tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21282863
Tiểu thuyết
19.06.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

X. Nghe tin Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử, linh cữu được đưa về chôn cất ở quê hương, Tú Chiểu bảo con dắt sang Bảo Thạnh phúng điếu. Dầu không tán đồng việc làm của Phan Thanh Giản, nhưng nghĩa tử là nghĩa tận, ông cũng muốn sang điếu cho trọn tình. Phan Liêm, Phan Tôn có học ông ít ngày dẫu sao cũng là tình thầy trò, nay cha mẹ họ mất mình không tới cũng bất tiện, huống hồ hiện nay mình lại là chỗ đồng châu đồng quận. Vả lại, ông cũng muốn nhân dịp này nhắc nhở anh em họ Phan đừng vì cái chết của cha mà lãng quên việc nước.


Tú Chiểu ngửa mặt đón những cơn gió mùa từ biển thổi vào đất liền. Tiếng lá cây xào xạc, Tú Chiểu biết đó là những cây bần mọc trên bãi đất sình lầy. Con đường này ông đã đi một lần khi tới Bảo Thạnh dự lễ an táng xử sĩ Võ Trường Toản. Xử sĩ họ Võ là một thầy nổi tiếng đã đào tạo nhiều bậc nhân tài cho đất nước trong đó có ba nhà thơ đất Gia Định: Trịnh Hoài Đức, Lê Quang Định, Ngô Nhân Tịnh. Khi ba tỉnh miền Đông bị giặc Lang-Sa chiếm, không muốn nắm xương tàn của ông thầy đáng kính nằm trong phần đất thuộc bọn xâm lược, Phan Thanh Giản bàn với Án sát An Giang Phạm Hữu Chánh, giao cho tú tài Võ Gia Hội lo việc cải táng cụ Võ từ thôn Hòa Hưng Sài Gòn về chôn cất ở cánh đồng làng Bảo Thạnh. Ông Nguyễn Thông đứng làm chủ tang.


Từ ngày đó, Tú Chiểu vẫn thường đem giảng cho học trò bài Hoài cổ phú của cụ Võ. Trong đó cụ nêu những tấm gương khí tiết của người xưa đã đem thân ra giết giặc cứu nước, để cho người nay noi theo.


Tú Chiểu còn nhớ như in bài văn của Phan Thanh Giản đọc trong buổi lễ hôm đó. Không ngờ tới nay Phan Thanh Giản đã quên những lời nói cũ, mà nỡ dâng thành cho giặc. Lòng người quả không biết thế mà lường. Trong bài văn của Phan có câu: “Ngắm non Thái chỉ mong đi tới đỉnh. Trông Đẩu nam chân muốn nhón lên cao” nhưng sự thực Phan Thanh Giản không những đã không theo được Võ Trường Toản tới đỉnh núi còn thụt lùi xuống một hố sâu, mà chiều sâu của hố có lẽ cùng bằng chiều cao của núi.


Đã tới vùng bãi Ngao thuộc làng Bảo Thạnh rồi, Tú Chiểu biết như vậy vì nghe tiếng sóng biển ào ào, tiếng gió thổi vào rặng mù u ràn rạt, và thoảng vị muối hoà tan trong không khí. Muối Bảo Thạnh đã đi vào tục ngữ từ thuở nào. Lúc này đang nước ròng đây. Chỉ tiếc không còn đôi mắt nhìn cảnh trời nước mênh mông để tâm hồn rộng mở…


Vừa tới cổng nhà họ Phan, đã nghe thấy tiếng người đi lại tấp nập giữa những tiếng khóc than thảm thiết. Phan Liêm, Phan Tôn được gia nhân thông báo vội chạy ra đón. Tú Chiểu xin được làm lễ trước linh vị. Ông bảo con đặt hoa quả hương nến lên bàn thờ, lạy bốn lạy. Phan Hương, Phan Liêm, Phan Tôn cũng lạy bốn lạy đáp lễ.


Ba anh em họ Phan mời Tú Chiểu sang nhà ngang họp mặt với các bậc văn thân. Vừa tới nơi, Tú Chiểu đã nghe tiếng ngự sử Lê Đình Lượng, giọng sang sảng như khi giảng bài ở ngôi trường cạnh chợ Ba Tri:


- Tôi nhớ hồi Lê mạt khi ông nghè Lý Trần Quán tự chôn sống mình để chết theo chúa Trịnh Khải, đã có người làm đôi liễn điếu rằng: “Khảng khái cần vương dị, Thung dung tựu nghĩa nan”nghĩa là khảng khái đem quân đánh giặc giúp vua thì dễ, còn cứ thung dung mà chết để giữ trọn điều nghĩa mới khó. Câu ấy thiệt hợp với quan Phan nhà ta, liều lĩnh mang quân ra cự nhau với người Phú Lang-Sa mà chết, thì đó chỉ là cái dõng của kẻ thất phu, đâu sánh kịp với cái chết của người quân tử, thung dung tựu nghĩa để đền vua nợ nước.


Án sát Phạn Hữu Chánh tiếp lời:


- Quan lớn nói chí lý. Tôi cũng nghĩ như vậy nên mới viết một bài thơ điếu xin đọc để các quan phủ chính cho.


Nhiều tiếng người khiêm tốn:


- Văn quan Án Lương Mỹ([1]) thì còn ai dám thò bút vô sửa một chữ nào nữa. Xin quan lớn cho nghe!


Phạm Hữu Chánh hắng giọng đọc:


Phan công tiết nghĩa sánh cao dày


Thương bấy vì đâu khiến chẳng may,


Hết dạ giúp vua, trời dất biết,


Nát lòng vì nước, quỷ thần hay,


Tuyệt lương một tháng, rau xanh mặt,


Bị quở ba phen, lửa đỏ mày


Chỉn sợ sử thần biên chẳng tới,


Tấm lòng ấm ức phải thày lay.


Phạm Hữu Chánh đọc xong, có người buột miệng khen:


- Thiệt là ngòi bút Xuân Thu phán xét chí công vậy!


Ngự sử Lê Đình Lượng nói:


- Quan Phan mà sống lại đọc bài thơ này cũng phải vui mừng vì đã có người thấu hiểu tâm sự mình. Nếu biết vậy thì trước khi mất, ngài không phải ngâm hoài hai câu: Xuân phong mãn diện giai bằng hữu. Dục mịch tri âm nan thượng nan([2]) nữa!


Phạm Hữu Chánh rung đùi đắc ý:


- Có gì đâu, vì tôi cũng ở trong cái cảnh như của quan Phan nên mới hiểu tâm sự ngài. Khi quân Lang-Sa tới trước tỉnh thành Châu Đốc chúng mời quan tỉnh tới đề trao thư của quan Phan. Thư quan kinh lược sứ Nam Kỳ gởi cho tỉnh thần An Giang mà không tiếp nhận, đâu có được. Quan Tuần Cư liền cử quan Bố Y và tôi sang nhận. Quan Tuần cùng tôi sang, không ngờ vừa tới nơi quân Lang-Sa bắt giữ luôn quan Tuần và tôi, các ngài biểu như vậy thì có phải giao thành hay không. Chẳng qua là thế bất dĩ chớ đâu phải dâng thành cho giặc. Những kẻ nói như vậy là những kẻ hồ đồ nông cạn, nếu chẳng phải là vu khống phỉ báng người trung nghĩa. Cũng vì e các sử thần không xét kỹ, cũng bị lầm theo, nên tôi mới phải lên tiếng nhắc nhở.


Tú Chiểu vừa toan cất lời thì đã có tiếng cười nói:


- Hay lắm. Thấy các quan nói chuyện văn thơ tôi cũng lây nguồn cảm hứng, nên mạo muội có một bài thơ điếu quan Phan, xin đọc lên, mong các quan đừng chê là thô lậu.


Mọi người nhìn xem ai thì đó là Lê Quang Quan tự Kế, một nho sĩ phá ngang chuyển sang nghề võ, quê làng Mỹ Chánh Hòa.


Một người nói:


- Thì ông cứ đọc đi. Văn hành công khí([3]) mà. Nếu chỗ nào còn ép thì có các quan đây phủ chính cho, ngại gì.


Tư Kế khiêm tốn:


- Tôi là kẻ võ biền mới vọc vạch làm thơ, nếu có gì sai sót xin các quan châm chước và chỉ vẽ cho. Tôi được biết trước khi mất, quan Phan có để lại mộ thiên di bút.


Có tiếng người nói:


- Di bút thế nào, tôi chưa được đọc.


- Ông hãy cho nghe di bút của quan Phan trước đã.


Tư Kế nhìn mọi người:


- Ở đây chắc nhiều vị đã được đọc rồi, nhưng có lẽ cũng còn người chưa, nên tôi xin phép đọc lại.


Ngự sử Lê Đình Lượng trịnh trọng:


- Cứ đọc. Văn chương của quan Phan thì nghe cả ngàn lần cũng không chán.


Tư Kế nghiêm trang:


- Tôi xin phép đọc bài Tuyệt cốc của quan Phan:


Trời thời đất lợi lại người hòa,


Há dễ ngồi coi phải nói ra.


Lăm trả ơn vua đền nợ nước,


Đành cam gánh nặng nỗi đưòng xa.


Vớt chìm, phủi nóng, thương dân trẻ,


Vượt biển trèo non, cám phận già.


Cũng tưởng một lời an bốn cõi,


Nào hay ba tỉnh lại chầu ba!


  Nhiều tiếng tấm tắc:


- Thiệt là tuyệt bút!


- Không thua gì chính khí ca của Văn Thiên Tường!


Đợi những tiếng khen ngợi đã ngớt, Tư Kế mới thong thả:


- Tôi xin phụng họa bài thơ ấy để điếu quan Phan.- Ông hắng giọng đọc:


Người đều mong đánh, chỉ ông hòa!


Hòa chiến đôi bề, tính chẳng ra.


Muốn được lòng vua, quên phứt nước,


Mải nhìn trước mắt, nghĩ đâu xa.


Một bề giữ phận: khuyên con trẻ,


Chín chữ mua danh: trốn tội già.


Chẳng chết từ khi chưa ký ước,


Hoài công sống tới bảy mươi ba!


Ngự sử Lê Đình Lượng bỗng thét lớn như trước kia từng hạch tọi các quan trước bệ rồng:


- Đồ mạn thượng! Quả là đại nghịch bất đạo!


Án sát Phạm Hữu Chánh cũng đập tay xuống mặt tráp, như tuyên án trước công đường:


- Trói cổ thằng khùng lại!


Nhiều tiếng xôn xao. Tư Kế đứng thẳng người, dõng dạc:


- Tư Kế này từng chém giết bao nhiêu giặc Lang-Sa ở Gia Định về đây. Đến giặc Lang-Sa mà Kế còn không sợ, há lại sợ những kẻ sợ giặc Lang-Sa hay sao? Quan Kinh lược chết là để tạ tội với vua chớ đâu phải chết vì nước. Trước khi chết ngài còn dặn các con phải yên nghiệp làm ăn, như vậy có khác gì khuyên các con đừng chống giặc. Còn chuyện ngài tự tay viết chín chữ minh tinh: “Hải nhai lão thơ sinh tính Phan chi cữu”([4]) theo ý tôi cũng chỉ là chuyện mua danh, trốn tội mà thôi. Giá ngài tự sát ngay trước khi ký hàng ước thì có phải hơn không, tội gì phải dâng thành cho giặc rồi mới chết.


Nghe Tư Kế nói, Phan Hương con lớn Phan Thanh Giản tức giận nghiến răng kèn kẹt, nhưng hiềm vì nỗi mình là tang chủ nên không tiện phát tác. Phan Liêm, Phan Tôn ráng giữ anh lại không để anh làm điều thất thố trước mặt mọi ngưòi.


Nhiều tiếng xôn xao:


- Thiệt tầm bậy hết sức!


- Dám xúc phạm vong linh người quá vãng. Quả là vô lễ!


- Đuổi cổ hắn ra ngoài kia! Ai cho hắn vào đây!


Giữa lúc đó, Tú Chiểu đứng dậy khoan thai:


- Tôi xin phép có lời thưa cùng các quan và chư vị ở đây. Tôi không bênh gì ông Tư Kế, nhưng chỉ xin các ngài xét kỹ lại cho. Tôi nhớ khi ông Trương Định kéo cờ đề tám chữ “Phan Lâm mãi quốc, triều đình khí dân” lời lẽ tuy có xẵng bạo thiệt, nhưng lại tỏ được cái khí tiết của người dân Nam Kỳ trước giặc Lang-Sa đến nỗi hoàng thượng còn phải phán rằng: “Nhân tâm như thế cũng là thêm giúp cho sự phục hồi, há lại cứ lấy lý mà chăm chăm đi răn dụ người ta”. Chắc các ngài ở đây không ai dám tự nhận mình sáng suốt hơn Hoàng thượng. Tôi nghĩ lời của ông Tư Kế đây về lý thì chưa biết thế nào, nhưng về tình thì đó là tình của người ôm lòng địch khái([5]), ta cũng nên thể cái lượng của Hoàng thượng, mà đừng chăm chăm bắt bẻ ông ta, như vậy mới là người biết tuân lời huấn dụ vậy.


Thấy Tú Chiểu nhắc đến lời vua Tự Đức, các vị quan đều im bặt không ai dám cải lại. Thừa thế, Tú chiểu nói tiếp:


- Tôi nhớ bữa quan Phan đứng ra lo liệu vệc dời mộ Võ xử sĩ về Bảo Thạnh, có cả quan Án Phạm, quan ngự sử Lê và nhiều vị hôm nay có mặt ở đây. Có lẽ lúc này chỉ thiếu quan Đốc học Nguyễn Thông đang bôn tẩu vì việc chống giạc mà thôi. Bữa đó, quan Phan có nhắc nhở chúng ta phải ráng noi gương Võ phu tử theo đúng lời dạy của ngài trong bài Hoài cổ phú.


Cật Võ Mục nhuộm thanh bốn chữ, tấm trung thành đã thấu trời xanh.


Áo Thiên Tường ghi đượm hai câu, phương tựu nghĩa chi phai lòng đó.([6])


Võ Mục và Văn Thiên Tường đều chống giặc đến cùng, khi sa vào tay giặc hoặc bọn phản thân bán nước mới chịu chết, đó mới là tựu nghĩa theo ý Võ phu tử. Nếu các vị ở đây có ai sửa được lời văn của phu tử thì hãy nên bắt bẻ lời thơ của ông Tư Kế đây.


Mọi người lắng nghe Tú Chiểu nói đều nín lặng. Trong không khí trầm lắng tột độ, ai nấy đều cảm thấy mộ cái gì đè nặng trong lòng mình mà chưa phát tiết ra được. Lời Tú Chiểu như tiếng sấm giữa trời quang, báo trước một cơn bão táp.


Giữa cảnh nặng nề ngột ngạt ấy, Tư Kế bỗng tiến lại trước mặt Tú Chiểu lạy hai lạy rồi điềm nhiên bước ra.


Phan Hương muốn đuổi theo Tư Kế nhưng Phan Liêm, Phan Tôn vội giữ chặt anh lại.


*


Khi theo tên quan Đô-măng-giơ đi tảo thanh vùng Hòn Chông bắt Nguyễn Trung Trực, Trần Bá Lộc đã chắc mẩm thành công. Nhưng cuộc tảo thanh vô cùng khó nhọc vì đường đi nguy hiểm, và bị nghĩa quân chống trả kịch liệt. Đầu tiên, Đô-măng-giơ cho một đội chiến thuyền đậu ngoài khơi, cứ nã trọng pháo vào vùng dồi núi cố thủ của nghĩa quân. Đinh ninh rằng nghĩa quân bị thiệt hại nặng nề, ắt đã tê liệt, bọn lính Lang-Sa, Ma-ní, mã-tà xuống tàu nhỏ tiến vào đổ bộ. Nhưng lần nào chúng cũng bị bắn rơi lũm chũm nên phải thối lui. Rốt cuộc, theo kế của Huỳnh Tấn, Đô-măng –giơ cho tàu dàn ngang ngoài biển và cho cả trăm lính mã-tà lên bộ, đóng một “vành đai” rộng lớn vì không dám sáp lại gần- cốt để tuyệt đường lương thực của nghĩa quân.


Hòn Chông mặt trái giáp biển, về phía đông bắc có các núi Mo So, núi Huỷnh, núi Sơn Trà án ngữ. Giữa hai khu vực này là cánh rừng sác ngập mặn, lầy lội. Trên núi Hòn Chông có nhiều suối cạn, nhiều đỉnh cao khá hiểm trở, lại có nhiều gỗ quý và cổ thụ sống hàng trăm tuổi, rất thuận lợi cho việc đồn trú quân. Triền núi có trữ lượng nước ngọt đủ dùng suốt mùa khô hàng năm. Ở chỗ doi đất cuối cùng giáp biển, Nguyễn Trung Trực cho đóng trại quân. Phía trước trại có cụm tiền đồn thiên nhiên án ngự bao gồm dãy núi Hòn Chông và hàng chục núi non hiểm trở khác nằm chen chúc trong khu rừng sác mọc trên đầm lầy.


Khi lên tới Hòn Chông, cả bọn mã-tà đến bọn sĩ quan Lang-Sa đều không rõ nghĩa quân hiện có bao nhiêu người - chắc là đông lắm - và tại sao trọng pháo bắn ầm ầm ào ào mà nghĩa quân vẫn không tháo chạy.


Thì ra đó là mưu thần của Nguyễn Trung Trực. Ông biết tàu chiến giặc sâu lườn, không thể nào vào gần bờ được, chúng sẽ từ ngoài xa bắn đại bác vào. Ông cho đi xin của bà con những tấm bồ, những cà-tăng, lại cho đi đốn tre nứa về bện rất nhiều liếp vừa rộng vừa dài. Ông cho đóng cọc săng, dùng dây cóc ken phên, liếp, bồ, cà-tăng che khắp phía trên và phía dưới day ra biển, cho nghĩa quân đóng núp. Tàu giặc bắn vào, phên liếp thụng xuống. Nhờ sức mềm dẻo, phên liếp không bao giờ lủng. Hết sức thụng xuống, phên liếp bung lên: đạn rơi qua bên cạnh hoặc tung ra biển, như chẳng có việc gì xảy ra.


Ngặt có điều chúng vây chặt quá, trên bộ cũng như ngoài khơi. Nghĩa quân cạn lương thực. Ông Nguyễn quyết định tạm rút ra đảo Phú Quốc. Ở đó, Quản Thứ một tướng giỏi của nghĩa quân đã ra trấn thủ từ trước để xây dựng một căn cứ vững chắc lâu bền.


Được mật báo sáng sớm hôm sau giặc cho quân đánh úp căn cứ, ngay đêm ấy Nguyễn Trung Trực cho bốn mươi chiếc ghe chở đầy nghĩa quân nhắm hướng Phú Quốc mà đến.


Sớm mai, giặc cho quân đổ bộ khi vào tới căn cứ thì nghĩa quân đã đi tự khi nào.


Kế hoạch đánh úp chỉ có Đô-măng-giơ và Trần Bá Lộc biết, vậy mà cũng bị tiết lộ! Nếu không lộ, sao khi quân Lang-Sa tới nơi còn thấy những bếp lửa đang nấu dở và nồi chảo lớn bỏ lại ngổn ngang, chứng tỏ nghĩa quân mới đi khỏi không lâu. Đúng là có nội ứng không sai. Trần Bá Lộc bực tức, cho đòi viên thư ký thân tín tới bàn bạc.


Lê Bổn vào thấy đôi mắt Lộc bốc lên đầy sát khí. Đôi môi mỏng mím chặt, Lộc nói rít qua kẽ răng:


- Kế mật đánh úp Hòn Chông không hiểu sao tiết lộ. Thầy có nghi ai là nội gián không?


Bổn thưa:


- Bẩm quan lớn, tôi có trộm phép nghi một người.


Lộc hỏi dồn:


- Ai vậy? Ai vậy?


Bổn khéo léo:


- Bẩm quan lớn, tôi đã tính thưa với ngài từ trước, nhưng lại e sợ bất gián thân([7]) nên chưa dám.


- Thầy cứ nói liền tôi nghe coi nào.


Bổn nhỏ giọng:


- Bẩm, ngài có cho phép thì tôi mới dám nói. Sau khi ông Lãnh binh Tấn hạ được Trương Định, bị tiếng đời biếm nhẽ dữ quá nên lần này ông mới sanh một kế là kiếm cách cứu Quản Lịch để chuộc bớt phần nào tai tiếng. Chính ổng đã báo cho Quản Lịch biết đường trốn chạy chớ không sai.


Lộc nhăn trán suy nghĩ:


- Chắc chi đã phải vậy. Ông Tấn đã thẳng tay hạ sát trương Định giúp nhà nước Lang-Sa kia mà.


- Bẩm quan lớn, ông Tấn với Trương Định là tình thầy trò thiệt, nhưng sau khi ông Tấn đi lại với cai Tổng Nguôn ở Gò Công, Định đã dọa chém đầu ổng nên với Định ổng không còn tình mà chỉ có thù. Ngược lại, Quản Lịch với ông Tấn đã từng là bạn sanh tử chi giao, ông Tấn coi Quản Lịch như bậc đàn anh. Bởi vậy, Ông Tấn phải cứu Quản Lịch để đáp ngãi cũ. Ngài không lạ gì chuyện Quan Công đã tha Tào Tháo ở lộ Huê Dung thuở nào…


Nghe Bổn nói có lý, Lộc gật gù:


- Hèn nào khi tôi nhờ ông Tấn dụ hàng dùm, ổng không mấy sốt sắng. Đúng là hai người vẫn có tình riêng. Như vậy có khác nào nuôi ong tay áo. Tôi phải bẩm với quan tư Lang-Sa điều ông Tấn đi nơi khác mới đặng, kẻo ổng có tư tình rồi xảy chuyện tùm lum thì chết chìm cả đám đó.


Từ ngày Tấn dụ hàng không thành công, Lộc đã muốn đẩy Tấn đi để khỏi dây máu ăn phần trong việc bắt Quản Lịch. Nhưng Tấn khôn ngoan lại lấy lòng tên quan tư Lang-Sa để được dự cuộc tảo thanh Hòn Chông. Thấy Đô-măng-giơ có vẻ ưng Tấn, Lộc đã thầm ghen tức nhưng chưa tiện nói ra, nay qua lời viên thư ký, y thấy có đầy đủ chứng cớ để gièm pha Tấn với quan thầy.


Giữa lúc ấy Tấn từ ngoài vào, nói bô bô:


- Đại huynh à, tôi đã kiếm ra thủ phạm rồi. Thằng lính hầu của tôi mới cho tôi hay nó vừa thấy con Xuyến người của Trương Định trước đây, đang lảng vảng ở vùng này. Con đĩ ngựa này tôi bắt được một lần, nhưng nó vượt ngục trốn thoát mất. Phen này lại gặp tôi ở đây thì nó có chạy đường trời!


Bổn làm ra bộ lắc đầu le lưỡi:


- Ghê thiệt! Người của Trương Định mà tới giờ vẫn còn, lại lẩn quất ở vùng này. Quan Lãnh nói tôi nghe như chuyện thần thông biến hóa trong Tây Du không bằng.


Tấn trợn mắt nhìn Lê Bổn:


- Thằng lính hầu của tôi nhìn thấy con nhỏ đó rõ ràng, trật làm sao được. Ngay cả nhà thầy nữa tôi cũng đã quen cái bản mặt nhà thầy rồi. Tôi mà đã nhìn thấy ai một lần thì cứ nhớ như in suốt đời! Coi nhừng tôi nhận ra được nhà thầy thì chớ chết!


Bổn vặn lại:


- Quan Lãnh nhớ là nhìn thấy tôi ở đâu vậy cà!


Tấn nhìn thẳng vào mắt Lê Bổn như muốn thôi miên:


 - Ở Gò Công. Đúng chưa?


Bổn phá lên cười:


- Quan Lãnh tài nhớ thiệt. Đúng là tôi từng gặp ngài ở Gò Công. Hồi đó mỗi lần đi ghe bầu ra Bình Thuận thăm nhà, tôi thường gặp ngài ở cửa sông Soài Rạp, lúc đó ngài cùng đi với Quản Lịch, đúng chưa nào. Tôi đã nhìn thấy ai một lần thì cứ là nhớ như in suốt đời!


Tấn bẽ mặt, lảng chuyện:


- Đại huynh à, nhờ huynh cấp cho một đội quân để tôi đi lùng bắt con Xuyến, mang về tra khảo coi người nào trong hàng ngũ ta đã thông tin với quân nghịch.


Lộc lạnh lùng:


- Quan tư Lang-Sa mới là người cầm đầu ở đây, muốn xin quân thì phải thưa với ổng, chớ tôi đâu có quyền…


Lộc thầm nghĩ đúng là thằng này chột dạ nên bịa chuyện con Xuyến để đánh lạc hướng, lại làm ra vẻ nghi ngờ viên thư ký để ly gián thầy trò mình. Giờ lại muốn xin quân đi lùng bắt kẻ gian, rõ ràng là muốn kiếm cách lánh mặt khỏi nơi này. Y lại càng thêm tin cẩn viên thư ký thân tín đã sớm vạch bộ mặt gian trá của Tấn cho mình hay. Thằng này đã muốn đi hàng hai thì được, Lộc sẽ cho y biết thế nào là thủ đoạn sâu hiểm của mình. Bất độc, bất anh hùng, nếu không lập kế trừ bớt đối thủ thì con đường công danh của mình cũng khó lòng mà thuận lợi. Vả chăng, Lộc không lạ gì tâm lý của người Lang-Sa. Chim đã hết thì ná treo đầu tường, trừ xong Quản Định thì Lang-Sa cũng ngán con người phản phúc lá mặt lá trái là Tấn không muốn dùng nữa.


Và chỉ ngày hôm sau, Tấn nhận được lệnh của Đô-măng-giơ cử về Sài Gòn xin với Đờ la Gờ-răng-đi-e cho viện binh để đánh Phú Quốc. Tấn dư hiểu là Lộc kiếm cách hất nhẹ mình, nhưng há miệng mắc quai! Y thầm nghĩ: Rồi còn đời mày đấy! Trừ xong Quản Lịch thì Lang-Sa cũng đối với mày hệ như mày đối với tao mà thôi. Biết như vầy mình phải dữ răn việc trước lành dè thân sau… Tấn chợt nhớ mình vừa nhắc tới một câu thơ Vân Tiên. Thì ra dầu ghét Tú Chiểu mặc lòng nhưng lời thơ của ông đã thấm sâu vào óc y từ hồi nào y cũng không hay nữa…


*


Trên con đường Hòn Chông đi Hà Tiên có một cái tên gọi là Hang Tiền ở trên một mũi đá nhô ra biển. Mũi đó trước là hòn đảo sau dính với đất liền.


Hang to rộng có hai cửa: cửa đông thông ra bãi Đước, còn cửa tây ngó ra biển. Chiều hôm đó, có một chiếc ghe biển qua hòn Đá Lửa và hòn Lô Cốc ghé vào cửa tây. Trên ghe, một cô gái đang chèo chống. Gió biển thổi tung mái tóc dài che lấp khuôn mặt. Tới khi cô neo ghe vô mạn bờ, bước lên cửa hang, thì ra đó là Xuyến.


Xuyến đi sâu vào trong hang. Trong lòng hang hiện vẻ hoang dã tối tăm nhưng Xuyến đã quen lối nên không cần đèn soi vẫn đi lại được, thỉnh thoảng những luồng gió lạnh buốt rít lên và luồn vào cửa hang khiến Xuyến cảm thấy rờn rợn, trong khi ấy thở hít càng thấy nặng nề. Nhưng Xuyến vẫn ráng lấy hết bình tĩnh để ngắm những hình đá kỳ dị còn mang những tên riêng do những người xưa mường tượng. Nào đây là chiếc giường nằm của vị tướng, nào kia là dãy bàn ghế nơi hội họp của đoàn quân. Lại kia kho lương, kho quân nhu, rồi giếng tiên quanh năm nước vẫn đầy và ngọt. Lại còn có dấu tích lò đúc tiền vì vậy mới mang tên hang Tiền.


Chiều hôm trước, Xuyến được một người của nghĩa quân nằm trong hàng ngũ giặc báo cho hay tên Huỳnh Tấn trên đường về Sài Gòn xin viện binh sẽ đi qua đây, nên cô tính núp trong hang bất thần xông ra hạ sát tên phản bội, trả thù cho Bình Tây đại nguyên soái, và cũng để trả thù cho Huân, người yêu đã hy sinh.


Từ khi Huân qua đời không lúc nào Xuyến không nghĩ tới anh. Càng nghĩ bao nhiêu, Xuyến thấy mình phải kiếm cách gì trả được mối thù cho người đã khuất. Những lời khuyên nhủ của ông Tú Chiểu lúc nào cũng văng vẳng bên tai. Cô chỉ ân hận mình không thể về Ba Tri thăm ông, xem ông có được mạnh không, vì nếu về lỡ giặc hay được, sẽ liên lụy tới ông. Sau khi Trương Định mất, Xuyến lại về với nghĩa quân Nguyễn Trung Trực. Nhờ một người của ta trong hàng ngũ giặc cung cấp tin tức, Xuyến biết giặc sắp đánh úp Hòn Chông, nên kịp thời báo cho Nguyễn Trung Trực. Người đó cũng cho cô hay tin Huỳnh Tấn sắp đi qua đường này…


Trong hang, thời khắc trôi qua sao mà quá chậm. Nấp bên trong nhìn ra, Xuyến chỉ thấy biển hơi xanh xanh với những lớp sóng bạc đầu. Xa xa chi chít những đảo lớn nhỏ, có cả hòn Phụ Tử với hai tảng đá mọc ngầm dưới nước nhô lên trên mặt nước đứng sừng sững như hai cột tháp khổng lồ, một cao một thấp không đều nhau.


Xuyến còn nhớ như in sự tích hòn Phụ Tử mà hồi nhỏ bà nội kể cho cô nghe. Cách đây ngàn năm trước có hai anh em ở miền sơn cước dãy Trường Sơn. Còn nhỏ, chơi nghịch, anh lỡ chém phải đầu em gái, thương tích khá nặng. Sợ quá, cậu bé bỏ nhà trốn đi. Còn cô em, may thoát chết, nhưng trên đầu một vết thẹo lớn thường vẫn giấu trong tóc.


Sau cha mẹ của hai đứa trẻ ấy đem con gái tới ở một nơi thung lũng xa nơi làng cũ, vì họ vốn là dân du mục.


Qua một thời gian khá lâu, khi cha mẹ đã chết cả, người con gái lấy chồng rồi đẻ được hai con. Một hôm, vợ xõa tóc gội đầu, chồng trông thấy cái thẹo mới hỏi duyên cớ, vợ bèn kể gốc tích mình và thuật lại câu chuyện thuở nhỏ bị anh chém lỡ. Chồng nghe biết là em gái mình, lòng hối hận vô cùng vì đã vô tình mà hóa nên người loạn luân. Chàng ta bèn nói dối vợ là đi thăm họ hàng rồi dắt đứa con lớn xuống miền đồng bằng, đáp ghe biển đi về phía nam.


Vợ ở nhà mãi mãi không thấy chồng về, nhớ thương quá, ngày ngày bồng đứa con thơ lên ngọn núi cao nhất, ngó ra biển trông chồng. Rồi hóa thành tượng đá vọng phu. Đó là ngọn núi cao nhất của dãy Trường Sơn thuộc huyện Ninh Hòa tỉnh Khánh Hòa.


Người chồng đi xuống miền Nam sống với một bộ lạc ở ngoài thành Óc-eo thuộc vùng núi Ba Thê tỉnh An Giang. Lâu ngày nhớ vợ chán cảnh làm ăn, chàng bèn ra một hòn đảo ngoài biển. Chiều chiều lại dắt con ra mé đảo trông vời về nước cũ làng xưa. Rồi cha con chàng cũng hóa ra hòn Phụ Tử, ở hải phận Hòn Chông trước bãi Dầu và mỏm núi chùa Sơn Hải.


Thuở nhỏ nghe chuyện, không ngờ tới nay Xuyến lại được nhìn tận mắt hòn Phụ Tử. Giữa cảnh trời nước bao la, hai tảng đá sao mà lẻ loi cô đơn đến vậy. Nếu hai tảng đá đó là hòn Phụ Tử, thì trong lúc này Xuyến có khác gì một pho tượng đá Vọng Phu…


Bất giác cô thấy mình khẽ nhẩm hai câu thơ trong Lục Vân Tiên: Vọng phu xưa cũng trông chồng. Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha… Không, Xuyến không thể nào để cho lòng mình hóa đá để trở thành pho tượng Vọng Phu, in hình bóng cô độc lên nền trời xanh biêng biếc mà mây trắng là những vạt tóc bạc phơ bay tung trong gió lộng, mà dòng mưa như trút là những dòng lệ chảy không bao giờ cạn. Lòng Xuyến lúc này là cả một vạc lửa hồng. Dầu là đá cũng bị nung chảy ra thành luồng nước sục sôi. Không thể nhìn đăm đăm về phía trời xa để trông chờ một cách vô vọng thế kia, mà Xuyến phải nhìn cho rõ mặt kẻ thù, tiêu diệt chúng để rửa hờn cho cha mẹ, cho chồng, cho chủ soái và cho đất nước.


Bóng một chiếc ghe đã bắt đầu ẩn hiện trên nền trời với lá buồm trắng phập phồng. Tim Xuyến cũng đập phập phồng trong lồng ngực cùng một lúc với cánh buồm. Rồi cánh buồm rõ dần và không bao lâu chiếc ghe biển đồ sộ hiện ra, ghé vào mũi đá nghỉ chân. Khi người trên ghe vừa bước lên bờ, Xuyến nhìn rõ đó là Huỳnh Tấn. Cô nhằm vào Tấn bắn liền mấy phát, tới khi súng hết đạn mới chịu quay mình chạy vào trong hang. Trong hang sâu cô nghe rõ tiếng chân người đổ xuống, tiếng bọn lính la thét, hô hoán. Vì phải chờ đợi lâu lại hồi hộp thần kinh căng thẳng, nên khi vào sâu, khí đá nặng nề khiến cô ngạt thở choáng váng. Rồi cô té xỉu xuống nền hang lạnh như một nấm mồ.


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 


 







[1] Phạm Hữu Chánh quê ở thôn Lương Mỹ, tổng Bảo Hựu, phủ Hoàng Trị nay là làng Mỹ Thạnh, Bảo Thành, Bến Tre.




[2] Gió xuân trước mắt đều bè bạn. Muốn kiếm tri âm khó lạ lùng.




[3] Văn chương là của chung mọi ngưòi.




[4] Linh cữu của người hjọc trò già ở góc biển họ Phan.




[5] Giết giặc.




[6] Võ Mục tức Nhạc Phi được mẹ thích vào lưng bốn chữ “tinh trung báo quốc”(hết lòng trung đền nợ nước). Văn Thiên Tường ghi vào vạt áo hai câu nhắc nhở mình phải biết “xả sinh thủ nghĩa”(bỏ cái sống, giữ điều nghĩa).




[7] Kẻ sơ không ly gián nổi người thân với nhau.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bác sỹ Jivago - Boris Leonidovich Pasternak 11.12.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 18.11.2017
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 13.11.2017
Búp bê - Boleslaw Prus 10.10.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.10.2017
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.10.2017
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 21.09.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 21.09.2017
Một thời để yêu và sống - Đặng Hạnh Phúc 20.09.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 31.08.2017
xem thêm »