tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20786440
Những bài báo
07.08.2013
Tư liệu
Kênh nhà Lê - Kỳ tích nghìn năm: Khởi nguồn cho sự nghiệp Nam tiến

Theo sử sách, trong thời gian chưa đầy 3 năm sau khi lên ngôi hoàng đế, Lê Hoàn đã dẹp xong cuộc nổi loạn trong nước, đồng thời thực hiện sự nghiệp vĩ đại phá Tống (năm 981), bình Chiêm (năm 982). Trong công cuộc nam tiến đánh Chiêm Thành để bảo vệ và mở mang cương thổ, ông đã cho khơi mở tuyến đường thủy nội địa đầu tiên mà dân gian vẫn quen gọi là kênh nhà Lê. Cho đến nay, sau hơn 1.000 năm tồn tại, nhiều đoạn kênh nhà Lê vẫn còn vô cùng hữu dụng.


Con đường bình Chiêm


Với tầm nhìn chiến lược cả về quân sự và kinh tế, Lê Hoàn đã cho đào kênh từ sông Mã qua núi Đồng Cổ theo trục nam - bắc đến sông Bà Hòa, rồi từ đó khơi dòng vào Nghệ An. Sách Đại Việt Sử ký toàn thư chép: “Quý Mùi (năm Thiên Phúc năm thứ 4 - 983, NV), khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to, bèn sai người đào kênh. Khi đào xong kênh, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện”.


Theo TS sử học Hà Mạnh Khoa, Trưởng phòng Quản lý khoa học, Viện Sử học Việt Nam thì vào thế kỷ 10, đường bộ Thanh Hóa vào nam cũng hiểm trở không kém ra phía bắc. Do kinh đô đóng tại Hoa Lư (Ninh Bình) nên muốn tiến vào nam, thủy quân sẽ đi theo các hệ thống sông Tạc Khẩu, sông Hoạt, sông Báo Văn, sông Lèn, sông Mã rồi dừng lại ở vùng Đan Nê - Đồng Cổ. Đồng Cổ khi ấy là điểm tập kết của quân bộ theo đường Thiên Quan từ kinh đô Hoa Lư vào Thanh Hóa. Từ đây quân lính buộc phải hành quân bằng đường bộ để vào châu Hoan, châu Diễn.


Sau chiến thắng Chiêm Thành trở về kinh đô Hoa Lư, Lê Hoàn nhận thức rõ tầm quan trọng của giao thông trong chiến tranh. Những con đường thủy hay đường bộ thuận tiện là yếu tố góp phần không nhỏ vào thắng lợi. Nhưng với điều kiện lúc bấy giờ, việc mở mang phát triển đường bộ không dễ dàng, nên Lê Hoàn tận dụng các chi lưu của sông Mã, sông Cầu Chày, sông Chu, sông Hoàng, sông Yên rồi tổ chức khơi đào nối liền và thông suốt từ Đồng Cổ đến sông Bà Hòa (xã Tân Trường, H.Tĩnh Gia, Thanh Hóa ngày nay). Từ sông Bà Hòa đổ ra cửa Bạng, quân lính Lê Hoàn đào mới một đoạn kênh thẳng ở vùng Mai Lâm, dài khoảng 1,5 km, để uốn thẳng dòng sông chảy men theo khe nước lạnh vào đất Quỳnh Lưu (Nghệ An). Tiếp đó, vào năm Quý Mão (1003), Lê Hoàn đi Hoan Châu (Nghệ An) và ông đã sai đào kênh Đa Cái nối kênh Sắt ở bắc Nghệ An với sông Lam. Như vậy, từ đó đi từ vùng sông Mã (Thanh Hóa) đến vùng sông Lam (Nghệ An) ngoài tuyến đường bộ và đường biển đã hình thành thêm một tuyến đường thủy nội địa an toàn, thuận tiện.


Nhiều nhà sử học đã ghi nhận, công trình đào kênh thời Tiền Lê do Lê Hoàn khởi dựng đã mở đầu cho sự nghiệp phát triển hệ thống giao thông thủy nội địa dưới thời phong kiến của Việt Nam vào thế kỷ 10 thể hiện sự lớn mạnh của quốc gia độc lập tự chủ trong việc thực hiện chức năng quản lý các công trình công cộng của nhà nước phương Đông. Sau này, các triều đại nhà Lý, Trần vẫn tiếp tục đào lại, đào mới những dòng kênh trên đất Thanh Hóa tạo nên một con đường giao thông thủy nội địa hoàn chỉnh từ Thanh Hóa đến Hà Tĩnh. Dòng kênh nhà Lê đã góp phần bảo vệ vững chắc biên giới phía nam và mở rộng bờ cõi là một mục tiêu của tất cả các triều đại phong kiến Việt Nam.


Trong vòng 26 năm trị vì, Lê Hoàn là người đặc biệt quan tâm đến vùng đất phía nam. Ông đã tiến hành 6 hoạt động quân sự lớn ở phương nam không chỉ nhằm bảo vệ biên giới, mà còn trực tiếp chuẩn bị cho quá trình Nam tiến của người Việt, mở rộng thêm cương giới lãnh thổ của quốc gia về sau. Vì vậy chính hệ thống kênh nhà Lê do Lê Hoàn chỉ đạo khai mở nối với các hệ thống sông có sẵn ở phía nam Thanh Hóa vào tới Nghệ An đã mang lại giá trị vô cùng to lớn cho các đợt nam tiến của nhà nước Đại Cồ Việt cũng như các triều đại sau này.


Khai phá đồng bằng xứ Thanh


Không những đóng vai trò là tuyến giao thông thủy phục vụ quân sự, hành chính, kênh nhà Lê còn có tác dụng vô cùng to lớn về mặt thủy lợi, góp phần khai phá vùng đồng bằng Thanh Hóa. Cũng theo TS Hà Mạnh Khoa thì vào thế kỷ thứ 10, nhờ có hệ thống kênh nhà Lê nên vùng đồng bằng Thanh Hóa đã thu hút nhiều người sống ở vùng trung du, miền núi xuống khai phá trồng lúa nước. Đây là quá trình di dân mang tính bước ngoặt trong phát triển kinh tế, xã hội thời bấy giờ.


Những vùng đất hoang có sông đào chảy qua đã trở thành những miền đất hứa vẫy gọi cư dân khắp nơi đến dựng làng mở ấp. Mùa hạn dòng kênh có nhiệm vụ cấp nước, mùa mưa lũ trở thành nơi dẫn nước ra biển. Nơi dòng kênh chảy qua, người dân đã tạo nên nhiều cánh đồng màu mỡ với những xóm làng trù phú... Sự phát triển kinh tế - xã hội tạo cho những phong tục truyền thống như thờ cúng tổ tiên, ghi công những người đi đầu trong việc đánh giặc giữ nước, dựng làng. Nhiều ngôi chùa được dựng xây dọc trên những làng, ấp theo tuyến kênh nhà Lê, như chùa Hương Nghiêm ở giáp Bối Lý, chùa Báo Ân, chùa An Hoạch ở Đông Sơn, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh ở Duy Tinh (Hậu Lộc), chùa Hưng Phúc ở Hương Yên Duyên (Quảng Xương)...


Cuộc sống thanh bình của những làng quê ven kênh nhà Lê đã góp phần sản sinh và phát triển nhiều làng nghề truyền thống với sản phẩm nổi tiếng cả nước, đồng thời tạo dựng nên nhiều dòng họ có thế lực, sản sinh nhiều người tài giỏi cống hiến cho đất nước, như dòng họ Lê Lương ở giáp Bối Lý (H.Thiệu Hóa ngày nay) nổi tiếng suốt từ thời Đinh, Lê đến Lý, Trần với những tên tuổi như bảng nhãn Lê Văn Hưu, Lê Quát, Lê Giốc; hoặc dòng họ Lê Liêm đầy thế lực ở Hà Trung. Chính dòng họ này đã nhận một người họ Hồ làm con nuôi, sau này sinh ra Lê Quý Ly (Hồ Quý Ly)...


 "Dự án kinh tế - quân sự" của Lê Hoàn


Kênh nhà Lê chảy vào Nghệ An qua khe Nước Lạnh, nay là phía bắc thị trấn Hoàng Mai, H.Quỳnh Lưu, giáp Thanh Hóa. Đây là khu vực có nhiều núi đá vôi sừng sững trải dọc theo QL 1A hiện nay. Đoạn kênh này nối từ khe Nước Lạnh với lạch Cờn tại xã Quỳnh Phương. Hiện đoạn kênh này vẫn thông suốt dù trải qua nhiều biến động do quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp. Chỗ rộng nhất của kênh khoảng 12 m, chỗ hẹp từ 7-10 m. Hai bên kênh là những cánh đồng lúa. Ngay điểm tiếp giáp với lạch Cờn là một cống ngăn mặn. Cống này có nhiệm vụ ngăn nước mặn tràn lên kênh để lấy nước ngọt tưới cho hàng chục héc ta lúa của các xã ven kênh.


Nhà nghiên cứu Đào Tam Tỉnh (cuốn Kênh nhà Lê - Lịch sử và huyền thoại - Nhà xuất bản Thời Đại 2010) dẫn Đại Việt sử ký toàn thư cho rằng kênh nhà Lê qua Nghệ An cũng được đào cùng lúc với kênh nhà Lê ở Thanh Hóa. Đến năm 1003, vua Lê Đại Hành tổ chức cho nạo vét, mở rộng kênh Đa Cái chảy qua phía nam Nghệ An. Hệ thống kênh đào này đã nối thông các con sông tự nhiên tạo thành hệ thống đường thủy thông suốt từ Thanh Hóa cho đến sông Lam ở phía nam Nghệ An, với chiều dài gần 80 km. Tàu thuyền vận tải từ các bến cảng: Cửa Cờn, Cửa Quèn, Cửa Thơi, Cửa Vạn, Cửa Lò, Cửa Hội có thể đi thông ra Thanh Hóa rồi ra kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình).


Từ sông Hoàng Mai đổ ra Cửa Cờn, nhà Lê tiếp tục cho đào một nhánh kênh chạy dọc biển, hướng về phía nam dài chừng 14 km, xuyên qua 7 xã vùng Bãi Ngang thuộc H.Quỳnh Lưu: Quỳnh Phương, Quỳnh Liên, Quỳnh Minh, Quỳnh Bảng, Quỳnh Lương, Quỳnh Nghĩa, Tiến Thủy. Vùng Bãi Ngang này hình thành khu dân cư đông đúc từ thế kỷ thứ 10, khi Lê Hoàn cho đào kênh Mai Giang nối ba cửa lạch: Cờn - Quèn - Thơi. Đoạn kênh này đã mang lại cho người dân Bãi Ngang nhiều thuận lợi trong sản xuất, đánh bắt cá và đi lại. Trải qua các đời vua sau đó, với nhiều lần nạo vét, mở rộng kênh, vùng Bãi Ngang ngày càng trở nên đông đúc, trù phú với các nghề ngư, diêm, nông, thương mại đường biển, đường sông. Người dân địa phương gọi đoạn kênh này là sông Mơ. Hiện tại, sông Mơ rộng chừng 10 - 12 m, mực nước phụ thuộc vào thủy triều. Sông Mơ đang là nguồn cung cấp nước cho việc nuôi trồng thủy, hải sản của cư dân các xã vùng Bãi Ngang. Tại các xã Quỳnh Liên, Quỳnh Lương, Quỳnh Bảng, những “cánh đồng tôm” bạt ngàn với hàng chục héc ta hồ tôm nhiều năm nay đã mang lại nguồn thu nhập lớn cho người dân.


Từ cửa Quèn tại xã Tiến Thủy, kênh nhà Lê tiếp tục nối với cửa Thơi ở xã Sơn Hải, H.Quỳnh Lưu với chiều dài khoảng 4 km. Đoạn này hiện bị bồi lấp khá nhiều và khi nước thủy triều rút, nhiều đoạn kênh trơ đáy. Ông Bùi Trung Cải, cư dân xã Sơn Hải cho biết đoạn kênh này trước đây nước rất sâu. Người dân Sơn Hải, Quỳnh Tiến thường dùng kênh để vận chuyển muối, gạo. Do lâu ngày không được nạo vét, người dân sống hai bên kênh lấn chiếm nên lòng kênh cạn dần, chỉ khi thủy triều lên cao, thuyền bè mới có thể vào được.


Tấp nập cửa Vạn


Phía nam cửa Thơi là xã Quỳnh Thọ. Từ đây, nhà Lê tiếp tục cho đào đoạn kênh dài 13 km nối với sông Bùng ở cửa Vạn thuộc xã Diễn Bích, H.Diễn Châu. Người dân địa phương gọi đoạn này là kênh Mi. Đoạn kênh này nước lên xuống cũng phụ thuộc thủy triều. Khi triều từ hai cửa sông tràn lên, nước kênh dâng cao. Tại xã Diễn Mỹ, khi triều lên cao, nước mặn tràn lên ngập đồng ruộng, người dân phải đắp đê dọc kênh để ngăn mặn.


Theo nhà nghiên cứu Đào Tam Tỉnh, kênh Mi trong con mắt chiến lược của các vị quan trấn thủ, trị nhậm Hoan Châu, Châu Diễn hết sức quan trọng, vì đây là đường sông khá an toàn để lên lỵ sở của phủ Diễn Châu. Nằm trong vòng cung hạ lưu sông Bùng đổ ra biển, xã Diễn Ngọc bốn bề là sông nước. Từ thời nhà Lý, khi Lý Nhật Quang làm Tri châu Nghệ An đã cho đặt các quan Sát hải sứ và quân Bình hải ở đây để trông giữ các thuyền buôn ra vào ở cửa Vạn. Đến thời nhà Nguyễn, ở Diễn Châu là đại công trường khai thác đá sò phục vụ cho việc xây dựng, sửa chữa thành Nghệ An. Việc vận chuyển sò này phải dựa vào tuyến đường thủy là kênh nhà Lê, do đó, kênh nhà Lê đoạn từ Diễn Châu vào Vinh trở nên rất tấp nập.


Năm 1425, Lê Lợi đã đánh tan một đội quân của giặc Minh tại cửa biển này khi ông cho quân mai phục ở cửa Vạn để chặn đứng sự chi viện của quân Minh từ phía bắc theo đường biển tràn vào. Khi 300 chiến thuyền của giặc đã vào sâu trong cửa Vạn, Lê Lợi ra hiệu các đạo quân xông ra vây đánh. Bị tấn công bất ngờ, quân Minh thua tơi tả, 300 chiến thuyền chở quân lương, vũ khí cùng nhiều lính tráng bị tiêu diệt.


Cửa Vạn được xem là một trong 8 thắng cảnh của đất Diễn Châu do thiên nhiên tự kiến tạo. Hiện đây là một cảng cá tấp nập, nơi tàu thuyền ngư dân các xã Diễn Ngọc, Diễn Bích, Diễn Kim vào neo đậu, trú tránh gió bão. Mỗi ngày có khoảng 500 tàu thuyền lớn nhỏ ra vào cảng. Cách đó không xa là bãi biển Diễn Thành đã được Nghệ An quy hoạch thành khu du lịch biển với hệ thống khách sạn, nhà hàng khá đẹp. Biển và hệ thống kênh rạch ở đây đang tạo thành mô hình phát triển kinh tế đa dạng, mang lại cuộc sống phồn thịnh cho người dân vùng đất này.


 


Ngọc Minh, Khánh Hoan


thanhnien.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »