tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20509178
27.06.2013
Vũ Bằng
Những cây cười tiền chiến (2)

III- Cái cười đa diện của các bạn trẻ du học Pháp 


Giai đoạn của những "cái cười du học Pháp"


Bánh xe lịch sử chuyển vần, văn học sử không đứng yên một chỗ. Cũng như tất cả các thể văn khác, văn cười, văn phúng thế, châm biếm Việt Nam, qua một thời kỳ chuyển tiếp, bước sang một giai đoạn mới, phồn thịnh hơn, súc tích hơn. Cho đến lớp Cuồng Sỹ, Tương Huyền, Kim Xuyên, chúng ta chỉ thấy cái cười qua các truyện tiếu lâm, các bài thơ tứ tuyệt, bát cú, các bài hát, các bài phú, cùng lắm là trong truyện ngắn, hay kịch ngắn, kịch dài. Những thi văn phú lục đó thường ký tên người viết, nhưng vì một lý do nào đó, có nhiều bài đến bây giờ bị coi như là khuyết danh.


Đơn cử cho những thơ phú khuyết danh này, ta có thể kể bài thơ Bách thú:


Dưới rặng cây xanh mấy dẫy chuồng,


Mỗi chuồng riêng một giống chim muông.


Khù khì vua cọp no nằm ngủ,


Nháo nhác đàn hươu đói chạy cuồng.


Lũ khỉ được ăn bầy lắm chuyện,


Đàn chim nỏ mỏ hót ra tuồng.


Lại thêm cầy cáo dăm ba chú,


Hì hục tranh nhau một nắm xương!


Cùng thuộc loại này, người ta còn nhớ những bài thơ mừng thọ Quận công Hoàng Cao Khải, bài vịnh Thái Hà ấp, bài Ông phủ cõng bà đầm, bài vịnh ông Tây câu cá ở Hồ Gươm, bài Hoàng trùng, vi trùng, v.v… Hầu hết những bài thơ này đều không in trong sách hay đăng trên báo vì một lẽ dễ hiểu: lúc đó là thời kỳ Pháp thực dân thống trị. Những loại văn thơ như thế mà in trên giấy trắng mực đen nhất định sẽ bị tịch thu, mà người viết không bị nát xương ở Côn Lôn, hay Lao Bảo thì cũng bị cầm cố chung thân hoặc phát vãng lên những chốn ma thiêng nước độc.


Do đó, thơ văn trào phúng, châm biếm chỉ được truyền tụng từ người này qua người nọ trong dân gian. Phải đợi đến lúc Việt Nam Quốc dân đảng nổi lên chống Pháp, thực dân biết không thể kìm hãm khe khắt quá, đành phải cởi mở cho làng báo làng văn ăn nói rộng rãi hơn một chút, người ta mới thấy những văn thơ châm biếm lần lần trông thấy ánh sáng mặt trời.


Đó là thời kỳ báo Trung Bắc về già cụ Bùi Xuân Thành để cho ông con trai là Bùi Xuân Học ra làm tờ Ngọ Báo xuất bản buổi trưa bán một xu một số. Nhiều người cho rằng lúc ấy Ngọ Báo chạy là vì tin tức nhanh mà bán rẻ, lại thêm có truyện ngắn và thơ trữ tình của Thanh Châu, Thanh Tử, Thanh Tùng Tử… Thực ra Ngọ Báo chạy còn vì một yếu tố khác nữa: đó là giọng văn giương Đông kích Tây, đá cạnh nói khóe của một lớp thanh niên được thời đại kêu là bọn “du học Pháp về”.


Hoàng Tích Chu, Chu Mậu, Nguyễn Đình Thấu, Đặng Trọng Duyệt… lần lượt ra tờ Đông Tây, Đời Mới, Chiếu Bóng, Cri de Hanoi, nhưng thực ra mấy tờ này cũng chưa có gì đáng kể, trừ tờ Cri de Hanoi viết văn châm biếm, vui cười bằng tiếng Pháp, ít được phổ cập trong dân chúng Việt Nam.


DUY TÂN TỜ BÁO CHÂM BIẾM TIỀN PHONG
TRONG LÀNG BÁO VIỆT NAM


Người đọc báo Việt Nam thực sự ham tiếng cười, mê tiếng cười và thi nhau mua báo cười để đọc bắt đầu từ lúc các tay du học Pháp nói trên xuất bản tờ Duy Tân. Đó là tờ báo cười cợt, châm biếm đầu tiên, một quả bom nổ trong làng báo lúc bấy giờ. Trong lúc tất cả mọi người đều trang nghiêm học tập Mạnh Đức, Tư Cưu, Tôn Văn, Khổng Tử, Mạnh Tử, Duy Tân đã làm trẻ hẳn lại cái không khí lụ khụ lúc bấy giờ bằng cách đưa ra một lối viết báo “quấy”, “nhộn”, “láo không chịu được”. Báo này quấy ngay từ cách trình bày.


Một phần tư tờ báo hàng ngày gấp lại, tức là tờ báo ra 6, có khi 4 trang khổ 21 x 30 mà bán mắc hơn cả một tờ báo hàng ngày bốn trang 60 x 90! Ai mua đọc thì mua, không mua cũng không cần! Ấy vậy mà ngay từ số đầu, báo này đã chạy không tả được. Ở dưới măng sét báo có in một khẩu hiệu: “Castigat ridendo mores” - “Cười cợt để sửa đổi phong hóa”. Nội dung có một bài xã thuyết dài bằng một ngón tay, ngoài ra những truyện kiểu “Rire”, “Frou frou”, một hai cái “pô tanh” liên quan đến thời sự, một bài ca trù hay thơ phú, có khi là một truyện ngắn châm biếm hay trào phúng. Thế là hết, nhưng mà lúc đó không thể nào có một tờ báo chạy hơn!


Chủ nhiệm của báo là Nguyễn Đình Thấu, con trai cụ Thượng Quỳ ở Hà Đông. Theo chỗ biết của riêng tôi, chính Thấu không hề có ý định ra một tờ báo như thế, nhưng vì trong những buổi họp mặt phá phách và vui nhộn với nhau, anh em thấy anh tếu không làm gì nên xúi anh ra tờ Duy Tân, làm chủ nhiệm để vui đùa, nhưng thực ra thì cũng vì một ẩn ý khác: anh em cho rằng Thấu làm chủ nhiệm thì ít có người dám lôi thôi, mà Tây có muốn giở trò gì thì cũng có cụ Thượng Quỳ đấy để làm bia đỡ đạn và che chở cho con trai đi Pháp học được mỗi một nghề là đúc chữ và đúc con. Tòa soạn tuyệt đối giữ bí mật. Nhưng những người làm báo lúc bấy giờ đều biết báo chí chỉ có hai người viết: một là nhà văn hiện giờ đạo mạo vào bực nhất, làm chủ một ấn quán lớn nhất, tức là ông Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, và một thi văn sĩ đã quá cố, từng lên trên núi xuống tóc làm cách mạng, huấn luyện quân sự cho quân đội VNQDĐ(1) đánh lại Việt Minh, tức là Tẩy Xìa (TchyA) Đái Đức Tuấn (khi nào viết văn đứng đắn thì ký một tên rất đẹp là Mai Nguyệt).


Ấy đó, tờ Duy Tân vẻn vẹn có hai “cha” đó, vậy mà đã làm nổi đình nổi đám một thời. Bây giờ nhắc đến tờ báo hạt tiêu “cha đẻ của báo châm biếm, hoạt kê, phúng thế”, những người thích “tếu” vẫn còn nhớ đến những truyện cười đứt ruột như Cái nút chai, Đôi giày của Mai Du Lân, những bài ca trù giễu Ngô Tất Tố, Đỗ Thận… hoặc những bài hát cô đầu Anh thợ cạo, Ông thầy bói có những câu bất hủ như:


Văng vào thầy bói hóa ra phát khùng…


- Thằng nào quẳng mỡ mồm ông?


Tục truyền bài thơ này là của ông Huyện Móm, tức là người đã làm bài văn tế Chiêu Quân bằng chữ Nho mà Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu dịch ra nôm, trong đó có những câu đẹp như mộng:


Cô ơi cô đẹp nhất đời,


Mà cô bạc mệnh, thợ Trời cũng thua.


Một đi từ biệt cung vua,


Có về đâu nữa, đất Hồ ngàn năm!


Duy Tân là tổ báo giễu, đồng thời cũng là thánh tổ báo chửi: chửi thời thế, chửi phong hóa, chửi xéo Tây và chửi luôn cả đồng nghiệp nữa. Điển hình cho lối chửi đồng nghiệp “có một không hai” trong làng báo Việt Nam là bài “chửi” Ngô Tất Tố. Nguyên Duy Tân có viết một bài về hai mươi ba Tết, ông Táo lên chầu Trời và trích một câu thơ:


Dăm ba ông táo dạo chơi xuân,


Đội mũ, đi hia, chẳng mặc quần.


Trời hỏi làm sao ăn mặc thế,


- Thưa rằng: Hạ giới nó duy tân.


Dưới bài thơ, Duy Tân ký tên là Tú Xương.


Ngô Tất Tố, bị Duy Tân giễu là “con mắt anh không sáng mà cũng không nhoèm, suốt đời anh không biết ăn kem Bờ Hồ”, nuôi một lòng tức sẵn, vớ được cái “hố” ấy, chửi Duy Tân là dốt và dạy: “Bài thơ ấy của Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu, ngu quá, thế mà bảo là của Tú Xương!”.


Ấy vậy mà các bạn có thể tưởng tượng Duy Tân đã trả lời thế nào không?(1).


Trả lời quấy như thế này:


“Ta bảo cho Đồ Tố biết: bài thơ ông Táo chính là của Tú Xương, người không được cãi! Nếu Tản Đà nhận là của y thì chính Tản Đà đã ăn cắp văn của Tú Xương mà y không biết đó thôi!”.


Phá đến như thế thì quả là không tiền khoáng hậu. Mỗi một câu là một sự “xỏ lá kềnh”. Ai cũng chửi; ai cũng giễu, chẳng tha người nào cả. Rút cuộc, Tây ghét mà ta cũng ghét. Nhưng Tây ghét, mà xét ra vô hại, Tây cũng mặc; duy có ta ghét thì không chịu để yên. Những người bị Duy Tân chửi bới tìm hết các cách để làm cho Duy Tân chết; đồng thời họ lại chơi một đòn rất “ma đầu” là viết hết thư này đến thư kia gởi cho cụ Thượng Quỳ, “chửi cha Nguyễn Đình Thấu lên”.


Hai ông Phùng Tất Đắc, Đái Đức Tuấn, thấy tình thế quá găng, rút lui có trật tự. Ông Khái Hưng, lắp ba lắp bắp, tưởng bỏ xông vào làm được mấy số thì cụ Thượng Quỳ không chịu nổi những lời chửi rủa của bạn “độc giả bốn phương” gửi về, đến xin ngầm với cụ Thiếu Hoàng Trọng Phu cho đóng cửa tờ báo quái ác kia lại. Thế là Duy Tân đi đứt, không kịp trối trăng với độc giả một câu, nhưng để lại cho làng văn làng báo Việt Nam cái tiếng là “thánh tổ báo cười cợt, châm biếm và phúng thế”.


LÃNG NHÂN PHÙNG TẤT ĐẮC KỂ LẠI CHUYỆN
LÚC LÀM BÁO DUY TÂN


Trong bài trên, chúng tôi đã tiết lộ hai cây bút cười của báo Duy Tân, “thánh tổ báo trào phúng, cười cợt ở Việt Nam”. Dưới đây, chúng tôi xin trích một đoạn văn của ông Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, một trong hai cây bút đó, nói về việc ông và Nguyễn Đình Thấu làm tờ báo Duy Tân:


“Năm ấy, 1930, chúng tôi tối nào cũng thường nằm bên khay đèn của Võ (theo chỗ biết của chúng tôi là Văn tức Đỗ Văn). Võ mỗi khi đã ngà ngà say, lại nghĩ ra những kế sách để hoán cải thế giới. Cũng may mà kế sách ấy sáng hôm sau anh quên đi hết, chứ nếu anh nhớ lại và lại thực hiện được thì đất nước này đã có đến ngàn lần cách mạng nổi lên rồi, chứ chẳng chơi!


“Một hôm, Võ đương mơ màng về sự sáng chế ra một thứ tia điện, mà gọi theo chữ đầu tên mình là tia V có khả năng chiếu xa mười cây số, chiếu vào đâu là đấy cháy tan ra tro hết. Anh lim dim mắt tả những ảnh hưởng khủng khiếp của tia V thì phía ngoài có tiếng giày lốp cốp đi vào. (Hồi ấy ít ai đi giày đế “kếp” êm ru như sau này các ông bộ của Ngô Tổng thống). Nhìn ra là anh Đình (theo ý tôi là Nguyễn Đình Thấu), một công tử từng du học bên Pháp đã được bằng lái xe hơi, đương ẩn cư ở Hà Đông chờ có trớn để phóng nước đại. Thấy Đình mặc cái sơ mi đã sờn cổ và tay, Võ hỏi:


“- Dạo này đã có việc làm gì cho vui chưa?


“- Chả có khỉ gì nên mới tìm đến các anh đây. Tớ có giấy phép ra một tờ báo lấy tên vớ vẩn là Duy Tân, có nghĩ cách xuất bản được thì làm giúp, chẳng nói các anh cũng biết, tớ thạo võ hơn văn.


“Võ hỏi ngay:


“- Có tiền không đã.


“- Nếu có, đã chẳng phải nhờ các bố.


“- Không cần nhiều, cứ nói ra có ngần nào mới tính toán được chứ.


“- Tớ hiện chỉ có mười đồng, mà có đi hỏi giật quanh chắc cũng chẳng được thêm bao nhiêu vì bấy lâu vay mượn khắp nơi đã nhiều.


“- Mười đồng cũng được rồi, để anh em đặt con toán xem thế nào. Ngần ấy tiền thì không ra được báo hàng ngày, cái đó đã hẳn. Phải ra tuần báo, lấy cỡ 21 x 27, một tờ báo gấp làm 8 thành 16 trang. Chí, tính phỏng xem nghìn đầu hết bao nhiêu tiền in?


“Chí (mà chúng tôi biết là Nguyễn Doãn Chí) lấy bút ra nghí ngoáy một lúc, ngẩng đầu lên nói:


“- Hai mươi bảy đồng.


“- Vốn có mười hãy đưa trước, còn thiếu mười bảy, để tao nói với cụ Bô (tức là cụ Nguyễn Văn Luận) cho mày trả nốt sau. Bây giờ hãy in thử số đầu một ngàn tờ, giá năm xu, vị chi là 50 đồng, hoa hồng trẻ bán báo mười đồng còn bốn chục, trừ 27 đồng in, lãi 13 đồng rồi con ơi; so với 10 đồng vốn thì gấp gần rưỡi rồi, làm được chứ nhỉ? Ấy là chưa kể những ngàn sau giá in rẻ hơn, còn lợi hơn nhiều nữa.


“- Ngộ ế thì sao?


“- Mình tìm cách không cho ế chứ. Không để ế lấy một tờ. Mà muốn thế, tất phải nêu ra một phương châm làm báo mới mẻ. Vậy anh em nghĩ cách nào thật hữu hiệu. Tao thì tao đặt ra cái nguyên tắc như thế này: Điều thứ nhất, chỉ có chửi, chửi thì ai cũng thích nghe; điều thứ hai, gọi những người tai mắt toàn bằng tên trống không, không có ông, có cụ nào hết. Cho nó lạ tai!


“Hai nguyên tắc chấp thuận xong, tôi được chỉ định viết những bài ngăn ngắn, góp thành mười trang, còn sáu trang thì trang đầu làm lời phi lộ, năm trang sau thơ và truyện ngắn sẽ cho Tuấn (Đái Đức Tuấn) phụ trách.


“Tôi miễn cưỡng lãnh trách nhiệm, rồi quay sang hỏi Tuấn:


“- Chửi ai bây giờ mới được chứ? Mình chẳng thù hằn với ai, biết chửi ai và chửi về cái gì?


“- Thì hãy cứ lấy những nhân vật thường bị thiên hạ chửi mà chửi túa thêm lên, dù không mới mẻ gì nhưng vẫn có người ưa xem. Rồi ta chờ có ai lên tiếng trả lời, bấy giờ sẽ có đầu đề đối thoại, tha hồ mà ra chuyện.


“Thế là bao nhiêu nhân vật tai tiếng của Hà thành được đem ra trưng bầy. Khi đến nhà in sửa bài, cụ bảng Bí đưa tập bài vỗ giơ ngang tay ra, nói bâng quơ:


“- Này các ông xem, bây giờ người ta viết lách như thế này đấy!


“Thì ra trong tập bài có vài dòng nói về lối văn tứ thời bát tiết của cụ và cụ bực nhất đã bị gọi trống không là Bí, không có tiếng tôn trọng cụ bảng như thường lệ. Sau cụ bảng, đến cụ Vĩnh. Cụ Vĩnh là chủ nhà in này, nên khi thấy có bài nhạo văn cụ Vĩnh viết cứ lê thê ba mươi dòng mới oong poong, thợ không dám xếp chữ, cụ Bô phải mời cụ Vĩnh lại xem có cho in hay không. Cụ Vĩnh đọc qua, phá lên cười, bảo:


“- Có sao đâu mà không cho in. Cứ cho người ta in!


“Lúc tôi lên kiểm duyệt (tôi phải đích thân lên kiểm duyệt vì cụ bảng Mộng trên đó là thầy học cũ, dễ nói hơn người khác), cụ bảng lật xem qua, hất hàm hỏi:


“- Bài xã luận đâu?


“- Thưa thầy, chúng con xin đưa sau, vì viết không kịp, hãy xin trình thầy chỗ này.


“Cụ bảng duyệt ngay, đinh ninh rằng còn có những bài đứng đắn khác đưa sau. Ai ngờ, lúc báo phát hành chỉ vẻn vẹn có bấy nhiêu, thật khác hẳn với các báo đương thời, báo nào cũng có xã luận làm cốt (Ty Kiểm duyệt thường chỉ chú ý riêng về bài này).


“Ngày báo ra là cả một sự sôi nổi trong các giới Hà thành. Một ngàn số bán veo trong buổi sáng. Được trớn số 2 in hai ngàn, số 3 ba ngàn, đến số 6 sáu ngàn, bấy giờ mới đứng ở mức này là mức cao nhất trong làng báo hồi ấy.


“Sở dĩ có đề tài viết tiếp trong những số sau chính là vì, như đã tiên đoán, các báo không ai muốn dây với Duy Tân, biết rằng sẽ như dây với hủi, riêng trên báo Đông Phương, ông Đồ Tố say máu trả lời, khiến cho các cuộc bút chiến kéo dài tới 14 số liền, phần nhiều là Duy Tân cãi cối và nói xược, để trêu tức nhà nho. Tới số 12, tôi bận việc phải dời Hà thành. Khái Huyết (tức là Khái Hưng) ở nhà quê lên viết thay và cũng từ đây, báo thiên về đả kích sự dâm bôn và thủ đoạn lừa bịp hay bỉ ổi của nhiều nhân vật, gây ra trong đám nạn nhân một sự phản ứng dữ dội. Một chủ ngựa thi đem dăm chú dô kề đến định hành hung Đình (Nguyễn Đình Thấu), nhưng lúc ấy Đình không có ở tòa báo; nhiều người khác cũng viết thư dọa dẫm, khiến anh ta phải trang trí văn phòng bằng gươm dao treo lố nhố trên tường. Đình vốn có tiếng là “du côn” nên những lời đe dọa tuy bay đến tới tấp nhưng rốt cuộc không ai đem thực hiện cả, báo vẫn thản nhiên tiếp tục đường lối đã hoạch định. Nhưng bị bới móc mãi, ai mà chịu nổi: người ta không trả lời bằng cách này, ắt cũng trả lời bằng cách khác. Thì quả nhiên sau đó ít lâu, ngày ngày hàng chục lá thư bảo đảm gửi đến cho thân phụ Đình, một vị hưu quan, mắng ông này là không biết dạy con. Ông cụ bực mình, lên phủ Thống sứ yêu cầu rút giấy phép báo. Tính ra trước sau Duy Tân ra được 22 số.


“Lý do báo chạy gấp đôi báo khác, không hẳn là ở điểm nhiều độc giả hơn, phần lớn là tại cha mẹ mua báo không dám cho con xem, em mua báo không cho anh biết, một nhà có khi mua đến ba bốn tờ, trong khi báo khác chỉ cần một tờ là đủ.


“Ngày báo bị đóng cửa, Đình làm một đám ma có xe đòn đi đưa, có phường kèn thổi bài Marche funèbre, do ông Louis Chức đài thọ. Đám đi diễu vài phố lớn rồi quay về đỗ ngay cửa nhà hàng Đông Hưng Viên, các anh em đưa đám dắt tay nhau lên lầu ăn tiệc mừng, cười nói oang oang.


“Trong những ngày đấu tranh bằng văn tự, ai cũng cảm thấy cái khoái đắc thắng của một việc làm ngang tàng độc đáo, không ai kịp nghĩ đến hậu quả của nó. Là tuy đã bày ra được những xấu xa có thực của một đời người, để cho họ tu tỉnh lại và để nêu gương cho kẻ khác, song có biết đâu rằng sau khi báo Duy Tân chết ba mươi năm, có người gặp tôi ở miền Nam hãy còn trách móc là đã làm đau lòng cho cả một gia đình suốt bao nhiêu lâu. Tôi tìm trong trí nhớ mới hiểu căn nguyên là do bài thơ của ông Huyện Móm tả một sự kiện trớ trêu “tham vàng bỏ nghĩa, già chẳng trót đời” xảy ra ở miền Trung du Bắc Việt vào khoảng năm 1915, mà về sau Tuấn (Đái Đức Tuấn) đã đem kể lại bằng một thiên truyện ngắn, tất nhiên là có gia thêm nhiều mắm muối cho tươi đậm.


“Cái khẩu nghiệp do ông Huyện Móm gây ra, đến Tuấn đem diễn tả lại sau này, cả họ nạn nhân lại quy vào tôi, tôi áy náy mãi, không phải vì mình bị ngờ oan (tôi sẵn lòng chịu lỗi chung cùng đồng đội) mà vì nhận thấy rằng một lời nói xấu, không phải chỉ xấu cho một người mà còn xấu lây cho cả thân quyến của họ, là những người chỉ có cái lỗi đứng trong gia tộc kẻ trót làm nên tội, ngẫm ra sự đả kích đã đi xa quá mục tiêu, đến cái mức bất công…”.


BA THỂ VĂN PHÚNG THẾ MỚI RA ĐỜI


Nói cho thực, các tay “du học Pháp về” lúc đó quấy không chịu được, làm cho cả Pháp thực dân lẫn quan lại bực mình, mà chính ngay dân chúng cũng phải phàn nàn bọn “ông mãnh” và rủa là “trời đánh không chết”, nhưng muốn công bình, ta phải nhận là công họ đối với cuộc cách mạng làng văn làng báo không phải nhỏ.


Tờ Ngọ Báo, vì vấn đề nội bộ, không dung nạp được Hoàng Tích Chu, Phùng Bảo Thạch, Tạ Đình Bính, Tam Lang Vũ Đình Chí đã buộc Bùi Xuân Học phải gạt nước mắt mà giã biệt anh em. Tập đoàn Hoàng Tích Chu ra tờ Đông Tây mới đầu dưới hình thức tạp chí, rồi sau ra thành tuần báo in măng sét đỏ, không phổ cập trong dân chúng lắm, nhưng có những câu thơ phúng thế cay chua của Á Nam Trần Tuấn Khải như:


Trên chiếc ô tô con chó ngồi,


Dưới chiếc xe bò thằng người lôi…


Nhưng thích vậy thôi, chớ không có gì “sôi động” lắm. Phải đợi đến lúc từ tuần báo in măng sét đen chuyển sang báo hàng ngày, khổ báo Canard Enchainé in măng sét đỏ, người ta thấy nhiều cái mới lạ trong các mục.


Đó là thời kỳ Lãng Nhân Phùng Tất Đắc làm chủ bút, đưa ra mục “Trước đèn” lý sự cùn (lúc ấy chỉ đề tít bài thôi), có những bài giễu hóm hỉnh, lý luận chướng phè phè (như những bài: Cái trống, Ông Khổng Tử mặt như quả dưa bở, v.v…) và trang ba có bài “Chuyện đâu” ký là Văn Tôi, do Phùng Tất Đắc và Hoàng Tích Chu cùng viết, tán phó mát, giăng đa bà cụ, đôi khi chẳng có gì mà có duyên đáo để, làm cho thiên hạ mê như điếu đổ.


Hai loại văn phúng thế ấy, đối với thời kỳ đó, là cả một sự mới lạ, chưa từng thấy bao giờ, một viết theo kiểu “Mon film” của Cléuent Vautel và một theo kiểu “Propos du huron” của De Lafouchardière.


Lãng Nhân Phùng Tất Đắc và Văn Tôi Hoàng Tích Chu đều đem những vấn đề thời sự ra suy luận ngược đời hay nói xa nói xôi, nói lôi thôi xích chó để kết cục giễu những thói tục xấu xa hay những nhân vật quái thai của thời đại một cách hỏm hỉnh, nhã nhặn, khác hẳn lối trào lộng ngổ ngáo và hơi “đểu” của Duy Tân.


Cũng vào thời kỳ này, với tư cách chủ bút, Lãng Nhân Phùng Tất Đắc đã đem đến cho tờ Đông Tây một thể văn phúng thế mới theo kiểu “Portraits” của La Bruyère - một thể văn mà trước cho tới lúc đó, Việt Nam ta chưa có. Ấy là lối văn châm biếm tả người nịnh, người lười, người ăn nên làm ra, trọc phú, dâm dật, v.v… đặt dưới một đề mục là “Cuốn phim”, “Nam hải dị nhân”.


Đọc những bài trong loại văn hoạt kê này, người ta mường tượng đến bài văn tế của Yên Đổ Nguyễn Khuyến tế Ngạc Nhi (Franicis Garnier):


Nhớ ông xưa:


Cái mắt ông xanh,


Cái da ông đỏ,


Cái tóc ông quăn,


Cái mũi ông lõ.


Đít ông cưỡi lừa,


Miệng ông huýt chó,


Lưng ông đeo súng lục liên,


Chân ông đi giày có mỏ.


Ông ở bên Tây,


Ông sang bảo hộ,


Ông dẹp Cờ Đen,


Để yên con đỏ.


Nào ngờ:


Nó bắt được ông,


Nó chặt mất sỏ.


Cái đầu ông kia,


Cái mình ông đó,


Khốn khổ thân ông,


Đù mẹ cha nó…


Cùng một lúc với Đông Tây, Ngọ Báo (lúc ấy do Tam Lang Vũ Đình Chí làm chủ bút) cũng tả những nhân vật thời đại bằng lối văn châm biếm, nhưng Vũ Đình Chí nổi tiếng nhất với lối văn phúng thế, chơi chữ. Ấy là lúc anh làm chủ bút Tin Mới của bác sĩ Luyện, mỗi ngày sản xuất một bài “phim”. Thực ra, Tam Lang Vũ Đình Chí viết loại này đã lâu, từ báo Thực Nghiệp với bút hiệu Thiên Lý Kính, nhưng không được ai để ý. Văn châm biếm của Tam Lang chỉ được người ta chú ý nhiều nhất từ tờ Ngọ Báo, nhất là tờ Tin Mới, và có một lúc người ta rất ưa cái lối chơi chữ của anh như cắt tóc xoay đi xoay lại thành cắt… óc, ông lang chữa bịnh không khỏi bị người ta đánh chạy làng rồi… la làng ầm lên! Những bài châm biếm ấy viết trong mục “Chén thuốc đắng”, “Đĩa mứt gừng” và sau này Tô Chân Nho đã có lúc sưu tập lại in thành một cuốn đề là Lọng cụt cán, phần nhiều in lại những bài văn châm biếm viết trên Ngọ Báo, Việt NữViệt Báo dưới bút hiệu “Tam Lang”, có khi là “Lang Tam”.


TỪ KIỀU TÂN THỜI ĐẾN THƠ, PHÚ NHÁI CỦA TẨY XÌA


Có lúc tôi nghĩ rằng thời kỳ này là thời kỳ phát triển nhất của cái cười Việt Nam. Các thể văn châm biếm, hài hước thi nhau ra đời trong khi ngành văn dịch thuật cũng đưa ra nhiều cái cười ngoại quốc. Nhà xuất bản Nhật Nam ở Hàng Gai vừa cho ra một hoạt kê tiểu thuyết dịch của Tàu nhan đề là Nhật ký sợ vợ thì trong ngành trước tác ta cũng thấy mấy cuốn sách hoạt kê châm biếm ấn hành: Lọ Văn của Tiêu Liêu, Tôi rất ghét đàn bà của cùng một tác giả, nhưng làm cho người ta chú ý và tìm đọc thích thú lúc ấy chính là cuốn Kiều tân thời của Bạch Diện. Cuốn Kiều tân thời đưa ra một lối văn hoạt kê mới: lối văn nhái. Kiều của Nguyễn Du trang trọng bao nhiêu thì Kiều tân thời quấy bấy nhiêu - nói theo kiểu bây giờ “nham nhở” bấy nhiêu.


Nhưng Bạch Diện là ai? Đó là một ký giả nhà nghề nhưng không được mấy ai biết tiếng vì lẽ anh ta rất khiêm nhường, miễn là làm ăn có xu tiêu, còn thiên hạ muốn nói gì, anh ta gác bỏ ngoài tai hết. Mà không gác bỏ cũng không được vì Bạch Diện, tên thật là Nguyễn Văn Cư, “nặng tai”, muốn nghe người ta nói gì cũng không nghe được dễ dàng (bởi vậy anh ta có sước hiệu của anh em tặng là Cư Điếc). Mà tội nghiệp, lúc ấy, đã làm gì có cái máy nghe để đút vào lỗ tai hay lắp vào gọng kính như bây giờ!


Cư Điếc làm trợ bút Việt Báo, Ngọ Báo, sau này làm thư ký tòa soạn cho tờ Liên Hiệp của Soubrier Văn Tuyên. Anh viết được mọi thể văn, làm thơ trào phúng, viết mục “Phim hàng ngày” đề là “Thiên hạ sự” và ký cái bút hiệu “Bút Nguyên Tử” của anh em để lại.


Đến đây, tôi phải thú thực một điều: Bạch Diện có viết một cuốn Kiều tân thời thực nhưng sáng kiến ấy chính là của Cuồng Sỹ Tạ Mạnh Khải. Có hai cuốn Kiều tân thời xuất bản vào hồi ấy, cuốn nào của ai viết trước, cuốn nào của ai viết sau, tôi không nhớ, chỉ nhớ rằng có nhiều người đã cười “bằng thích” với những câu như:


Trăm năm trong cõi người Ngô,


Chữ tài chữ mệnh khéo vồ lấy nhau.


Trải qua một cuộc để râu,


Những phen vợ giật mà đau đớn cằm…


… Vào năm đít nớp tăng xanh,(1)


An Nam phẳng lặng, Tông Canh(2) vững vàng.


Có nhà thằng mõ họ Vương,


Gia tư nghĩ cũng thường thường thịt xôi…


Một trai công tử hạng tồi,


Vương Quan là chữ nối đòi vét niêu.


Đầu lòng cô ả Thúy Kiều,


Thứ hai cô ả mỹ miều Thúy Vân.


Mai cà rỉ, tuyết cà mèng,


Mỗi người một vẻ ho hen cả mười!


Mấy câu thơ trích trên đây, nhiều người cũng như tôi, không biết của Cuồng Sỹ hay của Bạch Diện. Bây giờ cả hai đều cũng qua đời, người viết bài này không còn biết hỏi ai, nhưng các bạn còn sống hiện nay ngờ rằng cuốn Kiều tân thời thứ nhất là của nhà thơ khôi hài Cuồng Sỹ.


Có thể nói rằng Kiều tân thời mở đầu cho loại văn nhái trong hoạt kê văn học sử nước ta. Sau đó, có nhiều nhà văn thơ khác cũng bắt chước làm Kiều tân thời và làm thơ văn nhái, nhưng hoặc vì không in trên báo hay trên sách, hoặc vì trước tác ít mà không nổi bật lên được, nên không ai nhớ tới. Chỉ có một người sau này nổi tiếng về thơ nhái: đó là Tẩy Xìa Đái Đức Tuấn lấy thuốc phiện để nhái bài Bình Ngô đại cáo, và sau sau này đến thời Ngô Đình Diệm cũng lấy bài ấy để kể tội nhà Ngô, ngày Nguyễn Đình Quát ra tranh cử tổng thống Việt Nam. Sau này, thơ nhái lên hương; người ta thấy dân gian nhái cả những bản nhạc, kể từ bản quốc ca hồi Việt Minh mới lên nắm chính quyền: Đoàn quân tàu ô đi, chung lòng bán nước… hay nhái những bài như “Giò này giò nóng, ai muốn mua thì mua…” theo bài hát J’ai deux amours của Joséphine Baker hồi đó được thanh niên thiếu nữ gân cổ lên mà bắt chước.


NHỮNG NHÀ VĂN CHÂM BIẾM NỔI TIẾNG VỀ MỤC “PHIM”


Tuy nhiên, trong tất cả các thể văn trào phúng, châm biếm mới đó, chỉ có một thể trường tồn: Đó là mục “Phim đuy dua”(1) theo kiểu “Propos du Huron” của De Lafouchardière mà người đầu tiên du nhập vào nước ta và làm nổi bật là Hoàng Tích Chu.


Hoàng Tích Chu, biệt hiệu là Kế Thương khi viết Nam Phong, Khai Hóa; ký Hoàng Hồ lúc làm Ngọ Báo; là Văn Tôi lúc làm Đông Tây, là một sinh viên du học Pháp có một công lao rất lớn là cách mạng làng báo Việt Nam, đem nhiều sáng kiến lạ đến cho tờ báo và cũng là người đầu tiên dám thoát khuôn sáo cũ, đưa ra một lối văn cụt, phổ thông, đại chúng, nôm na để nói lên những sự thực lắm khi trắng trợn, khả dĩ làm cho người ta thích thú.


Văn ông có một cái duyên kỳ lạ. Nói cho thực thì lắm khi về ý, nhiều bài “Chuyện đâu” chẳng có gì; nhưng người ta vẫn cứ mê và chờ đọc, y như là truyện Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách bây giờ đọc lại không có gì vượt mức, nhưng vào thời ấy thì làm cho thiên hạ say mê không chịu được. Vì có Tố Tâm, tiểu thuyết tình về sau mới phát triển, thì vì có “Chuyện đâu”, các nhà văn châm biếm, đà hài hước ấy mới phát triển lạ lùng cho đến ngày nay.


Ngã vào làng báo mấy chục năm và từng đứng ra cộng tác hay tổ chức nhiều tờ, sống lâu có, chết yểu có, tôi nghiệm thấy một điều này: cứ sắp ra một tờ báo nào - hoặc hàng ngày, hoặc hàng tuần - thể nào cũng có ít ra vài chục ông bạn đến chơi nói chuyện và vui lòng nhận viết giúp cho mục “Phim đuy dua” kiểu “Chuyện đâu”, vì ông nào cũng tưởng là mình “hóm hỉnh”, “có duyên”, viết cười cợt, châm biếm tài tình có một, bỏ xa tất cả những người khác, nhất là những nhà văn tiền chiến!


Sự thực đâu có thế! Nếu trong văn chương mà có một thể văn nào khó viết, mà lại đòi hỏi nhiều “trí khôn” và duyên dáng cũng như kiến thức, tôi ngờ rằng đó là cái thứ văn cười cợt châm biếm vừa nói trên kia.


Đa số người cầm bút tưởng đâu là dễ, nhưng nếu cứ để cho các ông ấy giữ mục đó cho tờ báo, có nhiều phần chắc chắn là chỉ dăm ba số thì các ông cạn nguồn cảm hứng. Ấy là thí dụ các ông ấy viết được. Thực ra, tưởng mình viết được là một chuyện, mà viết được thật lại là chuyện khác: làng báo, làng văn ta đã từng được thấy bao nhiêu “cây bút hoạt kê, châm biếm bất đắc dĩ” ấy không biết làm trí khôn thế nào, đã xoay ra chửi càn, chửi bậy, đào ông bới cha người ta lên để đi đến một kết quả là bị mang lấy cái tiếng là quân vô học.


Viết văn hoạt kê châm biếm theo thể văn “phim”, người viết phải tỏ ra có học hơn các nhà văn khác và ngộ nghĩnh hơn các nhà văn khác. Không kể các cây cười như Phùng Tất Đắc, Hoàng Tích Chu mà tôi đã nói trên kia, trong các nhà văn tiền chiến ở vào giai đoạn của những cái cười “du học Pháp về”, tôi nghĩ cũng không có bao lăm người đáng kể. Cố nhiên tôi không nhớ được hết, vì thế tôi chỉ kể những người mà tôi nhớ, hoặc vì đã được thưởng thức văn cười của họ, hoặc vì đã cộng tác với họ trên trường văn bút.


Tôi nhớ trước hết cụ cử Mai Đăng Đệ, biệt hiệu là Tam Hữu, lại còn một bút hiệu khác là Trúc Sơn. Đó là thời kỳ báo Trung Bắc Tân Văn phá sản, cụ Nguyễn Văn Vĩnh nhường tờ báo lại cho cụ Lỗ Thư Nguyễn Văn Luận. Vì được ở gần các cụ Hoàng Tăng Bí, Dương Bá Trạc, Nguyễn Đỗ Mục, Dương Phượng Dực, Doãn Kế Thiện, tôi được biết, ngoài những bài xã thuyết ký tên Tam Hữu, cụ cử Đệ còn phụ trách mục cười cợt châm biếm của tờ Trung Bắc Tân Văn lúc bấy giờ và ký tên là Lẩn Thẩn Tiên sinh. Những bài này đăng ở trang nhất, cột ba, dài chỉ một gang tay, nhưng gàn dở có sách, có nghĩa lý lạ lùng, là nhờ cụ đọc sách chữ Nho cả cũ lẫn mới nhiều nên kiến thức súc tích và ăn nói đâu ra đấy. Trong thời kỳ này, cũng trên Trung Bắc Tân Văn, Lê Văn Trương cũng viết một loạt bài cười cợt châm biếm dài hơn, đăng ở trang ba, ký tên là Cô Lý - vì anh mê một cô có tên là Lý - nhưng không đăng tải thường xuyên.


Sau một thời gian xa cách Hà thành, tôi nhận thấy Thông Reo - có người bảo là Phan Khôi, nhưng có người bảo là một tập đoàn chung nhau cùng viết - viết mục cười cợt này đã khéo và chửi xỏ chửi xiên đã tài. Đồng thời Nguyễn Văn Bá viết “phim” bằng chữ Pháp đăng trên báo của Nguyễn Phan Long, Bùi Ngọc Ái thì khùng khùng dở dở mà viết “phim” cho báo của Vũ Đình Dy hay đáo để. Hy Tống giữ mục ấy cho báo Annam Nouveau của cụ Nguyễn Văn Vĩnh. Nhưng ba ông sau này viết “phim” bằng tiếng Pháp.


Về Việt văn, phải chờ đến báo Công Dân, Tương Lai, ta mới thấy Nguyễn Triệu Luật đôi khi viết bài cười cợt, châm biếm, xỏ xiên ký là Dật Lang, Phó Cối, Phó Nhòm; Vũ Trọng Phụng ký là Thiên Hư; Phùng Bảo Thạch ký là Bảo Sơn, nhưng tất cả mấy ông nầy đều là viết chơi viết bời. Nếu trong các nhà văn tôi được biết trước đây mà có một “chuyên viên” về lối văn cười cợt châm biếm mệnh danh là “Phim”, “Chuyện phiếm”, “Nói hay đừng”… chúng ta phải kể một nhà văn nổi tiếng đạo mạo, tác giả những pho sách giá trị như Văn chương đời Lê, Văn học đời Trần, Mặc Tử, Vương Dương Minh… Đó là Ngô Tất Tố, một nhà Nho học rộng, tài cao mà báo Duy Tân vẫn chế giễu xỏ xiên kêu là “Đồ Tố” và “nói xưng xưng” lên là “mắt nhoèm, suốt đời không biết ăn kem Bờ Hồ”.


Trên mấy tờ báo Dư Luận, Tương Lai, Công Dân, Việt Nữ… Ngô Tất Tố đã tỏ ra là một tay châm biếm vào hạng “pho”, giữ thường xuyên mục đó và ký là Ngô Công (muốn hiểu là ông Ngô hay con rít đều được cả!).


Tôi rất tiếc là lúc viết tập bài này, tài liệu về các báo xuất bản ở Hà Nội vào lúc đó không có cách gì kiếm được nên tôi không thể trích ra một ít đoạn văn phúng thế của Ngô Công để làm mẫu mực khôi hài, châm biếm; nhưng bây giờ tôi vẫn còn nhớ những bài hóm hỉnh, súc tích, xỏ xiên một cách văn vẻ, nói năng một cách “đểu giả nên thơ” của Ngô Công chửi ông Thiếu Hoàng Trọng Phu, Thống sứ Tholance, viết rất tài tình, như bài Mưa theo xe chẳng hạn… đọc lên mông lung, xổ ra không biết bao nhiêu điển tích về mưa về gió, rồi kể lại sự tích thế nào là “mưa theo xe” để kết cục chửi Thống sứ Tholance, hết hạn ở Đông Dương về nước, trời giáng cho một trận mưa để rửa hết rác rến, dơ bẩn, xấu xa mà ông đã làm ở Việt Nam…


Cái tài châm biếm của Ngô Tất Tố, trong quỹ đạo văn phúng thế, thật là đa diện: cái gì cũng biết tí ti, Nho có, Tây có, lúc cần, xổ thơ chữ Nho, nhớ không biết bao nhiêu ca dao tục ngữ, mà lại có tinh thần Nho giáo, ăn nói sâu xa, ý nhị, chua cay mà vẫn hòa nhã, xỏ xiên mà không đến nỗi làm cho người bị giễu mất mày mất mặt…


Riêng tôi, tôi nhận Ngô Tất Tố là một “cây chuyện phiếm” mà cho đến bây giờ - vẫn theo ý kiến thô lậu của tôi - ít có cây bút phúng thế nào sánh kịp.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Có lẽ là quân đội Việt Nam Quốc dân đảng - (NBT).




(1) Theo chỗ biết riêng của chúng tôi, bài thơ này không phải của Tản Đà mà cũng không phải của Tú Xương, nhưng của một nhà thơ tên là Nguyễn Văn Hiếu. Vì trùng tên nên lầm là Tản Đà.




(1) 1935.




(2) Annam - Tonkin (Bắc Kỳ).




(1) Film du jour.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »