tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20780266
Lý luận phê bình văn học
27.06.2013
Đỗ Ngọc Thạch
Thái Vũ Và Tiểu Thuyết Lịch Sử (1)

Tiểu thuyết Lịch sử là cái “Lò bát quái” thử sức, thử tài nhà văn cả về tri thức và khả năng sáng tạo nghệ thuật. Bởi ở đây nhà văn phải đồng thời là nhà sử học. Nếu như M. Gorki đã nói “Nhà văn, chứ không phải là nhà chép sử, mới là người viết sử thực của cuộc đời” thì chính là nói về loại nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử vậy. Ta có thể thấy, khi viết về đề tài lịch sử, nhà văn thường Khẳng định và ca ngợi hoặc phân tích và “giải mã” lịch sử. Nói cách khác, đó là hai mạch cảm hứng chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử hiện đại. Trong hoàn cảnh đất nước có chiến tranh liên tục như nước ta, mạch cảm hứng “Khẳng định và ca ngợi” đã mang lại cho tiểu thuyết lịch sử một nội dung yêu nước thiết thực. Nó góp phần quan trọng trong việc giáo dục lòng yêu nước, lòng tự hào dân tộc. Ta thường thấy những bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, “Tụng giá hoàn kinh sư” của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu, rồi “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi được các nhà tiểu thuyết nhắc tới nhiều lần, thậm chí lấy ý tưởng đó làm “điểm tựa”, “bệ phóng”, đã thể hiện rõ việc khẳng định truyền thống oai hùng của lịch sử là rất quan trọng. Ở mạch cảm hứng phân tích và “giải mã” lịch sử- phát triển khá mạnh từ sau phong trào “Đổi mới”, lịch sử không chỉ được tái hiện một cách “trung thực” trên bề mặt các sự kiện mà còn được soi chiếu ở nhiều góc nhìn, ở cả “bề sau, bề sâu, bề xa”. Những vùng sự thật ở phía “góc che khuất”, ở khu vực “thâm cung bí sử” của lịch sử được đặc biệt quan tâm, những bí ẩn và xung đột của lịch sử được phân tích, để rồi lịch sử được ngưng tụ ở chiều sâu số phận con người. Lúc này, tiểu thuyết lịch sử trở thành ấn tượng và suy tư cá nhân, cá nhân trở thành trung tâm của tự sự lịch sử.


Hoặc có thể nói, “lịch sử hóa” tiểu thuyết và “tiểu thuyết hóa” lịch sử là hai khuynh hướng sáng tạo nghệ thuật chủ yếu của tiểu thuyết lịch sử hiện đại. Ở khuynh hướng thứ nhất, tiểu thuyết lịch sử thường tôn trọng sự chính xác của tư liệu lịch sử, bao quát hiện thực đời sống ở diện rộng với chiều kích vĩ mô của tư duy “sử thi-anh hùng ca”. Thực chất, tiểu thuyết lịch sử trong mô hình này là sự cụ thể hóa, sinh động hóa những chân lí lịch sử- những “Trang sử Vàng”. Công việc của nhà tiểu thuyết trong trường hợp này xét đến cùng là dùng khả năng tưởng tượng của mình để lấp đầy chỗ trống giữa những dòng sử biên niên khô khan để càng làm sống động và giàu thuyết phục những chân lí đã “rạng rỡ trong sử sách”. Lúc này, tiểu thuyết lịch sử thiên về chất truyện kể mà ít chất tiểu thuyết (hư cấu). Ở khuynh hướng thứ hai, những tư liệu chính xác của lịch sử được chuyển hóa thành tiểu thuyết, thành sản phẩm hư cấu của nghệ sĩ. Chỉ với một vài “điểm tựa” mong manh vào lịch sử, nhà tiểu thuyết có thể tưởng tượng, sáng tạo một thế giới nghệ thuật riêng. Nhà tiểu thuyết vừa làm sống lại lịch sử, vừa tạo cho nó một sức sống mới để lịch sử có thể song hành cùng hiện tại. Đây là bước cách tân lớn trong mối quan hệ giữa lịch sử và tiểu thuyết.


Khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử trong tiểu thuyết lịch sử dường như trở thành khuynh hướng chủ đạo của tiểu thuyết lịch sử hiện nay. Bây giờ, việc “mô phỏng”, “phục hiện” lịch sử bị coi là sơ đẳng, là bậc thấp, là “chụp ảnh , coppy” lịch sử. Nhà tiểu thuyết bây giờ  muốn đứng ở tầm cao, thâm chí cao hơn lịch sử để “phán xét”, “giải mã” lịch sử. Vì thế khuynh hướng tiểu thuyết hóa lịch sử được coi là “sân chơi của những đại gia”, là “bãi chiến trường” để thử sức nhà tiểu thuyết khi muốn viết về đề tài lịch sử.Tiểu thuyết vốn đề cao sự hư cấu, sáng tạo chủ quan, còn lịch sử lại đòi hỏi sự chính xác, khách quan khi lưu giữ những tư liệu liên quan đến số phận của một dân tộc. Tiểu thuyết hóa lịch sử nghĩa là nhà văn biến những tư liệu chính xác của lịch sử thành tiểu thuyết, thành những sản phẩm hư cấu, tưởng tượng của cá nhân nhà văn. Khi đó, lịch sử trở thành chất liệu, là phương tiện để nhà văn viết tiểu thuyết. Đó là thứ lịch sử đã được nhào nặn, thiết kế lại. Và nhà văn viết tiểu thuyết lịch sử là sáng tạo một lịch sử khác, đến lượt người đọc, họ cũng hưởng thụ lịch sử theo cách của riêng mình. Với khuynh hướng sáng tạo này, nhà văn có thể phán xét cả lịch sử, chưng cất lại lịch sử, “cãi ngầm” với sử học về nhân sinh, thế sự để giúp nhận thức thêm, nhận thức lại lịch sử. Đọc những cuốn tiểu thuyết lịch sử được viết theo khuynh hướng này, ấn tượng về lịch sử dù vẫn tồn tại, và vẫn cần thiết như một không gian toàn thể nhưng đã không còn ở bình diện thứ nhất mà nổi lên trước hết là ấn tượng của tiểu thuyết với bao vấn đề thế sự, đời thường cùng những sáng tạo mới mẻ, riêng biệt. Độc giả không thể tìm thấy trong tiểu thuyết lịch sử những phán xét duy nhất đúng về các chân lí mà là những giả thuyết về đời sống của nhà văn. Hơn thế nữa, trên con đường tiểu thuyết hóa lịch sử, ở những phóng thoát xa nhất của tư duy tự sự lịch sử mang cảm quan nghệ thuật hậu hiện đại, tiểu thuyết càng thoát dần cái nhìn toàn trị của tư duy “sử thi-anh hùng ca” để hướng đến cái nhìn phân tích vào tận những tầng sâu của cõi vô thức. Ảnh hưởng tiếng gọi của trò chơi, tiểu thuyết lịch sử trở thành mảnh đất để nhà văn tự do sử dụng các thủ pháp nghệ thuật khác nhau, tiến hành các thử nghiệm khác nhau miễn là trình bày cảm nhận thế giới của mình một cách hiệu quả nhất. Lịch sử nhìn từ góc độ khoa học là cái đã có, đã xong xuôi, tất yếu. Tiểu thuyết lại chú trọng sự sáng tạo, quan tâm đến những khả năng có thể của lịch sử, do đó lịch sử được hiện diện trong sự vận động không ngừng, không khép kín. Nhà văn sáng tạo lại lịch sử và gieo vào lòng độc giả những câu hỏi, những vấn đề đối thoại trong trang viết để cùng nghiền ngẫm, liên tưởng, tìm mối thông cảm và chia sẻ với những con người trong câu chuyện xưa mà nay chỉ còn là vài dòng khắc trên bia đá. Khuynh hướng “tiểu thuyết hóa lịch sử” đã gặt hái được khá nhiều tác phẩm có những thành tựu đáng kể như: Khúc khải hoàn dang dở (Hà Ân), Bão táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ (Hoàng Quốc Hải), Kinh đô Rồng, Một mất một còn, Thời vàng son (Nguyễn Khắc Phục), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo); Mẫu Thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh); Sắc đẹp khuynh thành (Kiều Thanh Tùng); Gió lửa, Đất trời (Nam Dao); Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác); Hồ Quý Ly (Nguyễn Xuân Khánh); Đàn đáy (Trần Thu Hằng); Trương Vĩnh Ký, bi kịch muôn đời (Hoàng Lại Giang), Nguyễn Thị Lộ (Hà Văn Thùy)...Vấn đề nhà văn đặt ra trong tác phẩm là thân phận con người trong những biến động của lịch sử, từ con người của chốn cung đình đến những người dân dưới đáy xã hội. Kết thúc cuối cùng của mỗi số phận con người như thế đều là bất hạnh, khổ đau. Phải khẳng định rằng, khi chú trọng đến yếu tố tiểu thuyết thì lịch sử có thêm một sức sống mới. Lịch sử không còn là sự kiện biên niên mà đã được tái tạo và mang theo những vấn đề mà con người hiện tại quan tâm. Lịch sử chỉ được xem như một chất liệu để phản chiếu những vấn đề của con người ở tầm phổ quát nhất. Thực ra, nhiệm vụ đặt ra cho nhà văn khi viết về đề tài lịch sử là rất lớn: nhà văn phải làm sống lại Lịch sử quá khứ nhưng không phải chỉ như nó vốn có (chính sử) mà cái Lịch sử đang sống lại đó phải mang “hơi thở” của thời đại hôm nay. Nói như vậy thì dễ nhưng làm được thì không hề đơn giản bởi lịch sử như người ta đã thấy (Chính sử) luôn có không ít những khiếm khuyết, những khoảng trống, những tồn nghi mà ta thường nói là do tư liệu lịch sử ít ỏi hoặc có khá nhiều những sự thực lịch sử còn ẩn tàng trong cái gọi là “thâm cung bí sử”! Chính vì thế, ta thường nói là nhà văn phải “Giải mã Lịch sử”. Hoặc nói như A. Pushkin (*): nhà văn phải  “chất vấn quá khứ để trả lời cho hiện tại và tương lai”. Và A. Pushkin đã làm cái công việc khó khăn, nhọc nhằn ấy bằng việc viết cuốn tiểu thuyết lịch sử trứ danh Người con gái viên đại úy.


Có thể nói, cho đến hôm nay, Người con gái viên đại úy vẫn là một chuẩn mực tuyệt vời của tiểu thuyết lịch sử, đã giải thuyết rất đầy đủ và tài tình “Tính lịch sử và tính thời sự của tiểu thuyết lịch sử”. Sẽ không có gì là quá đáng nếu nói chỉ với Người con gái viên đại úy, A. Pushkin đã trở thành một nhà tiểu thuyết lịch sử bậc thầy lỗi lạc đã kỳ công mở đường cho thể loại tiểu thuyết lịch sử. Sau khi đã thành công rực rỡ qua hàng trăm bài thơ trữ tình, gần chục bản trường ca, truyện thơ Epgheni Oneghin cùng các truyện ngắn và kịch, Puskin chuyển sang viết tiểu thuyết lịch sử. Người con gái viên đại úy lấy đề tài từ cuộc khởi nghĩa nông dân Pugasov (1773-1775) trong lịch sử nước Nga ở cuối thế kỷ XVIII. Sau Cuộc cách mạng tháng Chạp (1825)  do một bộ phận quý tộc tiến bộ cầm đầu bị thất bại, chính quyền chuyên chế Nga hoàng càng tìm mọi cách kìm hãm đất nước trong vòng nô lệ tối tăm. Mọi hoạt động chống đối đều bị đàn áp tàn bạo, đời sống nông dân vô cùng cực khổ. Trước tình hình nóng bỏng của thời cuộc, Puskin không ngừng day dứt, suy ngẫm…Puskin đã viết cuốn Lịch sử Pugasov (1833-1834) khẳng định và ngợi ca vai trò của Pugasov, vị thủ lĩnh của phong trào nông dân khởi nghĩa. Cảm hứng về Pugasov thôi thúc nhà thơ viết tiếp tiểu thuyết với mong muốn “chất vấn quá khứ để trả lời cho hiện tại và tương lai”. Nhà thơ đã giành bốn tháng liền, đi về các vùng Uran, Cadan, Orenbua, đến tận căn cứ của cuộc khởi nghĩa, và lần theo dấu vết của các đoàn quân khởi nghĩa, đồng thời gặp gỡ các nhân chứng - lớp người cao tuổi từng chứng kiến… Trong cuộc hành trình này, Nhà thơ đã chú ý tìm hiểu văn hóa, phong tục tập quán những vùng dân cư dọc sông Vônga và hình ảnh Pugasov qua truyền thuyết, thơ ca dân gian....Và Nhà thơ đã nhận thấy rằng, theo cách nhìn của nông dân thì chỉ có đức vua Piôt Feđorovits, một con “chim đại bàng”, chứ không có gã Côdăc Pugasov, càng không có “tên phiến loạn” Pugasov như triều đình thống trị kết tội Pugasov. Điều nổi bật là khi viết Người con gái viên đại úy, chất lãng mạn trong thơ trữ tình Puskin trước đây đã được chuyển hóa, hòa tan trong từng chi tiết lịch sử cụ thể. Người con gái viên đại úy được kết cấu xoay quanh biến cố lớn là cuộc khởi nghĩa nông dân từng lan rộng trên hai phần ba lãnh thổ nước Nga, làm rung chuyển triều đình Sa hoàng, chứ không chỉ tập trung vào hoạt động của thủ lĩnh Pugasov, hoặc nữ hoàng Ekaterina II như một số truyện kể lịch sử khác thời đó. Mạch truyện được thể hiện đậm nét hiện thực ở cả hai phía: thế giới quan lại quý tộc và thế giới bị trị - đông đảo nông dân nghèo khổ - mà đại diện điển hình là lãnh tụ của  cuộc khởi nghĩa Pugasov. Trong mạch truyện tác phẩm được kết cấu song song đó là xung đột tình yêu tay ba đầy gay cấn, éo le mang đậm tính tiểu thuyết. Đó là mối tình lãng mạn giữa Masa - con gái viên đại úy Mirônov - và viên sĩ quan quý tộc trẻ Grinhov, từng bị thương trong cuộc đấu kiếm với gã sĩ quan Svabrin do xung khắc trong đơn vị. Chàng đã được nàng Masa cứu chữa, rồi từ đấy nẩy sinh tình yêu giữa hai người. Bố mẹ nàng - đại úy Mirônov - trong khi chiến đấu bảo vệ đồn Belôgo đã bị quân khởi nghĩa giết chết. Còn Grinhov vội vàng chạy về thủ đô xin cầu viện. Riêng gã Svabrin, sau khi đầu hàng quân khởi nghĩa đã được Pugasov cho làm đồn trưởng. Gã này lợi dụng thời cơ loạn lạc và chức vụ mới của mình tìm mọi cách cưỡng ép nàng Masa lấy hắn. Câu chuyện tình rắc rối được kết cấu song hành trên nền lịch sử bão táp của cuộc khởi nghĩa kéo dài trong thời gian ba năm. Tác giả không đi sâu vào ngõ ngách của hệ thống sự kiện xã hội, mà chủ yếu mở rộng mạch cốt truyện vừa hiện thực, vừa lãng mạn theo dòng thời gian và không gian được xác định. Mở đầu là khung cảnh gặp gỡ ngẫu nhiên trong đêm bão tuyết dữ dội giữa viên sĩ quan quý tộc Grinhov trên đường đi đồn trú ở phương xa và Pugasov, gã mugic dữ tợn như một lục lâm thảo khấu - được khắc họa bằng chi tiết thú vị không thể quên: đó là chiếc áo tulúp đắt tiền, mà Grinhov đã làm quà tặng cho Pugasov để trả ơn việc gã chỉ đường cho chàng khỏi lạc giữa mịt mùng bão tuyết. Grinhov vừa đến đồn Bêlogo thì quân khởi nghĩa đánh đồn, đại úy đồn trưởng bị giết chết, rồi đến lượt viên sĩ quan trẻ Grinhov phải bước lên giá treo cổ. Nhưng may mắn thay, người hầu trung thành với chủ đã nhận ra vị thủ lĩnh Pugasov chính là gã mugic dữ tợn đã được Grinhov cho chiếc áo tulúp đắt tiền. Và viên sĩ quan trẻ được tha bổng. Nhưng về sau, Grinhov lại bị triều đình bắt giam về tội đầu hàng quân khởi nghĩa, do gã sĩ quan Svabrin tố cáo. Phần kết thúc có hậu vui vẻ đẫm chất lãng mạn trong cảnh nàng Masa dũng cảm vượt hàng ngàn dặm đường muôn vàn khó khăn đến tận kinh đô để cầu cứu nữ hoàng Ekaterina II, nhằm thanh minh cho Grinhov. Xúc động trước mối tình trong sáng của cô gái mồ côi, mà bố mẹ đã chết vì bảo vệ chính quyền, nữ hoàng mở rộng lòng nhân từ tha bổng cho chàng sĩ quan và còn chúc phúc cho đám cưới của hai người. Nhân vật hư cấu Grinhov được thể hiện sinh động trong vai trò người thuật truyện. Điều đáng chú ý là: giai cấp quý tộc và Grinhov đều coi Pugasiov là “tên phiến loạn hung ác”, nhưng khi người tráng sĩ này xuất hiện trên chiến trường, thì viên sĩ quan Nga hoàng lại nhìn thấy một hình ảnh khác hẳn và phải nói là rất đẹp, rất oai phong, lẫm liệt: “... khắp thảo nguyên đã đông nghịt những người cầm giáo và cung tên. Trong đám họ có một người mặc áo caphơtan đỏ, cưỡi ngựa bạch, tay cầm một thanh gươm tuốt trần: người đó chính là Pugasov...”. Mặc dù chàng thanh niên Grinhov không bao giờ thừa nhận người thủ lĩnh nông dân là một “đức vua”, nhưng vẫn thành thật công nhận đó là một “ân nhân”, có “nét mặt đều đặn dễ ưa, không lộ vẻ gì hung ác”. Grinhov còn ngạc nhiên hơn nữa khi ở người này “có tiếng cười vui vẻ một cách hồn nhiên”, cũng chính người này tha chết cho mình và lớn tiếng nói: “đã giết là giết, đã tha là tha. Ngươi hãy đi khắp bốn phương trời, muốn làm gì thì làm”; hơn thế nữa Pugasov lại còn cho Grinhov cả áo ấm, tiền, ngựa và cấp giấy tờ để về chốn cũ, không quên chúc hạnh phúc đôi lứa cho họ. Hình tượng Pugasov được tác giả xây dựng theo điểm nhìn của nhân dân: đó là một người giản dị, dễ mến, gắn bó với đông đảo nông dân và hết lòng thương yêu mọi người, lại bộc trực, đầy khí phách anh hùng hảo hán với những nét bình dân vui, buồn, giận thương... được thể hiện rõ nét qua tiếng cười hồn hậu trong sinh hoạt đời thường, tiếng thét hùng tráng khi xung trận. Có chi tiết thú vị là Pugasov không biết chữ, cầm giấy đọc ngược và chỉ ký tên bằng một dấu chấm đen. Nét nhân từ càng hiện rõ khi biết Grinhov nói về việc đi cứu cô gái Masa thoát khỏi vòng vây cưỡng ép dưới quyền lực của gã sĩ quan Svabrin đểu cáng, Pugasov vội lớn tiếng quát: “Trong quân ta có đứa nào dám bắt nạt một đứa mồ côi. Dù hắn có ba đầu sáu tay cũng đừng hòng thoát khỏi trừng phạt. Người nói đi, đứa nào dám làm một việc khốn nạn như vậy. Rồi ta cho thằng Svabrin biết tay. Hắn sẽ biết trong quân ngũ của ta mà lộng hành và ức hiếp dân thì sẽ ra sao. Ta sẽ treo cổ lên cho mà xem”. Tính cách Pugasov được khắc họa theo nghệ thuật tiểu thuyết, nhân vật được cá tính hóa một cách sinh động, cụ thể tạo nên sức hấp dẫn mạnh mẽ. Từ vị trí một gã Côdăc “ẩn náu” giữa thảo nguyên mênh mông, từng nếm trải bao nỗi đắng cay, căm phẫn đối với bọn địa chủ quan lại, từng ôm ấp khát vọng tự do, rồi trở thành thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa, được tôn sùng như một vị hoàng đế trong truyền thuyết. Hình tượng này được ngòi bút tác giả miêu tả tập trung vào thời khắc lịch sử hào hùng nhất, đó là hai năm thử thách quyết liệt - hai năm tung hoành chiến đấu sinh tử với quân đội của triều đình, làm lay động cả nước Nga và được nhân dân suy tôn là hoàng đế Piôt Fêđorovits... như “chim đại bàng” tung cánh trên thảo nguyên bao la cho đến lúc phong trào thất bại. Người con gái viên đại úy quả là một tiểu thuyết lịch sử đặc sắc: yếu tố hiện thực lịch sử đan xen nhuần nhuyễn với yếu tố trữ tình lãng mạn xuyên qua hàng loạt nhân vật bình thường tạo nên sức thu hút mạnh mẽ và bền vững. Tính hiện thực sâu sắc, tính lịch sử hùng tráng, tính nghệ thuật cao và đậm đà tính nhân dân, tác phẩm Người con gái viên đại úy được xếp vào loại cổ điển, đã góp phần chắc chắn vào việc đặt nền móng cho thể loại tiểu thuyết nói chung và tiểu thuyết lịch sử nói riêng trong văn học Nga vào nửa đầu thế kỷ XIX. Đến cuối thế kỷ XX, Người con gái viên đại úy đã được dựng thành phim và ngay lập tức trở thành một bộ phim cổ điển trong nền điện ảnh Xô-viết.


Nói đến tiểu thuyết lịch sử Việt Nam hiện đại, người sớm đi vào đề tài lịch sử và lập kỷ lục cả về số lượng và chất lượng chính là nhà văn xứ Huế Thái Vũ (1). Điểm đáng chú ý là chàng trai trẻ Bùi Quang Đoài (BQĐ) đã khai mở nghiệp văn bằng cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tay “Cờ nghĩa Ba Đình” và cũng từ đây bút danh Thái Vũ chính thức xuất hiện trên văn đàn.


Thái Vũ từng “tuyên ngôn” rằng: “Viết tiểu thuyết lịch sử trước hết phải tôn trọng lịch sử, không hư cấu, bịa đặt, tùy tiện. Viết cuốn nào, mình cũng vẽ bản đồ khu vực diễn ra những sự kiện chính để tránh nhầm lẫn.…” Nhưng ông cũng đã nói: là tiểu thuyết, dù là tiểu thuyết lịch sử, làm sao tránh được “hư cấu”. Nhân vật hư cấu trong Cờ nghĩa Ba Đình là cô Thắm, không ngờ “bông hồng” ấy do chính tác giả “khai sinh” ra với bến đò Thắm từ huyện Hậu Lộc ra Nga Sơn, Thanh Hóa. Nói vậy để thấy rằng, ngay từ khi bắt tay vào viết tiểu thuyết lịch sử, Thái Vũ đã theo xu hướng nhiều khó khăn nhọc nhằn nhưng có nhiều cơ hội cho sự sáng tạo là xu hướng “tiểu thuyết hóa Lịch sử”.


Như là “Lịch sử chọn nhà văn” chứ nhà văn không được lựa chọn, Thái Vũ chủ yếu viết về những sự kiện lịch sử lớn, những nhân vật lịch sử cũng cỡ lớn cho nên vấn đề đặt lên hàng đầu là phải tái hiện chính xác các nhân vật lịch sử và các sự kiện lịch sử. Vì thế, những thao tác tỉ mẩn, cẩn trọng trong việc tra cứu, sưu tầm tư liệu lịch sử gốc với ai đó là “tra tấn” nhưng với Thái Vũ hình như ông rất say sưa. Đi tìm hiểu thực địa, những nơi các nhân vật lịch sử đã làm nên kỳ tích, những nơi những sự kiện lịch sử đã xảy ra là cả một kỳ công nhưng ông hăm hở lên con tàu “ngược thời gian” với khát vọng tìm tòi, khám phá mạnh mẽ. Chui vào Thư viện với những kho sách khổng lồ, miệt mài tra cứu tới mức quên ăn quên ngủ không làm cho ông hóa thành “con mọt sách” hoặc trở thành người ngơ ngẩn mà ông luôn ở tâm trạng “bừng sáng” khi phát hiện ra điều gì đó mới mẻ! Hãy xem ông nói về chuyện 5 năm trời (từ 1958 đến 1963) đã viết cuốn tiểu thuyết lịch sử đầu tiên “Cờ nghĩa Ba Đình” như thế nào?


Để có cuốn sách đầu tay Cờ nghĩa Ba Đình, có bao người đã đứng bên ông, giúp ông vượt qua chặng “vạn sự khởi đầu nan” ấy. Năm 1958, được Hội Nhà văn cho “vay” 100 đồng, ông đi Thanh Hóa tìm về những căn cứ và nhân chứng cuộc khởi nghĩa Ba Đình (**). Năm 1963, lại vào Thanh Hóa sống với cảm hứng bi hùng cùng những nghĩa quân Ba Đình như đang sống lại…Cũng năm 1963, lần đầu tiên, bút danh “Thái Vũ” được các thầy “duyệt”, xuất hiện trên Tạp chí Nghiên cứu lịch sử với bài viết khá chững chạc.


Thái Vũ kể: Khi tôi dự tính sẽ viết tiểu thuyết lịch sử về cuộc Khởi nghĩa Ba Đình, Viện trưởng Viện Sử học Trần Huy Liệu rất đồng tình. Thầy giáo tôi, Viện trưởng Viện Văn học Đặng Thai Mai cũng như cụ Lê Thước đều khuyến khích. Nói chung các thầy, các bậc cha chú như Hoa Bằng Trần Thúc Trâm, Thứ trưởng Bộ Nội vụ Lê Tất Đắc khi đó, nhất là các bạn bên Viện Sử học (có Lê Văn Lan) đều ủng hộ cung cấp thêm tư liệu. Trong sự quan tâm động viên nhiệt tình ấy, tôi đã cố gắng hoàn thành cuốn sách. Bản thảo “Cờ Nghĩa Ba Đình” viết lần đầu chỉ có 370 trang, thầy Trần Huy Liệu đọc xong, bảo: “Cứ theo sườn này, viết kỹ hơn nữa”. Lần hai, thành 600 trang. Nhà xuất bản lại nói: “Các cây đại thụ làng văn in dày thế này còn khó, ông thì… Thôi, rút gọn xuống 300 trang!”. Lại cặm cụi sửa chữa, nhưng Nguyễn Đức Đàn (2) nói: “Đừng gò bó. Viết thoải mái mới hay được!”. Và Nguyễn Đức Đàn nhiệt tình đọc từng trang bản thảo vừa ráo mực, có những ý kiến rất sâu sắc. Nhiều khi mải mê say viết quên ăn, Nguyễn Đức Đàn chạy đi mua bánh mỳ nóng hổi… Trong 6 tháng sửa chữa, bổ sung, bản thảo lần 3 lên tới  hơn 1.000 trang được hoàn thành. Nhưng trong điều kiện lúc đó chiến tranh bắt đầu “Leo thang”, sách chưa thể in ngay được. Từ năm 1976 đến năm 1981, NXB Quân đội nhân dân đã cho in với số lượng 30.000 cuốn trọn bộ 2 tập “Cờ nghĩa Ba Đình” của tôi. Sau đó, NXB Thanh Hóa in lại (1986-2000). Tuy vậy, viết mà vẫn áy náy về tên Quảng trường Ba Đình do ai đặt, và ai cũng nghĩ tên Quảng trường Ba Đình là do Bác Hồ đặt … nên tôi rất mừng khi biết được người đặt tên Quảng trường Ba Đình là bác sĩ Trần Văn Lai (3).


Có một vài chuyện “lấy làm tiếc” cho BQĐ - Thái Vũ và hẳn người ta sẽ nghĩ “giá như…” thì cuộc đời ông sẽ khác! Đó là chuyện BQĐ phải đổi tên thay bằng bút danh Nhiên Vũ, Thái Vũ... Ba truyện ngắn của Nhiên Vũ gửi dự thi chuẩn bị giành giải nhất, nhà văn Nguyễn Văn Bổng viết thư đòi gặp không được, theo địa chỉ đã tìm đến nhà Thái Vũ ở phố Lãn Ông. Khi biết tác giả ba truyện ngắn ấy là Bùi Quang Đoài, tác giả “Con trâu” cũng đành ngậm ngùi bỏ cuộc! Rồi chuyện Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên gợi ý cho Thái Vũ về dạy ĐHSP Vinh. GS Phạm Huy Thông khi đó là Hiệu trưởng ĐHSP Hà Nội gọi Thái Vũ về dạy. GS Đặng Xuân Thiều, thầy học cũ viết giấy nhận anh về Viện Khảo cổ do GS phụ trách. Nhưng Đoài không thích khảo cổ! Lại từ chối một lời mời sang Ấn Độ làm tùy viên văn hóa... BQĐ thẳng thắn với những ân nhân lẫn lời mời ấy rằng chỉ muốn suốt đời viết văn, cụ thể là viết tiểu thuyết lịch sử. Năm 1963, GS Đặng Thai Mai, Viện trưởng Viện Văn học nhận anh về Viện, BQĐ lại từ chối: "Cháu mong học ĐH để có trình độ và kiến thức để viết tiểu thuyết mà là tiểu thuyết về Việt Nam...". Nhà văn Nguyễn Khắc Phê (4) , người bạn văn đàn em thân thiết, trong một bài viết nhân sinh nhật lần thứ 80 của nhà tiểu thuyết Lịch sử, có nhận xét về Thái Vũ - BQĐ như sau: “Cuộc chơi mà Bùi Quang Đoài bày ra từ khi ấy dằng dặc cho đến cái tuổi chẵn bát tuần này có lẽ chả hoành tráng như nhiều người nghĩ. Bằng cớ tiểu thuyết của BQĐ chưa hẳn đã ăn khách lẫn nổi trội trong mặt bằng công luận! Tài năng lẫn những hay dở được mất... Tiêu chí ấy có lẽ nó cũng chỉ lòa nhòa, tùy theo tạng của mỗi người và còn là hậu xét nhưng tôi trộm nghĩ, dẫu có trục trặc ban đầu này khác nhưng trọn cả một cuộc đời trang trải chăm chút cho thú vui niềm say mê mà tự bản thân mình đã bày biện như Thái Vũ BQĐ lại cũng chả sướng sao! Cái bút danh Thái Vũ mà hai cụ Trần Huy Liệu và Hoa Bằng Trần Thúc Trâm đặt cho BQĐ có lẽ cũng chả uổng?”. Tôi nghĩ không hẳn là như vậy. Cái  “Bằng cớ tiểu thuyết của BQĐ chưa hẳn đã ăn khách lẫn nổi trội trong mặt bằng công luận!” mà Nguyễn Khắc Phê chưa ổn. Bởi bằng cớ là cái “mặt bằng công luận” kia không phải bao giờ cũng là khuôn vàng thước ngọc mà luôn có những sự không minh bạch (Xin xem “nội tình” cuộc chấm giải đầu tiên của Hội Nhà văn VN trong bài viết: Ngự Sử Văn Đàn Phan Khôi - Đỗ Ngọc Thạch) và nữa, ở xứ ta, khi chấm văn, người ta thường “chấm người” là chính chứ không phải là sự thẩm định công minh tác phẩm, chuyện nhà văn Nguyễn Văn Bổng vừa nói trên chỉ là một ví dụ nhỏ (Xin xem thêm tích truyện Trạng Me đè Trạng Ngọt ). Chuyện nhóm bạn cùng khóa đầu Khoa Văn ĐH Sư Phạm Hà Nội với BQĐ-Thái Vũ bị văng đi tứ tán, và hầu hết những người “thọ nạn” trong vụ NV-GP đều là những văn tài nhưng “mặt bằng công luận” lúc đó đâu có chấp nhận? Vì thế, đánh giá tác phẩm của một nhà văn, nhất là nhà văn “có vấn đề” thì phải có được nhà phê bình có “Con mắt xanh”. Rất tiếc là ở xứ ta, những nhà phê bình văn học có “Con mắt xanh” quả là “ngàn năm mới có một người”! Đành chờ vậy!...Dù sao, tôi cũng phải nói rằng, tiểu thuyết lịch sử của Thái Vũ có thể xếp vào hàng đặc sắc nếu chưa muốn nói là kiệt tác của văn học VN hiện đại, nhất là những tiểu thuyết lịch sự viết về Huế và vương triều nhà Nguyễn: Biến động - Giặc Chày Vôi (5), Huế 1885, Những ngày Cần Vương, Thành Thái - "người điên" đầu thế kỷ XX.


*


Cuộc “bút chiến” với GS Hoàng Xuân Nhị


Sau sự kiện “ông chủ bút Đất Mới” BQĐ dám tranh biện với GS Hoàng Xuân Nhị (6) về một bài báo, người ta đã riệt cho BQĐ theo đuôi nhân văn... Những đòn đánh “có tính hủy diệt” tới tấp giáng xuống chàng trai đầy triển vọng…”Đất Mới” mới chỉ ra được 1 số thì bị đình bản và ông chủ bút BQĐ bị đuổi khỏi trường ĐH Sư Phạm!...Vậy thực ra cuộc “bút chiến” của chàng trai trẻ BQĐ với GS Hoàng Xuân Nhị là như thế nào? Hãy đọc lài bài viết của Bùi Quang Đoài: Chủ nghĩa nhân văn của ông Hoàng Xuân Nhị”. Đây là một bài viết khá sắc sảo của BQĐ về một vấn đề lớn của Lý luận văn học, không chỉ lúc đó mà mãi về sau này: Tính Đảng trong văn học. Có thể nói bài viết của BQĐ là tuyệt bút bởi phê phán rất trúng những sai lầm của GS Hoàng Xuân Nhị! Hãy đọc lại một đoạn sau:


“Trong vấn đề văn học của Đảng, Lê-nin viết: “Tất cả văn học của Đảng, dù là địa phương hay Trung ương phải phục tùng một cách vô điều kiện Hội nghị của Đảng và những tổ chức địa phương hay trung ương của Đảng. Sự tồn tại của một văn học của Đảng mà không liên hệ với Đảng theo tổ chức thì không thể dung nạp được.” (Lê-nin toàn tập cuốn X, trang 144). Đó là thời kỳ trước cách mạng 1905-1907, Đảng Bôn-sê-vik tích cực hoạt động chống bọn Men và báo chí của chúng đang tuyên truyền xuyên tạc chủ nghĩa Mác-xít dưới danh nghĩa “mác-xít”. Ông Hoàng Xuân Nhị đã máy móc đưa thời gian lịch sử của thời kỳ trước cách mạng 1905-1907 đem áp dụng vào hoàn cảnh xã hội ta hiện nay. Chính trong nguyên tắc căn bản đó, Lê-nin đã nhắc nhở các nhà văn của Đảng là “Sự nghiệp văn học phải trở thành một bộ phận trong toàn bộ sự nghiệp của giai cấp vô sản, phải trở thành một bộ phận cấu tạo trong công tác của Đảng…” Theo tinh thần nguyên tắc đó các nhà văn của Đảng, các nhà văn đảng viên, các nhà văn viết trên báo chí của Đảng, tuyệt đối phải chịu sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, của tổ chức của Đảng, không được nhân danh Đảng để tuyên truyền những quan điểm chống Đảng (cuốn X, trang 31), và khi Lê-nin viết “đả đảo những nhà văn học phi Đảng” (mà ông Hoàng Xuân Nhị chú thích sai là chống lại Đảng thời ấy) chính là nhằm phản đối những nhà văn đảng viên chủ trương đứng trên tổ chức của Đảng, phản đối những nhà văn Men-sơ-vích tán thành sự công tác của nhà văn xã hội dân chủ với các tờ báo tư sản (lúc bấy giờ là giai cấp cầm quyền). Nó hoàn toàn không giống một chút nào với trường hợp của anh em Nhân văn và Giai phẩm đương đấu tranh đòi mở rộng tự do dân chủ chống những tệ lậu của lãnh đạo. Gán ghép như ông Hoàng Xuân Nhị tỏ ra rằng một là ông Nhị không tiêu hóa được tài liệu, hai là ông Nhị đã lợi dụng tài liệu một cách xuyên tạc. Nó không đúng với tinh thần trung thực của người trí thức.


Ông Nhị còn đề nghị:


“Bài của Lê-nin được viết ra cuối năm 1905 thời mà Đảng chưa lên nắm chính quyền. Đến lúc Đảng đã nắm chính quyền rồi thì lẽ cố nhiên nguyên tắc Đảng lãnh đạo và tổ chức lãnh đạo chuyên môn lại càng chặt chẽ hơn nữa”.


Sáng tỏ và chặt chẽ hơn, đồng ý. Nhưng chặt chẽ như thế nào? Có phải chặt chẽ là văn học nhất cử nhất động phải tuân theo ý kiến của một phái, chặt chẽ là chuyên môn vâng theo những ý kiến về chuyên môn của một số lãnh đạo không am hiểu về chuyên môn không?


Danh từ chặt chẽ buông xuôi như thế, rất có thể dẫn đến những sai lầm tai hại. Hoàng Xuân Nhị có nhớ kinh nghiệm đau xót của nhóm Prô-le-kun và nhóm R. A. P. P không?


Vấn đề thứ hai là vấn đề đảng tính trong văn học.


Lê-nin đã giải thích văn học có đảng tính như thế nào? Trong sự đấu tranh chống lại văn học tư sản địa vị chủ nghĩa, cá nhân chủ nghĩa, vô chính phủ v.v… “Lênin đã đề nghị sáng tạo ra một nền văn học xã hội chủ nghĩa, thực sự tự do và liên hệ công khai với văn học của giai cấp vô sản. Theo ý Lê-nin thì nền văn học đó phải thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa. Nó phải phục vụ cho hàng triệu triệu người lao động, những người con ưu tú, sức mạnh và tương lai của đất nước. Nền văn học đó phải là mối dây nối giữa kinh nghiệm quá khứ và cuộc đấu tranh hiện đại của giai cấp vô sản.” (B. Meilakh).


Văn học có đảng tính là như thế. Nó là một nền văn học “thấm nhuần tư tưởng xã hội chủ nghĩa, công khai bênh vực quyền lợi của nhân dân đứng trên lập trường của Đảng”. Cho nên văn học có đảng tính tuyệt đối không có nghĩa là văn học của những nhà văn trong tổ chức của Đảng. Càng tuyệt đối không có nghĩa là bắt buộc tất cả mọi nhà văn phải vào tổ chức của Đảng. Một tấm thẻ đảng viên không thể bảo đảm được đảng tính của một tác phẩm văn học. Trái lại một tác phẩm văn học có đảng tính rất có thể là của một nhà văn đứng ngoài tổ chức của Đảng.


Ví dụ: Mai-a-cốp-ski, Lỗ Tấn v.v…


Văn học có đảng tính nghĩa là văn học có lập trường đấu tranh rõ rệt trong “ý nghĩa thống nhất và tự nguyện” của những người sáng tác văn học xã hội chủ nghĩa. Như thế thì người sáng tác có đủ mọi quyền tự do của mình, tất nhiên cả quyền tự do tư tưởng, có quyền đi sâu vào từng sở thích riêng của mình. Lê-nin đã viết:


“Trong lãnh vực đó, tuyệt đối cần phải bảo đảm một sự tự do rộng lớn cho sáng kiến cá nhân, cho các khuynh hướng cá nhân, bảo đảm sự tự do tư tưởng và sức tưởng tượng, sự tự do về hình thức và về nội dung.” (Cuốn X trang 28)


Ta thấy ngày trước Lê nin đã có một quan niệm rộng rãi trong sự sáng tác văn học. Chính Lê-nin đã khiêm tốn trả lời Clara Zetkin khi họa sĩ này hỏi ý kiến Lê-nin về họa lập thể và vị lai:


“Tôi không biết nhiều về lãnh vực đó, nhưng tôi nghĩ rằng nếu những nhà nghệ sĩ trẻ tuổi biểu lộ nhiều cảm xúc của mình trước những xu hướng đó thì nó phải có một lý do hợp lý và người ta cần phải phân tích cái lý do đó theo quan điểm xã hội học”. (Les Lettres Francaices số 609).


Lê-nin đã không kết án phái họa đó và Lê-nin đã đặt vấn đề cần phải phân tích nghiên cứu nội dung xã hội của nó…


Do sự không phân biệt nổi hai vấn đề văn học của Đảng và văn học có đảng tính trên, nên chỉ quan niệm về tự do tư tưởng ông Nhị cũng đã ngã vào những sai lầm nghiêm trọng:


Hoàng Xuân Nhị chứng minh rằng sở dĩ các nhà văn nghệ được tự do tư tưởng là nhờ Đảng. Ông đã đem ví dụ con chim bay trên bầu trời xanh để làm chân lý phổ biến muôn đời. Trong lịch sử tư tưởng của con người, người văn nghệ sĩ cũng như người khoa học, triết học qua bao chế độ khác nhau, dù bị giai cấp thống trị hành hạ, giết chết cũng không vì quyền uy mà hủy bỏ ý kiến sáng tạo của mình: M. Servet và L. Vanini trên giàn củi lửa cũng không từ bỏ tư tưởng khoa học của mình; Cao Bá Quát đâu có vì lưỡi đao bạo lực của triều Nguyễn mà mất cái khí thế ngang tàng bất khuất của kẻ sĩ biết tự trọng.


Xuất phát từ lệch lạc đó, Hoàng Xuân Nhị cho rằng nhờ có Đảng mới có tự do tư tưởng. Như ý kiến tôi vừa trình bày, tôi hỏi lại ông Nhị là có Đảng rồi mới có quần chúng hay có quần chúng rồi mới có Đảng? Như thế thì rõ ràng là không phải có Đảng người văn nghệ sĩ mới có tự do tư tưởng mà ngay những thế kỷ trước cũng như thời kỳ trước cách mạng, mặc dầu thực dân đàn áp khủng bố, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan vẫn kiên quyết tự do tư tưởng, tố cáo "cái xã hội chó đểu" buộc tội giới cầm quyền bấy giờ. Lúc ấy họ ấy họ có là đảng viên đâu; chỉ có là sáng tác phẩm của họ chịu ảnh hưởng ít nhiều của phong trào đấu tranh cách mạng mà thôi.


Như thế thì tự do tư tưởng không phải là một vấn đề do Đảng ban ơn cho quần chúng như ông Nhị đã lầm tưởng. Sở dĩ quần chúng văn nghệ sĩ mến Đảng, tin Đảng, thừa nhận sự lãnh đạo là vì Đảng là người lính tiền phong trong đội quân tự do tư tưởng đó, đã đấu tranh vì quyền lợi của nhân dân lao động cũng là mục đích của họ đấu tranh trong sáng tác văn học. Đảng tạo điều kiện tốt cho người ta tự do tư tưởng.


Trên đây,   tôi đã  trả lời   ông   Hoàng Xuân Nhị   về một điểm   lý luận      chủ chốt trong bài   của ông”  (***).


Cần phải nói thêm rằng “Đất Mới” của BQĐ không hề có quan hệ với báo Nhân văn và các tập Giai phẩm và bản thân BQĐ cũng không “chơi” với nhóm NV-GP mà họ chỉ gặp nhau ở quan niệm “tự do sáng tác” - một vấn đề lớn nổi lên vào thời kỳ đó. Khi thấy nhiều người xúm vào “có ý đổ cho anh em Nhân văn và Giai phẩm là muốn tách rời văn nghệ khỏi chính trị, chịu ảnh hưởng của nhân văn tư sản, không chịu sự lãnh đạo của Đảng, nói xấu chế độ v.v…” thì BQĐ viết bài bênh vực. Đó là một hành động nghĩa hiệp, không phải ai cũng dám xả thân!


 Dù sao đi nữa, bài viết của BQĐ đã đối đầu với GS Hoàng Xuân Nhị, một người có công lớn trong cuộc chống NV-GP nên BQĐ bị kết tội “theo đuôi NV-GP” và bị “xử lý” cùng nhóm NV-GP là điều không thể tránh khỏi. Nếu không có Bộ trưởng Nguyễn Văn Huyên, GS Phạm Huy Thông, GS Đặng Thai Mai, Thứ trưởng Bộ Văn hóa Hà Huy Giáp vốn nhân ái lẫn liên tài... đã tìm nhiều cách kín đáo tháo gỡ, che chở cho Bùi Quang Đoài thì hẳn là chàng trai trẻ còn phải chịu sự “xử lý” nặng hơn! Mặc dù không được dạy bậc đại học, Bùi Quang Đoài vẫn yên ổn làm ở bộ phận tuyên truyền đối ngoại của Bộ Giáo dục và ở Báo Người giáo viên nhân dân...


*


Cuốn Những Chiếc Lá Thời Gian (Tuyển tập Thái Vũ) chỉ vừa chẵn 1000 trang. Phần tiểu thuyết lịch sử chọn trích in từ 7 tác phẩm chính đã xuất bản.  Phần Thơ đã giúp bạn đọc biết rõ một chân dung Thái Vũ hoàn chỉnh: đó là một Thái Vũ - nhà thơ. Thái Vũ đã dành phần mở đầu của “Tuyển tập” bằng những bài thơ, trong đó có rất nhiều bài thơ tình. Tuy Thái Vũ đã “khiêm tốn” mà nói rằng rằng: “Tôi không phải là “nhà thơ”, ai gọi như vậy, tôi rất... ngượng”, nhưng chính là nhờ xuất hiện trên văn đàn bằng thơ mà ông đã trở thành một hội viên sáng lập Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1957. Đó là bài thơ “Các anh” (viết về các Liệt sĩ) đăng trong “Tạp chí Văn nghệ” xuất bản ở chiến khu Việt Bắc từ năm 1953. Phần Thơ của “Tuyển tập Thái Vũ” chưa tới 50 trang sách, nhưng rất ấn tượng và cũng phần nào lý giải tại sao trong tiểu thuyết lịch sử của Thái Vũ chan chứa cảm hứng trữ tình và văn tự sự của Thái Vũ không chỉ có chất sử thi hùng tráng mà còn bay bổng chất thơ. Phần Tiểu luận hơn 200 trang gồm ba chục bài viết thể hiện vốn kiến thức sâu rộng và văn phong sắc sảo của Thái Vũ. Phần “Tiểu luận” còn có  những bài viết của các nhà phê bình về các tác phẩm của Thái Vũ và những trang “nói lại cho rõ” quan điểm của tác giả về viết tiểu thuyết lịch sử, giúp bạn đọc hiểu sâu hơn giá trị tác phẩm qua xuất xứ cũng như quá trình “mang nặng đẻ đau” hàng ngàn trang tiểu thuyết lịch sử của ông…


Bản thảo Hồi ức Giọt nước thời gian (2010) của Thái Vũ đã hoàn tất. Thái Vũ cho biết chuyện thân phụ và thân mẫu ông từng gặp cụ Nguyễn Sinh Sắc và cả bà Hoàng Thị Loan không chỉ một lần. Thái Vũ đã ghi lại lời kể của thân mẫu mình về những lần gặp gỡ đặc biệt này chỉ trong mấy trang sách - một việc mà ông “đành khấn hương hồn Ba Má tôi, mong tạ lỗi cùng anh linh các Người” vì “sinh thời Ba Má tôi đã “cấm” không cho viết trên sách.…” Nhưng đến cuối đời, ông đã viết ra vì nhiều người - các nhà sử học, nhà văn, đã khuyên ông hãy kể hết những gì mà ông biết, bởi lớp người ông – nhân chứng của nhiều biến động lịch sử, nhiều người ra đi đã mang theo luôn “bí mật” của cuộc đời, của lịch sử mà hậu thế cần biết.


Năm nay đã hơn 80  tuổi, nhưng Lão nhà văn Thái Vũ chưa ngưng nghỉ chuyện viết lách mà đang soạn tiếp cuốn “Nghiệp văn chương”, ghi lại những chặng đường đi tìm vẻ đẹp và những khúc bi tráng trong trang sử dân tộc; đó cũng là quá trình hình thành những cuốn tiểu thuyết lịch sử đã xuất bản. Lịch sử hào hùng của dân tộc ta là một kho báu mà các nhà văn khai thác không cùng - suy nghĩ đó của ông lúc nào cũng đúng. Hy vọng cuốn “Nghiệp văn chương” sẽ mau chóng hoàn thành…


*


Bài viết Những chuyến lữ hành của triết gia Trần Đức Thảo của Thái Vũ  (viết tại TP Hồ Chí Minh, ngày 15 tháng 12 năm 2006-talawas 3-3-2006) có thể nói là một bài viết “đinh”, có thể giúp chúng ta  hiễu rõ hơn cuộc đời cũng như văn nghiệp của Thái Vũ và phần nào những người liên quan, trước tiên là GS Trần Đức Thảo. Bài viết khá dài, xin dẫn một vài đoạn quan trọng:


- Về việc GS Trần Đức Thảo viết bài cho báo Nhân văn: “Và tháng 10 năm 1956, trên số 3 tờ Nhân văn xuất hiện bài báo “Nỗ lực phát triển tự do dân chủ” của GS Trần Đức Thảo. Thầy ơi, thầy đã suy tư từ hạt nhân duy lý của Hégel đến “vấn đề con người” và “sự hình thành con người”, nhưng từ năm 1956, phải chăng thầy như Prométhée thần thoại mang ngọn lửa về cho nhân loại đã bị nạn?”.


Trường hợp GS Trần Đức Thảo tham gia viết bài cho tờ Nhân văn là như vậy. Nhưng đâu chỉ riêng ông, ở nhóm đại học còn có GS Đào Duy Anh, GS Nguyễn Mạnh Tường, GS Trương Tửu, chưa nói đến các học trò khoa Văn vừa tốt nghiệp khóa đầu. Nói lan ra thì cả các bậc đàn anh, các nhà văn kỳ cựu từ trước Cách mạng tháng Tám 1945 như Nguyễn Tuân, Văn Cao và Nguyễn Huy Tưởng…, mấy ai có hơi hướng yêu cầu tự do dân chủ mà không bị ghép vào Nhân văn-Giai phẩm trong cái thời Bắc-Nam hai ngả với hai chế độ xã hội khác nhau, đối kháng nhau đó?


Để bạn trẻ sau này hiểu rõ hơn “vấn đề tự do dân chủ” được đòi hỏi tức thời những năm đó, cho dù khi tờ Nhân văn chưa ra đời vào hè 1956, nhất là khi bài báo “Trăm hoa đua nở” lại là “liều khởi động kích thích”… với lớp trí thức trẻ từ kháng chiến chống Pháp về công tác và học tại Thủ đô Hà Nội kể cả các địa phương khác và cả bên quân đội đều hưởng ứng...


Tôi cũng xin trích một đoạn sau đây của tác giả Phạm Thành Hưng trong bài báo “Triết gia lữ hành Trần Đức Thảo” đăng trên báo Văn nghệ của Hội Nhà văn số 17-18 (ra ngày 29/4/ và 6/5/2006): “Nội dung xã hội và những hình thức của tự do” cùng một số bài khác (của TĐT), công bố trong hai năm 1955-1956, thực chất chỉ là những suy nghĩ tìm tòi rất tự nhiên, chân thành của một học giả quen viết bằng tiếng Pháp và quen khái quát, trừu tượng hóa những vấn đề vốn rất rối rắm trong thực tế…”. Như thế để thấy rõ rằng những năm đầu tiên sau kháng chiến chống Pháp và tiếp quản thủ đô Hà Nội, cảng Hải Phòng, Hải Dương, Nam Định vùng đất cũ thuộc Pháp quả thật là “hạ tầng cơ sở” đã chi phối “thượng tầng kiến trúc”.


Quả là một nhận thức của một người có công tâm, cám ơn tác giả Phạm Thành Hưng. Vậy cái nội dung xã hội “rất rối rắm trong thực tế” hai năm 1955-1956, khi Trường ĐH Sư phạm Văn khoa nước VN Dân chủ Cộng hoà khai trương trong lòng một thủ đô bị địch chiếm mới được giải phóng là như thế nào? Đây là một xã hội được tiếp quản đang mang nhiều “sắc thái tự do” theo hướng TBCN - có thể nói là không thuần nhất: tự do trong sinh hoạt kinh tế, tự do trong sinh hoạt báo chí và xuất bản, tự do trong cả ngành giáo dục, cả tín ngưỡng lẫn pháp luật v.v…; khi chính phủ ta chưa áp đặt một cơ chế chính trị ổn định cũng là lúc Đảng và nhà nước ta đang sửa sai về CCRĐ (xem thêm bài của GS Tiến sĩ luật khoa Nguyễn Mạnh Tường đọc tại cuộc họp của Mặt trận Tổ quốc Hà Nội ngày 30/10/1956, đại diện cho trí thức ở thủ đô).


Triết gia Trần Đức Thảo vốn đã sống, học tập và sinh hoạt, tham gia các cuộc hội thảo và tranh luận về triết học “thoải mái” ngay giữa lòng thủ đô Paris mang nhiều sắc thái văn hóa châu Âu và thế giới. Ông “thanh minh” với ông Hà Xuân Trường vì sao ông viết bài về “Tự do dân chủ” đăng trên tờ Nhân văn số 3 vào tháng 10/1956, và cũng như tác giả Phạm Thành Hưng giải thích: “Bối cảnh chính trị phức tạp thời kỳ chiến tranh lạnh, sự ấu trĩ và lối nghĩ cơ hội của một số kẻ xấu bụng đã vô tình đẩy ông (TĐT) ra khỏi giảng đường”. Mà chỉ riêng đâu một mình GS Trần Đức Thảo trong cảnh bàng hoàng, ngơ ngác của những con người có “chủ nghĩa” mà các cụ ta xưa, thời Nho học tự hào là nguyên khí quốc gia! Ôi, nguyên khí quốc gia mới hiếm làm sao!”.


TV.


vanchuongviet.org

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhà thơ Nguyên Sa: Vẫn hỏi lòng mình là hương cốm - Lê Thiếu Nhơn 17.10.2017
Thơ thể loại “Hành” - Du Tử Lê 17.10.2017
Nhà thơ Thảo Phương: Dường như ai đi ngang cửa... - Lê Thiếu Nhơn 13.10.2017
Y Mùi với tập truyện ngắn “Người quê” - Phạm Viết Đào 12.10.2017
Trúc Thông: Phơi xanh giữa trời và lẳng lặng - Trần Nhật Minh 09.10.2017
Trong vườn thơ Trúc Thông - Nguyễn Trọng Tạo 09.10.2017
Vua phóng sự Ryszard Kapuscinski - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Hoàng đế – cuốn sách về chế độ toàn trị Etiopia - Maciej Skórczewski 07.10.2017
Sức sống vĩnh cửu của kiệt tác Búp bê - Nguyễn Chí Thuật 07.10.2017
Nghe Tô Hoài, đọc lại Vũ Bằng - Đỗ Trung Lai 02.10.2017
xem thêm »