Những quyết định quan trọng thì phe gia nô[25] đã lấy cái đa số áp đảo của mình mà ngoan ngoãn tuân lịnh ông Thiệu. Cuối cùng những người đối lập chỉ phản đối những biện pháp độc tài và hiếu chiến của tay sai thực dân bằng cách đánh võ mồm và rốt cuộc bỏ phiếu chống, bách trận bách bại, luôn luôn với một thiểu số thảm hại.


Đối lập chỉ ngăn cản, không cho các bộ trưởng, toàn thuộc phe Thiệu vào phòng họp, cùng lắm là tẩy chay các cuộc thảo luận, bỏ ra về.


Cho nên phần thời gian còn lại giữa các khóa họp, chàng dùng tiền lương của mình phụ cấp cho hai cô nhân viên, một tại Sài Gòn, cô Xuyên đậu cử nhân Luật và một tại quê, cô giáo Thảo, cháu chàng, như hai văn phòng dịch vụ hầm bà lần, thượng vàng hạ cám, chạy việc cho đủ đối tượng đồng bào yêu cầu. Công việc nầy, sau 1975 chàng không thấy có đại biểu Quốc hội nào làm.


Chàng ra tận Huế để can thiệp cho ông bác sĩ Bá ra tù nhưng không có kết quả, chàng tìm kiếm vô vọng thằng cháu thừa tự bên ngoại: nó bị bắt lính, ra trận, rồi thất lạc trong mịt mù khói lửa.


Mãi ngoài bảy mươi tuổi khi giở lại tập ghi chép về những năm tháng không quên đó, chàng không hiểu sao bấy giờ mình có thể dai sức thế. Chỉ trong một ngày mà, sáng thì ở Huế, bắt liên lạc với Ngô Kha để tính công chuyện, trưa vào Đà Nẵng tìm họa sĩ Nguyên Hạo hay nhà thơ Đông Trình, năm giờ chiều lên máy bay, tối đã có mặt ở Sài Gòn, kịp dự một cuộc họp đã có kế hoạch từ trước hay đứng trên bục giảng bài cho học sinh, một lực lượng mà chàng luôn giữ mối thâm tình để đến lúc cần thì cùng phối hợp hành động.


Thời khóa biểu hàng ngày của chàng nhiều khi dày đặc từ sáu giờ sáng đến mười hai giờ khuya, sức trai như Hiến và Phước mà nhiều khi phải thú nhận rằng bản thân họ có lúc không theo nổi. Và hoạt động của chàng cũng trên một diện rộng: trước hết là tổ chức quần chúng đấu tranh chính trị, chống chiến tranh đòi hòa bình. Tuy đã dày công tích lũy nhiều năm, nhưng từ trí thức, tôn giáo, nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo cho tới giới tiểu thương 36 chợ đô thành, tài xế xích lô taxi, thợ thuyền… sinh viên học sinh, với ngần ấy hội đoàn, cái nào chàng phải củng cố mối quan hệ cũ, nâng lên một bước, không phải là chỉ tiếp xúc một cách xã giao mà cùng hóa thân với họ, lắng lo thiết thực cả niềm vui nỗi buồn, có khi phải chia sẻ cùng anh chị em mối tâm sự rất riêng tư nữa.


Ngồi hầu trà, Thượng tọa Thiên Hoa, Thiện Hòa, Trí Thủ[26] thì phải thông suốt kinh Phật, hiểu được yếu chỉ của Pháp Hoa, Lăng Nghiêm, Kim Cương… vận dụng khế lý khế cơ. Có lần Thượng tọa Thiên Minh mời chàng tham gia giảng khóa đào tạo Như Lai sứ giả ở 294 Công Lý, chàng khởi đầu bằng đề tài:  Tại sao theo kinh Trường A Hàm, đức Phật đã đạt chánh giác từ vô lượng kiếp về trước, mà ngài còn phải giáng sanh? để cùng các tăng sinh trẻ thảo luận với kết luận là phải đồng ý với nhau rằng: Ngài vẫn phải nhập thế, thể nghiệm tất cả những gì có trên thế gian mà đưa ra phương thức giải thoát hoàn thiện nhất cho chúng sanh. Sự ra đời của ngài cho ta bài học về thái độ thiệp thế cần thiết, nhất là trong bối cảnh nhân loại đối trị và đấu tranh kiên cố như hôm nay.


Một mặt chàng giúp thầy Đắc Nhẫn, ngoại giao với người đồng hương[27] Nguyễn Đức Đệ, đang làm Giám đốc Nha Động viên bộ Quốc phòng chạy giấy hoãn dịch cho tăng sinh. Chàng nỗ lực xây dựng các công đoàn Phật tử, nên càng được quần chúng Phật giáo dành cho một cảnh tình đặc biệt. Nhờ sự học đọc Kinh Thánh, tiếp thu được những tinh hoa từ phúc âm, chàng cảm thông với các linh mục Công giáo cấp tiến như Vương Đình Bích, Huỳnh Công Minh, Trương Bá Cần, Phan Khắc Từ, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan… nên luôn tích cực đóng góp vào các cuộc vận động của các cha. Ví dụ như cuốn Lược khảo Thánh Kinh hay cuốn Les nouvelles conceptions de I’Evangile, đã giúp chàng thấm ngầm được những điều hay trong Cơ đốc giáo, chính nhờ đó chàng viết được truyện ngắn Hoa Quỳnh, thể hiện quan điểm của mình về Renovation[28].


 


(còn tiếp)


Nguồn: Bão. Tiểu thuyết của Ngũ Hà Miên. NXB Lao động, 2013.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Mì ống trộn thịt và rau kiểu Ý.




[2] Nha Trang.




[3] Phó đại sứ Mỹ tại Sài Gòn 1975.




[4] Tên sách của ký giả Mỹ France Neff kể lại giai đoạn cuối của quân đội Mỹ và Việt Nam Cộng hòa năm 1975.




[5] Bác sĩ Hoàng Bá, từng là giám đốc Y tế Quảng Ngãi.




[6] Nhà tranh.




[7] Tức trụ sở UBND TPHCM ngày nay.




[8] Trái với lòng mình, nhưng vẫn phải làm.




[9] Thạc sĩ, bộ trưởng Bộ ngoại giao thời Diệm đã từ chức và cạo đầu phản đối Diệm đàn áp Phật Giáo. Tháng 4.1975 là Thủ tướng VNCH.




[10] Ảnh ảo cuộc đời.




[11] Truyện Kiều (Nguyễn Du).




[12] Nay là đường Châu Văn Liêm ở Q.5.




[13] Gốc Quảng Nam, Quốc dân đảng, em ruột Trần Đình Tri. Ở quê có câu vè: Trần Đình Tri kháng chiến, Trần Đình Huyến Việt gian.




[14] Tiếng lóng: xe hơi.




[15] Cứu cánh biện minh cho phương tiện.




[16] Lon sĩ quan cấp tá quân đội VNCH đính bông mai bạc (cấp úy màu vàng).




[17] Ba người lính ngự lâm, tên tác phẩm nổi tiếng của nhà văn Pháp A. Dumas.




[18] Tương đương lớp 11.




[19] Bông mai vàng: cấp úy, bông mai bạc: cấp tá. Đổi màu là từ màu vàng ra màu bạc, nghĩa là từ sĩ quan cấp úy lên cấp tá.




[20] Một hồi trong Tam Quốc Chí, tả võ công của Lữ Bố: một mình quần thảo với ba người anh kiệt mà bất phân thắng bại. Ý nói Phước đủ sức đấu rượu với học trò cũ của chàng.




[21] Tiếng Pháp nghĩa là guồng máy.




[22] Mùa hè đỏ lửa: chỉ chiến sự ác liệt ở Quảng Trị tháng 5, 6-1972.




[23] Nhân vật trong sách kiếm hiệp của Kim Dung lúc nào cũng rong chơi, đùa cợt như trẻ con.




[24] Tiếng Pháp có nghĩa là không đụng tới được.




[25] Phe đối lập coi đám dân biểu của Chính quyền là đầy tớ (nô) của chủ nhà Nguyễn Văn Thiệu (gia).




[26] Ba vị lãnh đạo Phật giáo Việt Nam trước 1975.




[27] Tứ Tất đàm kinh của Phật nói về 4 giai đoạn rốt ráo: rốt ráo trong đối trị nhau (đối trị tất đàm), rốt ráo vì người (vị nhân tất đàm), Đệ nhất nghĩa tất đàm, Phật tất đàm.




[28] Sự tân hóa. Theo Phúc Âm, hay theo kinh A Di Đà, khi ta nhận được Thượng đế (cũng như khi ta niệm A Di Đà), ta tự thấy mình mới mẻ.




Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
27.
28.
29.
30.
31.
32.
33.
34.
35.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 17.08.2018
Những người mở đất - Triệu Xuân 14.08.2018
Hãy để ngày ấy lụi tàn - GERALD Gordon 14.08.2018
Mẫn và tôi - Phan Tứ 14.08.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 13.08.2018
Khảo luận về tác phẩm Tầng đầu địa ngục - Hoàng Hải Thủy 13.08.2018
Tầng đầu địa ngục - ALEKSANDR Isayevich Solzhenitsyn 09.08.2018
Hòn đất - Anh Đức 05.08.2018
Biệt ly huy hoàng - Thanh Giang 30.07.2018
Tình yêu và lý tưởng - Thomas Mann 28.07.2018
xem thêm »