tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21052069
18.06.2013
Trần Hữu Tá
Thu Bồn – Mười năm nhớ lại

 Kỷ niệm 10 năm Ngày mất nhà thơ Thu Bồn (17/6/2003 - 17/6/2013)



- Nhấn chuột vô đây đọc bài của Triệu Xuân: Mãi mãi thương nhớ anh Thu Bồn 



 


Cuối năm 1969, tôi đến tòa soạn tạp chí Văn nghệ quân đội thăm nhà thơ cao niên Thanh Tịnh. Ông nhiều năm làm chủ nhiệm tạp chí này, và vì sống độc thân nên được cơ quan bố trí một phòng riêng để thường trú ngay tại trụ sở tòa soạn. Niềm vui nhân đôi, vì hôm đó lần đầu tiên tôi được gặp Thu Bồn trong căn hộ riêng của Thanh Tịnh. Thu Bồn (tên thực là Hà Đức Trọng) mới ở Tây Nguyên ra được mấy tháng. Một chuyến đi vất vả: theo đường mòn Hồ Chí Minh, ruột tượng gạo ngang vai, ba lô sau lưng, súng và lựu đạn ngang hông, tay chống gậy, con trai anh – cháu Hà Thảo Nguyên còn quá nhỏ, ngồi gọn trong chiếc ba lô đục thủng hai lỗ để cháu thòi 2 chân ra. Cứ thế 2 cha con đi hết dải Trường Sơn dòng dã 3 tháng, ra đến Thanh Hóa mới có xe đón về Hà Nội. Nghỉ ngơi ít ngày, anh được biên chế về ban biên tập tạp chí này. Thực ra, cuối năm 1965 tôi đã biết Thu Bồn – cũng như đông đảo người yêu thơ ở miền Bắc lúc đó, qua đứa con tinh thần nổi tiếng của anh: trường ca Bài ca chim Chơrao, nhưng đến bây giờ, sau hơn 4 năm mới có dịp tay bắt mặt mừng. Ngay lần gặp đầu tiên ấy Thu Bồn đã gây cho tôi một ấn tượng mạnh: anh có một vẻ đẹp rất nam tính – khôi ngô quắc thước, phong thái đĩnh đạc, cách nói chuyện mộc mạc nhưng sôi nổi, nhiệt tình. Đàn ông như anh, nữ không mê mới lạ!

 


Cuối năm 1969, tôi đến tòa soạn tạp chí Văn nghệ quân đội thăm nhà thơ cao niên Thanh Tịnh. Ông nhiều năm làm chủ nhiệm tạp chí này, và vì sống độc thân nên được cơ quan bố trí một phòng riêng để thường trú ngay tại trụ sở tòa soạn. Niềm vui nhân đôi, vì hôm đó lần đầu tiên tôi được gặp Thu Bồn trong căn hộ riêng của Thanh Tịnh. Thu Bồn (tên thực là Hà Đức Trọng) mới ở Tây Nguyên ra được mấy tháng. Một chuyến đi vất vả: theo đường mòn Hồ Chí Minh, ruột tượng gạo ngang vai, ba lô sau lưng, súng và lựu đạn ngang hông, tay chống gậy, con trai anh – cháu Hà Thảo Nguyên còn quá nhỏ, ngồi gọn trong chiếc ba lô đục thủng hai lỗ để cháu thòi 2 chân ra. Cứ thế 2 cha con đi hết dải Trường Sơn dòng dã 3 tháng, ra đến Thanh Hóa mới có xe đón về Hà Nội. Nghỉ ngơi ít ngày, anh được biên chế về ban biên tập tạp chí này. Thực ra, cuối năm 1965 tôi đã biết Thu Bồn – cũng như đông đảo người yêu thơ ở miền Bắc lúc đó, qua đứa con tinh thần nổi tiếng của anh: trường ca Bài ca chim Chơrao, nhưng đến bây giờ, sau hơn 4 năm mới có dịp tay bắt mặt mừng. Ngay lần gặp đầu tiên ấy Thu Bồn đã gây cho tôi một ấn tượng mạnh: anh có một vẻ đẹp rất nam tính – khôi ngô quắc thước, phong thái đĩnh đạc, cách nói chuyện mộc mạc nhưng sôi nổi, nhiệt tình. Đàn ông như anh, nữ không mê mới lạ!


      Rồi sau đó, qua một số buổi ngồi với nhau ở quán bia Cổ Tân, gần Nhà Hát Lớn Hà Nội, nhâm nhi vại bia hơi với đĩa đậu phộng luộc, tôi được Thu Bồn kể cho nghe những ngày rất đẹp nhưng rất căng của anh ở chiến trường trong hơn hai chục năm qua. Là đứa con của xứ Quảng (xã Điện Thắng, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam), anh đã xung phong vào thiếu sinh quân từ năm 12 tuổi (1947). Từ đó đến ngày ký hiệp định Genève, anh gắn bó với cuộc đời quân ngũ, bé thì làm liên lạc, đến tuổi 16 đã nằng nặc đòi trực tiếp cầm súng. Năm 1954, anh tập kết ra Bắc. Cũng như bao đồng đội, bà con miền Nam khác, anh sống trong tâm trạng “ngày Bắc đêm Nam”, luôn bồn chồn day dứt trước những biến động thấm đẫm máu và nước mắt của quê hương. Vì vậy không ít lần anh tha thiết xin trở lại miền Nam. Phải đến năm 1962, nguyện vọng ấy mới được đáp ứng. Từ trường Sĩ quan Lục quân, Thu Bồn là một trong những văn nghệ sĩ đầu tiên được vượt Trường Sơn, chi viện cho chiến trường và cuối cùng chốt lại trong ban biên tập tạp chí Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung Bộ - nơi tập hợp khá nhiều cây bút có tài, dưới sự lãnh đạo của ông trưởng ban biên tập rất có uy tín Nguyên Ngọc. Ngoài việc làm thơ, chuẩn bị bài vở cho tạp chí, được trời cho sức khỏe tốt, lại là người xốc vác chăm chỉ, anh bao giờ cũng vượt chỉ tiêu lao động do đơn vị giao cho: tăng gia sản xuất, làm nhà, đào công sự, săn bắn để cải thiện đời sống cho anh em.


     Nhưng anh đâu có chịu ở yên một chỗ. Đầu 1975, Thu Bồn lại tạm xa cuộc sống bình lặng ở Văn nghệ quân đội , trở lại chiến trường Tây Nguyên quen thuộc. Sau đó, khi thế lực Pôn Pốt – Iêng Sary nghe theo lệnh của nhóm người lãnh đạo ở Trung Nam Hải (Trung Quốc) tấn công nước ta, anh lại có mặt rất sớm ở biên giới Tây Nam, trong lực lượng quân tình nguyện Việt Nam giúp nhân dân nước bạn lật đổ chế độ diệt chủng, xây dựng cuộc sống mới. Đầu năm 1979, khi toàn bộ biên giới phía Bắc bị trên năm trăm ngàn quân xâm lược Trung Quốc uy hiếp, Thu Bồn lại nhanh chóng đến với các đơn vị tiền tiêu ở Lào Cai, Lạng Sơn. 33 năm “Nam chinh, Bắc chiến”, sống hết mình trong cả 4 cuộc chiến tranh mà dân tộc ta không hề muốn có, cuộc đời binh nghiệp của Thu Bồn thật đáng trân trọng. Chỉ từ 1980 trở đi, anh mới được có những ngày hoàn toàn dành cho sáng tạo nghệ thuật. Sau 10 năm sống ở Sài Gòn, từ 1991 đến lúc qua đời (17/6/2003), anh định cư ở xã Bình An, huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Quyết định rời bỏ thành phố Hồ Chí Minh, đầy đủ tiện nghi sinh hoạt, đến nơi ở mới hoang hóa, cũng thể hiện tính cách nhất quán của tác giả Bài ca chim Chơrao: anh không thích cuộc sống phố phường chật hẹp và chỉ muốn gắn với thiên nhiên khoáng đạt. Anh không muốn “tọa hưởng kỳ thành” những gì đầy đủ sẵn có, mà chỉ thực sự có niềm vui khi tự tay mình tạo lập cơ nghiệp.


    Đến thăm anh tại nơi ở mới này trong những ngày đầu, tôi cũng như các bạn văn khác,…thực sự lo cho anh. Vị trí đất đẹp đấy: gần Suối Lồ Ồ nổi tiếng từ trước năm 1945, láng giềng thuần hậu, các vườn cây chập chùng gần xa xanh thẳm; nhưng trên mảnh đất mới mua khá rộng ấy chỉ riêng công phát cỏ, chặt cây, nhặt đá cũng đã bở hơi tai, chứ chưa nói đến chuyện xây cất. Mà tiềm lực kinh tế của vợ chồng anh lại khá khiêm tốn.


    Một lần nữa, chất cần cù gan góc của người lính đã được Thu Bồn phát huy đến mức khó tưởng tượng. Thỉnh thoảng cũng thuê thêm một vài công thợ, nhưng chủ yếu cơ ngơi này một tay anh đã làm từ A đến Z. Sự thay đổi cảnh quan có thể thấy rõ qua từng tháng, cuối cùng tất cả bạn bè thân quen đều phải ngả nón trước công trình mang phong cách Tây Nguyên, thấm đẫm mồ hôi của anh. Nơi đây tự nhiên có sức hút đặc biệt với giới trí thức văn nghệ sĩ. Nhiều người thăm viếng thường xuyên. Ở Sài Gòn có Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Sáng, Trịnh Công Sơn, Xuân Đài, Nguyễn Tiến Toàn, Phan Đắc Lập, Hoàng Triệu Khang, Hồ Quốc Hùng… Ở Vũng Tàu có Xuân Sách. Xa nữa, xứ Huế có Hoàng Phủ Ngọc Tường, Lâm Thị Mỹ Dạ. Từ Hà Nội có Ngô Thảo và không ít văn hữu trong Văn nghệ quân đội – nơi anh có nhiều kỷ niệm sâu sắc. Từ đấy nảy sinh cái tên vui vui “nhóm Lồ Ồ” và linh hồn của nhóm không ai khác là chủ nhân Thu Bồn. Ít ai chân thành, hết lòng chiều bạn như anh. Với Thu Bồn, có lẽ thiếu gì cũng được nhưng thiếu bạn thì tuyệt đối không được. Chính vì thế khi anh qua đời – 19g ngày 17/6/2003, nhiều anh chị em đã bàng hoàng thảng thốt như mất đi một người ruột thịt. 69 tuổi kể cũng là thọ nhưng ai cũng tưởng con người thô mộc mà nhân hậu, ngang tàng ngất ngưởng nhưng chí tình chí nghĩa ấy sẽ còn sống lâu, bởi lẽ nhìn anh người ta có thể nghĩ đến một cây xà nu lực lưỡng, ngập tràn sức sống trong đại ngàn Tây Nguyên.


   Về chuyện văn chương, có thể khẳng định những đóng góp của anh cho nền văn học Việt Nam hiện đại thực sự đáng trân trọng. Anh trở nên rất thân thiết với bạn đọc cả nước từ Bài ca chim Chơrao (1962). Tác giả của bản trường ca này đã xứng đáng nhận 2 giải thưởng cao quí: giải thưởng văn học nghệ thuật Nguyễn Đình Chiểu do Hội Văn nghệ giải phóng miền Nam Việt Nam tổ chức, công bố tháng 10 năm 1965 và giải thưởng Bông Sen của Hội nhà văn Á Phi năm 1973. Còn nhớ, cuối năm 1965, tác phẩm này được in dưới dạng phụ bản của báo Văn nghệ, sau đó nhà xuất bản Văn học cho in nhiều chục ngàn cuốn mới đủ đáp ứng yêu cầu của người đọc, đặc biệt là sinh viên học sinh và bộ đội. Liên tục sau đó anh cho ra đời 26 tác phẩm. Riêng văn xuôi, có tới 13  tiểu thuyết và tập truyện ngắn.


    Vốn sống chiến trường ngồn ngộn, nên các tác phẩm của anh đều tìm cảm hứng và chất liệu từ cuộc kháng chiến chống Mỹ ở nhiều vùng khác nhau của miền Nam, đặc biệt là xứ Quảng quê ông. Ngay những tác phẩm viết trong lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt (Chớp trắng – 1969, Hòn đảo chân ren – 1972, v.v…) đã thể hiện niềm tin vững chắc của Thu Bồn vào thắng lợi cuối cùng của cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất.


     Thế nhưng để lại ấn tượng sâu đậm trong đông đảo người đọc là Thu Bồn – thi sĩ. Trong 20 năm (1965-1985), văn học Việt Nam có một mùa bội thu về trường ca. Nhiều nhà thơ đến với thể loại này, và tất cả đã chung góp vào một lượng tác phẩm đáng kể: hơn 80 tập. Có lẽ Thu Bồn là người đặc biệt say mê trường ca hơn cả và cũng sáng tác nhanh, khỏe hơn cả. Anh có tới 9 tác phẩm: Bài ca chim Chơrao (1962), Vách đá Hồ Chí Minh (1970), Chim vàng chốt lửa (1973), Quê hương mặt trời vàng (1975), Badan khát (1976), Campuchia hi vọng (1978), Oran 76 ngọn (1979), Người vắt sữa bầu trời (1985), Thông điệp mùa xuân (1985). Thu Bồn viết về Tây Nguyên chiến đấu (Bài ca chim Chơrao, Vách đá Hồ Chí Minh). Khi đất nước đã thống nhất, anh sớm nói lên khát vọng xây dựng cuộc sống tốt đẹp của vùng đất giàu truyền thống này (Badan khát) Anh xúc động mãnh liệt khi được trở về quê hương, gặp lại mẹ già (Quê hương mặt trời vàng). Anh chia sẻ với nỗi đau và niềm hi vọng  của người dân Campuchia đang đứng lên từ nạn diệt chủng (Campuchia hi vọng).


   Bài ca chim Chơrao là tác phẩm đầu tay nhưng lại là thành công đáng kể hơn cả của Thu Bồn trong lĩnh vực trường ca. Tác phẩm thể hiện những giá trị cơ bản trong nghệ thuật viết trường ca của anh. Câu chuyện về tinh thần kiên cường bất khuất trước kẻ thù của hai chiến sĩ Hùng (người Kinh), Rin (người Thượng) thực sự là bài ca đầy xúc động về tình đồng đội cũng như về sự đoàn kết giữa các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ. Thu Bồn gọi kết cấu tác phẩm của mình là kết cấu cốt truyện – liên tưởng. Câu chuyện mở đầu bằng cảnh ngục tù, sự tra tấn man rợ của quân thù và kết thúc bằng cái chết trong tư thế bất khuất của hai chiến sĩ. Nhà thơ mở rộng khuôn khổ của tác phẩm bằng thủ pháp hồi tưởng. Hai người anh hùng ấy nghĩ về đoạn đời đã qua, về quê hương, gia đình, tình yêu, lý tưởng. Yếu tố tự sự hòa quyện với yếu tố trữ tình. Người đọc như thấy hiển hiện trước mắt mình khung cảnh dữ dội, tình huống gay gắt bi tráng và nhân vật mang dáng dấp phi thường, kiệt xuất của Đam San, Xinh Nhã:


                             Trống rền chiêng ré rung cây núi,


                             Tiếng chim lặn xuống suối còn ngân


                             Người giậm giun trồi lên mặt đất


                             Máu thề đỏ ánh dốc ngực trần.


    Cũng như nhiều thi sĩ khác trong giai đoạn căng thẳng, quyết liệt này, các trường ca của Thu Bồn thấm đẫm cảm hứng chân thành về nhân dân đất nước, tiêu biểu cho khuynh hướng sử thi và tinh thần lãng mạn anh hùng.


                          Hãy về đây chim trời hoa suối


                          Hát ngợi ca đất nước anh hùng


                          Đất nước đẫm mồ hôi và máu


                          Cơ cực hằn sâu vầng sáng kiên trung.


    Từ 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới. Văn học cũng như các loại hình nghệ thuật khác đã có sự chuyển biến tích cực, phù hợp với sự chuyển đổi của xã hội. Khuynh hướng sử thi, như trên đã nói, thích hợp với hoàn cảnh vận mệnh dân tộc nghìn cân treo sợi tóc, giờ đã được thay thế bằng khuynh hướng thế sự, đời thường. Những tháng năm hướng ngoại để sáng tạo giờ đây được điều chỉnh thỏa đáng hơn. Với những nhà thơ tài năng, họ vẫn vừa gắn bó với nỗi buồn vui của đồng bào, vừa thường xuyên đối diện với trái tim mình. Thu Bồn cũng không là ngoại lệ. Tập thơ 100 bài thơ tình nhờ em đặt tên (1992) cho ta thấy một Thu Bồn vừa quen thuộc vừa mới mẻ. Trước hết từ thi hứng. Anh không hề vô tâm vô tình với niềm khắc khoải âu lo của bà con chân lấm tay bùn:


                          Những con kênh đào nước đã về chưa?


                          Hạt giống đã nằm nghiêng trong khóe mắt


                          Những cánh đồng khốc khô như rỉ sắt


                          Đương quằn quại chiều nay phát sốt ngóng cơn mưa


       Mặt khác, anh ngày càng có nhiều hơn những câu, những đoạn thơ tưởng như riêng tư nhưng đậm chất nhân văn, nhân bản:


                           Mưa làm cay rát làn môi


                           Mưa trong đôi mắt xa xôi em nhìn


                           Cơn mưa làm ướt tiếng chim


                           Cánh hoa bảy nổi ba chìm là em


                           Mưa như đời sẽ lãng quên


                           Tiếng ca em hát khiến đêm hóa ngày


                           Mưa như trời đất đang say


                           Hàng cây chuếnh choáng khoác vai nhau về


                                                           (Mưa tháng sáu)


      Giọng điệu thơ của anh cũng đa dạng khác trước. Nếu ta vốn quen với giọng thơ hùng tráng, hệ thống hình ảnh kỳ vĩ và ngôn ngữ nghiêm trang đôi khi có phần cường điệu của thơ ca thời chiến tranh, thì trong giai đoạn này khi cần Thu Bồn vẫn hấp dẫn chúng ta bằng cách diễn đạt quen thuộc ấy, nhưng vẫn có sắc thái ngang tàng phóng túng rất riêng:       


                                   Câu Tiễn xưa kia đi nếm mật


                                   Ta nay ăn đất một đời thừa


                                   Xưa kia tráng sĩ hề da ngựa


                                   Ta nay uống cạn mấy rừng mưa


 


                                  Độc huyền tráng sĩ xưa ca cẩm


                                  Ta ôm xích đạo gãy vòng cung


                                  Môi hôn ngọn gió thơm hoa trái


                                  Núi cũng chiều ta đứng trập trùng.


                                 


                                  …Bơi qua biển lửa ta về lại


                                  Gọi Thái Bình Dương đến dạo đàn


                                  Những cung xưa cũ lời em hát


                                  Còn cháy lòng ta lửa thử vàng


        


                                  Bao năm gối núi đầu hóa đá


                                  Tiếng hát từng rung Ngũ Giác đài


                                  Bao phen xa xứ người thương nhớ


                                  Trăng sáng mà em áo vẫn cài


                                                                   (Hành phương Nam)


         Thế nhưng giờ đây Thu Bồn chủ yếu thuyết phục người đọc bằng những câu thơ lục bát mềm mại, dịu dàng, đôn hậu                                  


                                   Mong em về trước cơn mưa


                           Mây giăng kín núi đò chưa cập cầu


                                Thương em nhiều nỗi sông sâu


                           Truân chuyên con nước biết đâu anh dò


                                Ba mươi năm một chuyến đò


                           Chưa xong chuyến lại thân cò sang sông


                                Trăm năm một cõi bềnh bồng


                          Chanh chua chát chuối vẫn nồng trầu cau


                                 Em còn đợi chuyến đò sau


                          Hay là không thể đợi nhau bờ này


        Sự đổi mới, sáng tạo của Thu Bồn trong 100 bài thơ tình nhờ em đặt tên còn ở một phương diện quan trọng khác: nếu trong các tập thơ Tre xanh (1969), Mặt đất không quên (1970) có không ít bài thiếu sự cô đọng cần thiết, thì đến tập thơ cuối cùng này nhà thơ đã khắc phục khá căn bản điểm yếu “chết người” trên. Thơ anh ngày càng thâm trầm, lắng đọng, nặng trĩu suy tư. Có thể coi bài Tạm biệt Huế là tiêu biểu:


                               Nhịp cầu cong và con đường thẳng,


                               Một mình anh tìm mãi Huế nơi đâu.


                               Con sông dùng dằng, con sông không chảy


                               Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu.


                              


                               Tạm biệt Huế với em là tiễn biệt


                               Hải Vân ơi đừng tắt ngọn sao khuya


                               Tạm biệt nhé với chiếc hôn thầm lặng


                               Anh trở về hóa đá phía bên kia.


        Một hiện tượng thú vị: bài thơ được đông đảo bà con đất Thần kinh – những người có khả năng cảm thụ nghệ thuật tinh tế - đón nhận vồ vập, như đã từng yêu Đây thôn Vĩ Dạ của nhà thơ Hàn Mặc Tử. Mỗi lần đến với Huế, được đi thuyền trên sông Hương, lắng nghe những điệu hò “Mái nhì, Mái đẩy” đặc trưng của vùng văn hóa này, có thể đoan quyết thế nào các nghệ nhân cũng làm cho du khách bốn phương rưng rưng xúc động về ý, tình của những câu thơ có thể coi là tuyệt bút này. Phải yêu và hiểu Huế lắm, phải lịch lãm trải nghiệm nhiều lắm mới có thể cảm nhận “Con sông dùng dằng, con sông không chảy/ Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu”.


     Mười năm qua đi như một chớp mắt, ngược lại có lúc tưởng nó dài như cả một thế kỷ. Cuộc sống chuyển vần nhanh đến chóng mặt và mạnh đến nghẹt thở. Không ít con người và những giá trị đã rơi vào quên lãng. Chỉ những ai và những gì thực sự có phẩm chất cao mới chịu đựng được sự thải loại của thời gian. Có thể cả tin nhân cách của Thu Bồn và một số đứa con tinh thần của anh sẽ còn được giới yêu văn chương tiếp tục trân trọng, quí mến.      


THT.


www.trieuxuan.info


Bài đã in trong sách Thu Bồn Tráng sỹ hề… dâu bể. NXB Hội Nhà văn, 6-2013.


-          Kiến thức ngày nay, số 823 (20 / 6 / 2013).                             

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »