tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20174604
27.06.2013
Hà Văn Thùy
Đông Nam á trong tiến trình văn minh nhân loại

Nhân trao đổi với ông Đỗ Kiên Cường


Trong bài “Oppenheimer và Chu thực sự nói gì?”đăng trên tạp chí Tia sáng số ra ngày 17.11. 2008, tác giả Đỗ Kiên Cường viết:


“Có thể tóm lược các quan điểm cơ bản của Oppenheimer trong Địa đàng ở phương Đông như sau: 1) Đông Nam Á là cái nôi đầu tiên của nông nghiệp, xét trên phạm vi toàn cầu, chứ không phải vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu; và chính người Đông Nam Á đã truyền kĩ thuật trồng lúa nước cho người Hán, chứ không phải ngược lại; 2) Đông Nam Á là cội nguồn của nhiều yếu tố trong các nền văn minh phương Tây.


 Ngoài ra là quan điểm ít quan trọng hơn: Người Đông Nam Á, chứ không phải người Trung Quốc, đã thiên di tới vùng Đa Đảo (Polynesia) phía Nam Thái Bình Dương…”


Sau những dòng phân tích, ông kết luận:


“Có thể nói một cách tổng quát rằng, giả thuyết phụ của Oppenheimer (người Đông Nam Á tràn xuống vùng Đa Đảo) có thể là sự thật. Tuy nhiên cũng không nên bác bỏ vai trò của người Trung Quốc, khi Đài Loan được xem là nơi phát tích của ngữ hệ Nam Đảo, là ngữ hệ của vùng Polynesia. Và trong hai quan niệm căn bản thì một cần xem xét lại (Đông Nam Á là nơi phát triển nông nghiệp đầu tiên), còn một sai hoàn toàn (Đông Nam Á là nguồn gốc văn minh nhân loại) (HVT nhấn mạnh)”.


Nói như trên, chứng tỏ ông Đỗ Kiên Cường thiếu hụt kiến thức cơ bản về văn hóa học. Nơi phát triển nông nghiệp đầu tiên là gì nếu không phải là cội nguồn văn minh nhân loại? Chính vì thế, nhận định của ông trở nên vô nghĩa!


Ở đây tôi xin trình bày lại với bạn đọc những điều bị ông Cường hiểu sai nên làm rối.


1. Đông Nam Á là cái nôi nông nghiệp đầu tiên và cũng là cội nguồn văn minh nhân loại.


Thế kỷ XIX, từ vùng đất nghèo di chỉ của mình, các nhà khảo cổ châu Âu sững sờ khi phát hiện ra nền văn minh Ai Cập, Lưỡng Hà. Những dấu vết hạt lúa mì 7000 năm TCN được tìm thấy ở Mesopotamia tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Từ đấy, vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu được cho là trung tâm nông nghiệp đầu tiên của nhân loại. Quan niệm đó trở thành kinh điển.


Nhưng tới nay, khoa học tiến những bước dài, khiến những hiểu biết như vậy bị bỏ qua.


Xin đọc:


“Nguồn gốc lúa gạo trồng trọt ở Trung Quốc xuất hiện khoảng 10.000 năm TCN, phù hợp với khảo cổ học tiền sử và kết quả phân tích những vết tích thực vật học cổ Trung Hoa. Hai địa điểm là Hang Xianren trong vùng Vân Nam, tỉnh Giang Tây và Dốc Đứng (Yuchan) trong vùng Dao, tỉnh Hồ Nam thuộc đồng bằng sông Dương Tử, nằm trong khu vực cận nhiệt đới Nam Trung Hoa”.


Và:


“Những vết tích văn hóa chính là văn hóa Pengtoushan, văn hóa kiểu Jiahu (Giả Hồ) tại văn hóa Peiligang, và địa điểm Shangshan trong vùng Pujiang thuộc thung lũng sông Qiantang. Những địa điểm văn hóa Pengtoushan nằm tại đồng bằng xung quanh hồ Động Đình và khu vực dọc theo sông Dương Tử phía Tây tỉnh Hồ Bắc. Tuổi của những di chỉ này khoảng 6500-5500 TCN. Nhiều vết tích lúa trồng trọt được tìm thấy trong lòng đất cung cấp bằng chứng về sự phát triển của nghề trồng lúa. Những di chỉ kiểu Jiahu của văn hóa Peiligang thì phân tán ở trung tâm và phía Đông đồng bằng tỉnh Hà Nam, được định tuổi khoảng 6800-5500 TCN. Nhiều vết tích lúa trồng được tìm thấy tại Jiahu thuộc vùng Wuyang (Vũ Dương). Những công cụ được khai quật chủ yếu là sa thạch, phần lớn trong số đó được chế tác bởi phương pháp mài nhẵn. Trong những công cụ đó có thể nhận ra cái mai đá, cái liềm, con dao, cối xay đá, cái gậy đá cối xay, cái mai xương... Dấu hiệu quan trọng nói lên sự phát triển của nông nghiệp sơ khởi là sự xuất hiện những công cụ đá mài”.2


Như vậy là đã rõ: vết tích sớm nhất của lúa trồng ở Trung Hoa có 12.000 năm tuổi, giai đoạn muộn hơn, có tuổi gần 9.000 năm, có nghĩa sớm hơn Lưỡng Hà ít nhất là 3000 năm*.


Từ khẳng định trung tâm nông nghiệp đầu tiên là Đông Á, ta có thể đẩy lên mức cụ thể hơn: Nam Trung Hoa hay miền Bắc Việt Nam?


Nhiều bằng chứng cho thấy, đó là Việt Nam:


1. a. Các nghiên cứu di truyền (Y. Chu, S. Oppenheimer) chỉ ra, người từ Việt Nam đi lên Trung Hoa khoảng 40.000 năm trước. Phù hợp với dữ liệu di truyền, khảo sát thực địa cho thấy những di chỉ trồng lúa kể trên đều ở Nam Trung Hoa, địa bàn sinh sống lâu đời của người Việt cổ. Như vậy, người Việt cổ là chủ nhân của những di chỉ này. Ta lại biết, người Việt cổ mang văn hóa Hòa Bình lên phía Bắc Trung Hoa và tạo dựng văn hóa Ngưỡng Thiều3. Công cụ đá mài kiểu Hòa Bình - được coi là chỉ dấu quan trọng của văn minh nông nghiệp - cũng có mặt tại những di chỉ trên. Ta cũng biết, ngay từ giữa thế kỷ XIX, trong cuốn Về nguồn gốc các loài, Darwin đã viết: “Tổ tiên tất cả các loài gà trên thế giới hiện nay đều từ con gà rừng duy nhất được thuần hóa khoảng 15.000 năm trước tại Đông Nam Á”.Giống như gà, loài chó cũng được người Đông Nam Á thuần dưỡng đầu tiên. Lợn cũng vậy. Từ những bằng chứng đó, ta có thể suy ra một cách khả tín: Hòa Bình Việt Nam là trung tâm nông nghiệp đầu tiên.


1. b. Giới khoa học hiện nay cho rằng, trồng kê là văn hóa bản địa của dân cư vùng hoàng thổ Hoàng Hà. Nhưng từ khảo cứu của mình, tôi phát hiện, cây kê cũng được trồng đầu tiên tại Đông Nam Á, với chứng cứ như sau:


- Hiện nay kê được trồng phổ biến khắp Đông Nam Á trong vai trò lương thực phụ.


- Trong tiến trình nông nghiệp Trung Hoa, cây kê luôn theo sát cây lúa từ sông Dương Tử tới Hoàng Hà. Có nghĩa là, trong vùng trồng lúa, kê tồn tại như lương thực bổ trợ.


- Huyền thoại “Ngôi sao bầu trời bú sữa con heo”4 của dân bản địa Đài Loan và của người Ba Na, Tây Nguyên nói rằng: “Trong cơn hồng thủy, một con heo đực đã phá tung đoạn đập chắn, cho nước rút đi, cứu được loài người. Nước rút, nhờ có cây kê cuối cùng mà loài người được cứu sống”.Sự tích “Cây kê cuối cùng”trong nhiều huyền thoại Việt Nam và Đông Nam Á cũng được S. Oppenheimer nhắc tới trong cuốn Địa đàng ở phương Đông (trang 446 và 465).


Từ những chứng cứ trên, có thể đưa ra giả thuyết: Khoảng 20.000 năm trước, băng hà bao trùm Trái đất. Mực nước biển thấp hơn hôm nay hơn 100 mét. Đông Nam Á có khí hậu mát và khô hạn. Do đặc tính thực vật học của nó nên cây kê được thuần dưỡng đầu tiên và là lương thực chính của cư dân Đông Nam Á. Khoảng 15.000 năm trước, băng tuyết tan, nước biển dâng, mưa nhiều hơn. Khí hậu Đông Nam Á trở nên ấm và ẩm. Lúc này cây lúa nước được phát minh và thay thế cây kê, trở thành lương thực chính. Những người Hòa Bình mang theo cây kê rồi lúa nước tới lưu vực sông Dương Tử, Hoàng Hà. Ở Nam Hoàng Hà, trên vĩ độ 35, cây lúa nước không thích nghi nổi nên cây kê giữ vai trò cây lương thực chính yếu. Văn hóa trồng kê Bonfo (Bán Pha) hình thành.


Những phân tích trên cho thấy Đông Nam Á là cái nôi của nông nghiệp thế giới.


Ở trên là cách tiếp cận trực tiếp. Còn cách tiếp cận khác cũng cho ra đáp án như trên.


Muốn biết đâu là nguồn cội của văn minh nhân loại, điều mấu chốt là phải biết dân cư vùng đó được hình thành ra sao?


Nhờ công nghệ gene, ta biết rằng, 85.000 năm trước, Homo sapiens từ châu Phi di cư tới bán đảo Ả rập. Một bộ phận đi tiếp tới Đông Nam Á. Tới Việt Nam khoảng 70.000 năm trước, hai đại chủng Australoid và Mongoloid hòa huyết cho ra 4 chủng Việt cổ Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Khoảng 40.000 năm trước, do trời bớt lạnh, người Việt cổ đi lên Trung Quốc, qua cao nguyên Tây Tạng sang Trung Á rồi vào châu Âu.


Trong khi đó, những người nằm lại đất Ả rập chủ yếu thuộc đại chủng da trắng Europid. Bị kẹt bởi Hồng Hải phía Nam và bức thành băng hà phía Bắc, họ sống khó khăn trên dải đất hẹp. Nhân số tăng chậm và văn hóa cũng chậm theo.


Khoảng 52.000 năm trước, do trời bớt lạnh, người từ đây lên Trung Đông và 40.000 năm trước, băng qua eo Bosporus vào châu Âu. Tại đây, họ gặp số lượng lớn người Australoid từ Đông Á sang và hòa huyết thành tổ tiên người châu Âu Europians. Cũng nơi này, họ gặp người Neanderthals bản địa.


Khoảng 35.000 năm trước, một đợt lạnh dữ dội xảy ra. Người Europians bị đẩy vào tình trạng khó khăn. Người Neanderthal dần dần bị tuyệt chủng. Chỉ khoảng 10.000 năm trước, thời Băng Hà cuối cùng chấm dứt, người Europians mới từ bỏ săn hái để chuyển sang phương thức sống du mục.


Khoảng 8000 năm trước, khí hậu vùng Trung Đông trở nên thuận lợi, việc trồng trọt manh nha xuất hiện.


Khoảng 7500 năm trước, đại hồng thủy xảy ra. Những “nhà thông thái phương Đông”từ Đông Nam Á tới trên những con thuyền Noah, cung cấp tư tưởng nông nghiệp cùng giống cây và gia súc cho khu vực. 9000 năm trước, Mesopotamia thành trung tâm nông nghiệp của vùng Tây Á, sau Đông Nam Á ít nhất 3000 năm.


Ông Đỗ Kiên Cường viết:


 “Trước năm 2000, tuy đã có thông tin ban đầu về con đường phía Bắc, nhưng giới khoa học cho rằng, khoảng 60.000 năm trước, người hiện đại từ châu Phi tới Ấn Độ và Đông Nam Á theo con đường phía Nam, men theo bờ Ấn Độ Dương (làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ nhất). Và từ vùng Sunda, họ đi tiếp tới Úc, lên Đông và Đông Bắc Á, tới Siberia rồi sang Bắc Mỹ… Ngày nay ta biết rằng, con đường phía Bắc, từ châu Phi sang Trung Đông rồi lên Trung Á (khoảng vùng Bắc Afghanistan và lân cận) mới là đường thiên di chủ yếu. Đây là làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ hai. Hơn 90% số nam giới ngoài châu Phi hiện nay là hậu duệ của những người từng thám hiểm con đường này khoảng 40.000 năm trước… Con đường phía Nam chỉ góp một phần nhỏ vào nguồn gene người Trung Quốc hiện nay mà thôi”.


Do học theo mà không kiểm chứng tài liệu của S. Wells nên ông Cường lầm lẫn tai hại.


Có hai lần con người rời khỏi châu Phi. Đợt đầu khoảng 135.000 năm trước nhưng tới 90.000 năm cách nay bị tuyệt diệt vì lạnh trên đất Israel. Những xương cốt H. sapiens tìm thấy ở hai địa điểm vùng Levant xác nhận điều này. Chính S. Wells mà ông Cường dẫn tài liệu, không phủ nhận được những bằng chứng trên nhưng cố chống chế cho rằng đó là “người từ Bắc Phi tràn lên vào thời điểm hình thành con người (!)”(xem: Tài liệu tái thẩm về cây phả hệ loài người)


Đợt thứ hai ra đi 85.000 năm trước nhưng do đợt đầu không có kết quả nên S. Oppenheimer gọi là làn sóng rời khỏi châu Phi lần thứ nhất. S. wells trong khi gọi đợt ra đi 60.000 năm trước là làn sóng di cư thứ nhất thì lại gọi một cách sai lầm việc con người di chuyển từ Yemen vào Trung Đông 40.000 năm trước là làn sóng di cư thứ hai khiến một số người (trong đó có người viết bài này, lúc đầu) lầm tưởng rằng, “đợt hai”này cũng di cư từ châu Phi. Sự thực không phải vậy, chỉ duy nhất một lần rời châu Phi thành công. Vào Trung Đông 40000 năm trước chỉ là những người “ém lại”tại đất Yemen từ cuộc rời châu Phi 85000 năm trước.


Khoảng 15.000 năm trước, có đợt người từ châu Âu qua Trung Á, trở lại cao nguyên Tây Tạng, xâm nhập Trung Quốc. Nhưng lúc này Trung Quốc đã khá đông dân, văn minh hơn và quyết tử bảo vệ đất đai nên những nhóm rời rạc từ châu Âu không thể vào Trung Nguyên mà chỉ đi theo hành lang phía Bắc để tới Đông Bắc Á rồi sang châu Mỹ, tạo ra những nhóm thiểu số Altaic, Tungusic, Ainu… Một nhánh khác theo hướng Đông Nam, tạo ra một vài sắc dân thiểu số ở vùng rìa Tây Nam Trung Quốc. Những người mang gene Europians này tạo nên những sắc dân thiểu số trong người Trung Hoa hiện đại.


Nói: “Con đường phía Nam chỉ góp một phần nhỏ vào nguồn gene người Trung Quốc hiện nay mà thôi”là không đúng thực tế. Nếu người Trung Hoa hiện đại là hậu duệ của người từ Trung Đông sang thì mã di truyền của họ phải thuộc về chủng Eurasian (Á - Âu). Hơn một tỷ người Trung Hoa hiện nay thuộc chủng Mongoloid phương Nam, chứng tỏ họ là hậu duệ của tổ tiên di cư theo con đường phía Nam. Thực tế này bác bỏ ý tưởng sai lầm của S. Weells và cố nhiên cả học trò ông ta là Đỗ Kiên Cường. Ông Cường không biết rằng, con số gần 10% người ngoài châu Phi còn lại kia là con cháu những người Phi bị đưa sang Âu - Mỹ trong 250 năm buôn bán nô lệ!


Ông Cường còn viết: “… khi Nam tiến, người Hán phương Bắc không mang theo phụ nữ; và khi chiếm đất của người phương Nam, họ giết hết đàn ông, đồng thời chiếm đoạt phụ nữ”.


Đúng vậy không? Xin ông chỉ ra, trong sử biên niên dòng nào nói rằng “khi xuống phương Nam, người Hán giết hết đàn ông, chiếm đoạt phụ nữ”? Ngay ở Việt Nam, với ý đồ đồng hóa triệt để, các triều Hán, Đường, Minh không hề có chuyện giết đàn ông! Mã Viện để lại những người Mã Lưu nhưng chính những người này dược Việt hóa, trở thành dân Việt. Không giết đàn ông vì không thể giết hết, hơn nữa không cần làm việc này, vì thời đó Việt với Hán cùng một chủng Mongoloid phương Nam! Bowen và đồng nghiệp nói về 3 đợt di dân của người Hán từ Tây Bắc xuống Đông Nam, tới phía Nam sông Dương Tử: Đợt 1 thời Tây Tấn với khoảng 900.000 người. Đợt 2 vào thời Đường với số lượng lớn hơn. Đợt 3 vào thời Nam Tống với khoảng 5 triệu người5. Đấy là những cuộc chạy loạn của người Hán chủng Mongoloid phương Nam do sự xâm lăng của những bộ lạc du mục phía Bắc và Tây Bắc. Trong hàng triệu người di cư ấy không có phụ nữ sao? Vì lẽ gì ông Cường bịa đặt, xuyên tạc lịch sử trắng trợn vậy?


3. Tự hào hay không đáng tự hào?


Ông Đỗ Kiên Cường viết:


“Khi tới Trung Quốc lần đầu tiên khoảng 30.000 năm trước, theo hành trình Đông Phi → Trung Đông → Trung Á → Nam Trung Quốc (đồng thời có thể cũng tới Đông Nam Á), Homo sapiens chỉ là Homo sapiens nguyên thủy mà thôi, tức có nước da đen, tóc quăn hay lượn sóng, người thon, răng to, giống người châu Phi bản địa. Các đại chủng như ta hiểu ngày nay chỉ xuất hiện hoàn chỉnh khoảng 10.000 năm trước. Còn các dân tộc chỉ xuất hiện sau đó khoảng 3.000 - 5.000 năm (có thể còn muộn hơn), khi các nhà nước và quốc gia sơ khai xuất hiện. Chẳng hạn người Hán, một trong những tộc người xuất hiện sớm nhất, cũng chỉ ra đời khoảng 4600 năm trước từ các nhóm người Hoa Hạ sống tại lưu vực Hoàng Hà, phía Bắc Trung Quốc ngày nay. Cho dù có Bắc tiến thì đó cũng chỉ là những cuộc Bắc tiến của người da đen từ 30.000 năm trước. Sống tại xứ lạnh mấy chục ngàn năm, họ dần tiến hóa thành người da vàng (đại chủng Á). Và tới thời Đá Mới thì họ liên tục di cư xuống phương Nam. Do các cuộc Nam tiến này mà ngày nay tại Đông Nam Á, người da vàng đến sau chiếm đa số so với người da đen bản địa thuộc đại chủng phương Nam. Có gì đáng tự hào về những cuộc Bắc tiến từ mấy chục ngàn năm trước, nếu có?”


Quả tình không thể hiểu nổi sao lại có sự bất cẩn như vậy trong viết lách?


Ông Cường không biết rằng, những người vào Trung Đông mà ông nói tới đó thuộc đại chủng da trắng Europid. Không hiểu vì nguyên nhân nào mà, trong ba đại chủng rời khỏi châu Phi thì hai đại chủng da đen, da vàng đi sang Viễn Đông còn phần lớn người dừng lại trên bán đảo Ả rập thuộc đại chủng da trắng? Chính những người này đi vào châu Âu và trở thành tổ tiên người da trắng. Vì vậy, họ không thể biến thành tổ tiên người da vàng Trung Hoa!


Viết như thế, ông Cường cũng bỏ qua cả một thế kỷ khảo cổ học phát hiện con đường truyền bá văn minh từ Hòa Bình lên phương Bắc. Ông không thấy vô lý sao khi con người từ Bắc xuống Nam còn dòng văn minh chảy ngược lại?! Ông cũng không tham khảo những tài liệu nhân chủng học cho thấy người Australoid có mặt ở Đông Nam Á muộn nhất là 32.000 năm trước và họ cũng không còn là nguyên chủng châu Phi mà là người Việt cổ, kết quả của sự hòa huyết giữa hai đại chủng Australoid và Mongoloid!


 


Không thể ngờ được rằng, ông lại có thể viết thế này: “Cho dù có Bắc tiến thì đó cũng chỉ là những cuộc Bắc tiến của người da đen từ 30.000 năm trước. Sống tại xứ lạnh mấy chục ngàn năm, họ dần tiến hóa thành người da vàng (đại chủng Á)”(HVT nhấn mạnh).


Trời ạ, chỉ vì sống ở xứ lạnh mấy chục ngàn năm mà người da đen biến được thành chủng da vàng sao?! Có thể sắc da nhạt dần nhưng những đặc điểm giải phẫu, nhất là của răng, sọ không chịu biến đổi do ảnh hưởng của môi trường!


 Sai gì thì sai, không thể sai trong kiến thức nền tảng sinh học! Không phải quên mà rõ ràng ông Cường chưa hề học: “Genotype (kiểu di truyền) là những tính trạng do cha mẹ tổ tiên truyền lại mà con cháu không thể nhận được qua tập nhiễm”.Chính do sự bền vững kỳ diệu của gene mà ngày nay, từ giọt máu chúng ta, khoa học truy tìm được tổ tiên 5 triệu năm trước hay xa hơn nữa của loài người.


Ông cũng không biết, người từ Việt Nam lên phương Bắc 40.000 năm trước không còn là người châu Phi da đen nữa mà là người Việt thuộc chủng Indonesian, Melanesian… là chủ nhân văn hóa Hòa Bình, tổ tiên trực tiếp của toàn thể dân Đông Á ngày nay!


 Ông Cường viết: “Khi người Hán xuất hiện từ nhóm người Hoa Hạ khoảng 4600 năm trước tại lưu vực Hoàng Hà, phía Bắc Trung Quốc ngày nay, thì từ Nam Hoàng Hà trở xuống là địa bàn cư trú của những người được gọi là Bai Yue (Bách Việt), thuộc tiểu chủng Nam Á trong đại chủng Á”.


Xin được hỏi: “nhóm người Hoa Hạ”ấy là ai? Thuộc chủng nào và từ đâu tới? Cũng xin hỏi thêm: Có đúng là “(khi đó) từ Nam Hoàng Hà trở xuống là địa bàn cư trú của tiểu chủng Nam Á?”


Ngẫm lại, cũng không thể trách ông Cường vì đó là sự hiểu biết rất lơ mơ, là “gót chân Asin”của giới học thuật hiện nay. Riêng người Trung Quốc, cho dù có tới “nhị thập tứ sử”(24 cuốn sử), họ cũng chưa biết được thực sự ai là tổ tiên họ! Có lẽ chính người đang viết những dòng này lần đầu tiên phát hiện ra rằng:


- Những người xâm chiếm Nam Hoàng Hà 4600 năm trước là các bộ lạc du mục của Hiên Viên, vốn sống ở phía Đông cao nguyên Tạng và Tây Bắc Trung Hoa. Thực sự họ thuộc chủng Mongoloid phương Bắc nhưng từ lâu bị nhận lầm là Hoa Hạ. Người Hoa Hạ thuộc chủng Mongoloid phương Nam chỉ ra đời sau cuộc xâm lăng này, do người Mông Cổ hòa huyết với người Bách Việt sinh ra! Với thời gian, số lượng người Mongoloid phương Nam tăng lên, thủ đắc văn hóa nông nghiệp của tổ tiên Bách Việt, trở nên văn minh hơn dân Mông Cổ du mục võ biền, trở thành chủ thể của xã hội Hoàng Đế. Để tự tôn, họ gọi mình là Hoa Hạ, trở thành người thời Nghiêu, Thuấn, Hạ, Thương, Chu…


- Vào thời gian cuộc xâm lăng của người Mông Cổ xảy ra, từ Hoàng Hà xuống phía Nam là địa bàn cư trú của người Bách Việt nhưng không phải thuộc “tiểu chủng Nam Á”như ông Cường lầm tưởng mà là người Việt cổ, thuộc nhóm loại hình Australoid (phương Nam). Chỉ sau này, do hòa huyết với người Mongoloid phương Nam từ Bắc xuống, đại bộ phận họ mới chuyển hóa thành người Mongoloid phương Nam (Nam Á) như hiện nay.


Để có niềm tự hào chân chính cần phải hiểu biết. Bỏ mồ cha khóc đống mối là bi kịch do thiếu hiểu biết vậy!


Trên bàn tôi có cuốn "Tiếng Việt, Văn Việt, Người Việt”của giáo sư Cao Xuân Hạo. Ở đây, nhà ngữ học bậc thầy có riêng bài viết nhắc nhở ông Cường về việc giảng sai câu "Tri chi vi tri chi..”.của Khổng Tử. Thiết tưởng với bài học đắt giá này, ông Cường sẽ cẩn trọng hơn khi viết lách. Không ai học được chữ ngờ...


Điểm lại những bài viết của ông Cường liên quan tới Bản đồ gen người, tôi thấy, kiến thức sinh học chưa sạch nước cản, hiểu biết về khảo cổ, nhân chủng, lịch sử thì chắp vá, vụn mảnh lại quá tin sách vở nước ngoài mà không kiểm chứng, khiến ông rơi vào vị thế bi hài của thày bói sờ voi. Đọc tài liệu nước ngoài để phổ biến tri thức khoa học là một thiện ý. Nhưng khi chưa đủ bản lĩnh chuyên môn dễ gây ngộ nhận tai hại. Trước vấn đề rất mới mẻ, ngoài tầm hiểu biết của mình, lẽ ra ông nên chịu khó nghe để học may ra có lúc… “thị tri dã!”(là biết vậy!) như lời Khổng Tử.


4. Kết luận


Thế kỷ XX treo trước nhân loại 3 câu hỏi lớn:


1. Quê hương loài người ở đâu?


2. Theo cách nào mà con người có mặt trên Trái đất như hiện nay?


3. Dân cư các châu lục được hình thành như thế nào?


Công nghệ gene thần kỳ trả lời 2 câu hỏi đầu một cách ngoạn mục. Nhưng câu thứ 3, di truyền học bó tay. Đó là lẽ đương nhiên vì vấn đề thuộc khoa học nhân văn. Muốn trả lới, cần có tri thức liên ngành, không chỉ rộng mà cần rất sâu.


Trong hai cuốn sách Tìm lại cội nguồn văn hóa Việt (NXB Văn học, 2007) và Hành trình tìm lại cội nguồn (NXB Văn học, 2008), tôi đã cố gắng lý giải vấn đề về cội nguồn và văn hóa của tộc Việt. Thiết nghĩ, đấy là sự nối kết và giải mã thỏa đáng khối lượng lớn những tài liệu đa ngành hiện có.


Điều thú vị là, càng đi sâu vào công việc, tôi càng nhận ra thiên tài của Oppenheimer. Từ những cứ liệu khoa học còn hạn chế, ông đã giải mã thành công nhiều truyền thuyết, huyền thoại để đề xuất những giả thuyết tuyệt vời. Ông làm tôi nhớ đến giáo sư Kim Định. Gần 40 năm trước, cũng bằng giải mã huyền thoại, vị triết gia này đưa ra giả thuyết về Việt Nho và đạo Việt An vi. Nhiều học giả quan phương mạt sát đến vùi dập những đề quyết động trời ấy. Nhưng thời gian cho thấy Kim Định là một thiên tài. Học thuyết của ông không chỉ đúng đắn mà còn vô cùng quan trọng với vận mệnh dân tộc. Nếu chúng ta tỉnh táo hơn, biết nghe, biết suy nghĩ theo hướng của ông thì chắc rằng dân tộc đã khác hôm nay. Tiếc thay!


Sài Gòn, Đông Mậu Tý.


1.http://www.radio-canada.ca/nouvelles/Science-Sante/2007/08/07/004-europe-colonisation-asie.shtml?ref=rss


(còn tiếp)


Nguồn: Tìm cội nguồn qua di truyền học. Khảo luận của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
Nghệ sỹ Ưu tú Đoàn Quốc với những cống hiến lặng lẽ - Trịnh Bích Ngân 07.08.2017
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
xem thêm »