tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20004370
Truyện ngắn
17.06.2013
Vũ Bằng
Thư (tiếp & hết)

Đêm hôm ấy là một trong những đêm mà ông không muốn nhắc lại cho người ta nghe làm gì. Ông nằm trên giường, đèn tắt. Ông tự hỏi không biết chị hai làm giường và quét dọn nhà cửa sáng mai có đến sớm để đun nước cho ông không. Bỗng, ông nghe thấy một tiếng động. Cánh cửa phòng làm việc của ông kêu kẹt. Không có tiếng chân ai ở hành lang. Nhưng tiếng kẹt cửa làm cho ông không yên lòng chút nào, vì ông nhớ chắc chắn rằng trước khi đi ngủ ông đã đóng cái cửa ấy rồi, sau khi thu dọn giấy tờ vào trong ngăn kéo. Ông liền ngồi dậy, khe khẽ đi ra hành lang, cúi xuống nhìn qua tay vịn cầu thang và lắng tai nghe. Không có một tí ánh sáng nào hết. Mà cũng không có một tiếng động nào hết, duy chỉ có một làn gió âm ấm – có thể bảo là nóng – thổi vào chân ông. Ông trở lại giường nằm, đóng cửa cài then lại. Tuy nhiên, vẫn chưa hết bực mình. Chẳng biết có phải nhà đèn tiết kiệm điện nước cúp điện từ mười hai giờ đêm đến sáng không? Hay là đứt cầu chì? Dù sao đi nữa thì ông cũng không có điện, phòng tối om om. Ông sờ soạng tìm hộp quẹt, coi xem mấy giờ để coi còn bị bực mình bực mẩy bao lâu nữa. Ông bèn móc tay xuống dưới nệm, tìm chỗ mà ông vẫn để hộp quẹt, nhưng tay ông chưa rờ tới đó thì thấy... thấy – sau này ông kể chuyện lại cho người quen nghe – thấy một cái mồm, có răng hẳn hòi, chung quanh có lông và – theo ông – nhất định không phải là cái mồm người ta.


Tôi thấy không cần phải đoán xem ông thấy gì và làm gì lúc ấy. Ông chạy sang phòng bên cạnh là phòng tiếp khách khứa ở xa về nghỉ, đóng cửa lại, kề tai vào lỗ khóa để nghe, trước khi lại hồn. Từ lúc ấy đến sáng, ông sống những giờ phút lo âu, vất vả, khó nhọc, lúc nào cũng nơm nớp sợ có tiếng lọc sọc trong ổ khóa, nhưng không có gì lạ xảy ra.


Sáng sớm, vừa run, vừa ngại, tai lắng nghe mọi tiếng động chung quanh, ông đánh liều trở lại phòng ngủ của ông. May làm sao, cửa lại mở, vì đêm qua lúc ông bỏ sang phòng bên cạnh, ông không đóng. Thì thấy không có gì chứng tỏ có người lạ vào phòng. Đồng hồ đeo tay của ông vẫn nằm nguyên chỗ cũ, không có gì xô lệch cả, duy chỉ có cái cửa tủ mở ra (cánh cửa này từ trước tới nay vẫn thế). Có tiếng chuông bấm, chị hai đến dọn dẹp cửa nhà, trải lại giường. Ông Đỗ Ninh lại có can đảm tiếp tục xem xét các phòng khác. Chẳng có gì lạ hết.


Buổi sáng tuy yên tĩnh như thế, nhưng suốt ngày thì khổ không chịu được. Ông không tới viện bảo tàng, mặc dầu người làm ở đó, hôm trước bảo ông rằng Cát Vinh ít khi tới đó. Thế ngộ Cát Vinh tự nhiên đến thì sao? Đỗ Ninh tự thấy mình không đủ sức đối phó với một người lạ, không có cảm tình với ông. Ông thấy kinh tởm căn nhà của ông. Ông không muốn ở báo hại nhà ông bác sĩ. Mỗi ngày, ông dành một ít thì giờ đến bịnh viện và ông yên tâm phần nào khi được biết rằng bịnh tình của hai chị người làm đã đỡ. Đến giờ ăn trưa, ông đến câu lạc bộ và ông thấy dễ chịu khi được gặp người thư ký Hiệp hội. Trong khi dùng cơm, Đỗ Ninh kể cho ông thư ký nghe những chuyện bực mình của ông, nhưng không nói tới những nỗi đau khổ đè nặng tâm hồn ông.


Ông thư ký nói:


– Tội quá, lộn xộn không chỗ nói. Chúng tôi ở nhà có một mình, hoàn toàn không có ai, ngoài vợ chồng chúng tôi. Ông đến ở cho vui. Không, ông đừng từ chối. Ông cứ coi nhà tôi như là nhà ông. Ông mang mấy thứ đồ dùng cần thiết lại ngay chiều nay, nhé!


Khi nào rảnh rang ngồi xét nét và ngắm kỹ ông, các bạn hữu đều thấy ông có vẻ chán chường, mệt nhọc và họ cố sức nâng cao tinh thần ông lên. Họ không thất bại hẳn, nhưng khi nào ngồi hút thuốc lá một mình, Đỗ Ninh lại bơ phờ, rầu rĩ. Đột nhiên, ông nói với ông thư ký:


– Anh à, tôi thấy hình như ông Cát Vinh biết rằng tôi bác bỏ dự án nói chuyện về thuật biến chế sắt thiếc ra thành vàng của ông ta.


Ông thư ký hỏi:


– Sao ông lại nghĩ như vậy?


Đỗ Ninh nói:


– Anh Dung Tôn, (người thư ký tên là Dung Tôn) tôi nghĩ như vậy không phải là không có lý do đâu.


Đỗ Ninh thuật lại cho Dung Tôn câu chuyện giữa ông và nhân viên viện bảo tàng ngày hôm trước. Dung Tôn phải nhận là giả thuyết của ông có thể đúng phần nào.


Đỗ Ninh tiếp:


– Không phải tôi sợ gì đâu, nhưng tôi không muốn ai phiền nhiễu, thêm nữa, đối diện nhau làm gì, khi người ta không có cảm tình với nhau. Hình như ông ta khẳn tính và nhiều “mánh” lắm.


Câu chuyện lại bỏ ngang. Dung Tôn mỗi lúc một thêm băn khoăn vì thấy dáng điệu và mặt mũi ông Đỗ Ninh phảng phất một nỗi buồn ghê gớm khó tả. Rút cuộc, không chịu nổi, Dung Tôn hỏi thẳng Đỗ Ninh có điều gì quan trọng làm cho ông phải nghĩ ngợi, lo buồn hay không, Đỗ Ninh “à” một tiếng, ra vẻ nhẹ nhõm hẳn:


– Tôi muốn làm sao cho tâm hồn tôi thư thái, không bị cái gì ám ảnh. Anh có biết một người nào tên là Haritôn không?


Dung Tôn ngạc nhiên hết sức và hỏi tại sao ông lại hỏi như thế? Ông Đỗ Ninh bèn kể lại cho Dung Tôn nghe tất cả những gì đã xảy ra, ở trên xe điện, ở nhà ông, ở ngoài đường và ông hỏi:


– Thế thì Haritôn là ai vậy? Anh có biết người ấy không?


Dung Tôn không biết trả lời ra sao. Có lẽ cũng nên nói cho Đỗ Ninh biết cái chết của Haritôn, nhưng thấy Đỗ Ninh xúc động quá, Dung Tôn lại thôi, không nói nữa, một phần vì câu chuyện quái đản, bi đát quá mà phần khác, Dung Tôn không biết hai trường hợp có liên quan gì với nhau không và mối quan hệ đó có phải là do Cát Vinh không?


Sau, Dung Tôn quyết định để nghĩ kỹ rồi chiều sẽ trả lời. Ông sẽ nghiên cứu kỹ vụ này với vợ. Y bèn trả lời ông biết Haritôn ở Cam-bích và có lẽ y đã chết bất đắc kỳ tử năm 1889, thêm thắt vài chi tiết về cá nhân Haritôn và các tác phẩm đã xuất bản của y.


Về nhà, ông đem tình hình ra xét lại với vợ và đúng như ông dự đoán, bà này nắm ngay lại cái kết luận hiện ra trong đầu óc. Chính bà đã nhắc cho ông chồng nhớ rằng Haritôn có một người em còn sống tên là Hên-ri. Bà đưa ra ý kiến là có thể gặp Hênri qua mấy người bạn cùng ăn uống ngày hôm trước.


Dung Tôn nói:


– Có lẽ Hênri là một người lập dị, lắng nhắng điều tra vụ anh ông ta, thét rồi bỏ đó.


– Biết đâu... mình cứ gặp, em nghĩ chẳng có hại gì...


Ngày hôm sau, bà tìm một người bạn cùng ăn cơm mấy bữa trước, tên là Biên.


Thiết tưởng chẳng cần phải kể lể dài dòng cuộc gặp gỡ giữa Đỗ Ninh và Hênri làm gì. Giai đoạn cần phải thuật bây giờ là chuyện nói ra trong cuộc mạn đàm giữa hai người. Đỗ Ninh thuật cho Hênri nghe vụ áp phích có ghi tên và ngày chết của Haritôn trên xe điện, không quên mấy sự việc xảy ra sau đó. Đoạn, ông hỏi Hênri có thể nhắc lại một vài trường hợp bao quanh cái chết của người anh ông ta không. Hênri hết sức ngạc nhiên về những chi tiết mà ông Đỗ Ninh vừa thuật cho nghe. Hênri nói:


– Anh tôi, Haritôn, vài tuần trước khi xảy ra tai nạn (chớ không phải ngay trước khi xảy ra tai nạn) thỉnh thoảng lại rơi vào một tình trạng lạ lùng. Có nhiều nguyên nhân, nguyên nhân chính là anh tôi cảm thấy có người theo dõi. Chắc chắn đó là một người đáng lưu ý, nhưng trước đấy không bao giờ anh tôi lại có những tư tưởng lạ kỳ như thế. Bây giờ tôi vẫn yên trí anh tôi bị một người nào đó dùng tà thuật ám hại. Những điều ông vừa nói nhắc tôi nhớ tới rất nhiều trường hợp của anh tôi. Ông có thấy giữa hai vụ có một quan hệ gì không?


– Có. Tôi thấy lờ mờ trong óc rằng giữa hai vụ có một quan hệ. Người ta vừa cho tôi biết rằng anh ông, trước khi chết đã viết mấy bài báo đả kích kịch liệt một cuốn sách. Vừa đây tôi lại gặp tác giả cuốn sách đó và gặp trong những trường hợp có thể gây thù hằn cho tôi.


– Có phải người đó là Cát Vinh không?


– Phải. Chính y là Cát Vinh.


Hênri ngả lưng ra ghế tựa:


– Bây giờ, tôi chắc chắn rồi. Và bây giờ, tôi phải trình bày kỹ hơn. Theo mấy lời nói trước khi mất, anh tôi tin rằng Cát Vinh chính là nguyên nhân gây ra tất cả sự suy sụp tinh thần của anh tôi. Tôi phải nói với ông việc này có vẻ như không dính líu đến câu chuyện chúng ta đang nói. Anh tôi mê nhạc lắm, thường vẫn đi dự các cuộc hòa tấu ở Luân Đôn. Ba tháng trước khi chết, anh tôi đi dự một cuộc hòa tấu về, có đưa tôi bản chương trình – ảnh vẫn giữ những bản chương trình như vậy – để cho tôi coi.


Anh tôi nói:


“– Chỉ một chút xíu nữa, tôi không nói cho chú nghe chuyện này. Hình như tôi đánh rớt bản chương trình, tôi đi tìm ở dưới ghế, trong các túi áo v.v... và người ngồi cạnh tôi đưa cho tôi bản chương trình của y. Y hỏi tôi có cho phép y biếu tôi không, bởi vì y không cần. Đoạn, y đi liền. Tôi không biết y là ai. Đó là một người đàn ông cao lớn, vạm vỡ, mày râu nhẵn nhụi. Mất bản chương trình thì tiếc lắm, tôi có thể mua một bản khác, nhưng bản này không mất tiền.


Một lần khác, anh tôi nói với tôi rằng ảnh thấy bực tức, bất thường trong khi đi đường tự nhiên tối lửa tắt đèn như ban đêm. Bây giờ nghĩ lại tôi thấy có sự giống nhau trong sự việc của ông và anh tôi. Ít lâu sau, anh tôi xem lại tập chương trình, xếp lại, thứ tự để đem đi đóng. Trong bản chương trình chót mà tôi chỉ đọc sơ qua lúc ảnh đưa, có một con bươm bướm nhỏ với những nét rất đặc biệt, đen trắng lẫn lộn, kẻ vạch rất cẩn thận. Đối với tôi, cái đó giống như chữ cổ Bắc Âu. Anh tôi nói:


– Chắc cái này của ông vạm vỡ, cao lớn ngồi cạnh tôi nghe hòa tấu rồi cho tôi bản chương trình như chú đã biết rồi. Giá tôi biết ổng ở đâu, tôi sẽ đem đến trả. Chắc đây là một bản sao cái gì không rõ. Người sao lại cái này chắc chắn mất công không ít. Ồ, làm thế nào kiếm được địa chỉ ông ta?


Chúng tôi cùng ngồi cứu xét và kết cục, đồng ý là không bõ đăng lên mục “Rao vặt” trên báo để tìm chủ nhân con bướm nhỏ. Tốt hơn là anh tôi đợi kỳ hòa tấu tới, may ra có gặp ổng chăng. Tờ giấy hình con bướm đặt trên cuốn sách. Chúng tôi ngồi cạnh lò sưởi. Đó là một buổi chiều đầu thu, trời lạnh và có gió. Bỗng hình như có một ngọn gió đẩy cửa vào mà chúng tôi không hay. Làn gió cuốn tờ giấy hình con bướm vào lò sưởi. Giấy cháy bùng và tan ra trong lò.


Tôi nói:


– Bây giờ có muốn trả cũng không thể được.


Anh tôi ngồi thừ ra một phút, càu nhàu:


– Không. Nhưng mà tại sao chú cứ nhắc đi nhắc lại chuyện ấy làm gì?


Tôi bảo cho anh biết là tôi không nhắc đi nhắc lại, tôi chỉ mới nói lần đầu thôi. Anh tôi nói:


– Chú nói thế mà nghe được à? Chú nói ít ra bốn lần rồi.


Tôi nhớ lại tất cả những sự việc ấy rất rõ ràng. Bây giờ, ta đi sâu vào vấn đề hơn chút nữa: tôi không biết ông có đọc cuốn sách mà anh tôi đả kích dữ dội không. Phần tôi, tôi đã đọc rồi. Lần thứ nhất, chúng tôi cùng cười. Văn gì ngây ngô lạ lùng, nội dung có thể làm dựng tóc gáy một cựu sinh viên trường Ốc-pho. Mà người ấy – tác giả cuốn sách – bạ cái gì cũng “xơi” tuốt. Y trộn lộn những huyền thoại cổ xưa với các truyện trong sách “Cổ tích vàng” cùng các truyện ký về các phong tục hiện nay của các giống người man rợ khắp trong thế giới. Cố nhiên những truyện tích đó có cái hay riêng của nó, nhưng điều cần là phải biết sử dụng – mà trong trường hợp Cát Vinh y đã làm thành một món “xà bần” không đầu không đuôi. Sau khi anh tôi mất rồi, tôi lại mang cuốn sách ra đọc lại, cũng chẳng thấy hay ho gì hơn trước, nhưng đọc lần này tôi có một cảm giác khác hẳn.


Tôi ngờ rằng – tôi đã nói với ông rồi phải không? – tôi ngờ rằng Cát Vinh nuôi một căm thù đối với anh tôi và rất có thể y là người gây nên cái chết của anh tôi. Bây giờ cuốn sách của y là cả một cái gì rùng rợn, gớm ghiếc. Tôi đặc biệt lưu ý tới một chương nói về thư, ếm, chài, bùa, ngải với những cái gì tương tự thế, hoặc để lấy cảm tình của người ta, hoặc để lấy tiền tài của người ta, hoặc để chiếm lòng yêu của người ta, hoặc để diệt trừ những kẻ mình thù ghét, những người không ưa mình hoặc tưởng người ta hại mình. Ông ta viết một cách tin tưởng hết sức đến nỗi tôi phải nghĩ rằng những tà thuật ấy đối với ông quen thuộc lắm. Tôi không có thì giờ đi sâu vào chi tiết, nhưng tôi gần như chắc chắn, theo những tin tức tôi thâu góp được, rằng người đàn ông tốt bụng cho anh tôi bản chương trình hòa tấu chính là Cát Vinh. Tôi ngờ rồi tôi quả quyết rằng tờ giấy ấy quan trọng lắm. Và tôi nghĩ rằng nếu anh tôi trả được tờ giấy ấy cho y, có lẽ anh tôi không chết oan chết uổng. Vì thế, tôi có ý muốn hỏi ông xem ông có điều gì chỉ bảo cho tôi thêm nữa hay không.”


Đáp lời, ông Đỗ Ninh thuật lại sự việc diễn ra trong phòng thủ bút Viện bảo tàng Anh.


Hênri nói:


– Vậy là y có trao cho ông mấy tờ giấy. Ông có coi kỹ không? Không à? Nếu ông cho phép, chúng ta phải coi ngay bây giờ, và coi rất kỹ...


Cả hai người cùng đi về nhà lúc ấy vẫn còn vắng vẻ, vì hai chị người làm vẫn còn ở nhà thương chưa về. Bụi bám mấy giấy tờ của ông Đỗ Ninh để trên bàn viết. Trong một bao thư lớn, có những cuốn sổ nhỏ để dùng ghi nháp. Trong các cuốn đó, lúc ông nhắc lên coi, có một con bướm rớt ra, quay mấy vòng, một con bướm bằng giấy mỏng và nhẹ. Cửa sổ mở, nhưng Hênri đứng lên đóng lại, vừa đúng lúc con bướm giấy bay lên, định vượt ra ngoài. May sao Hênri chộp vừa kịp và cửa sổ vừa đóng lại. Hênri nói:


– Đúng như tôi nghĩ. Rất có thể đây cũng là một thứ giấy mà Cát Vinh trao cho anh tôi. Ông Đỗ Ninh, ông phải coi chừng và phải hết sức thận trọng. Rất có thể nguy hại cho ông.


Họ hội ý với nhau rất lâu và xem xét tờ giấy rất kỹ lưỡng. Đúng như lời Hên-ri, những chữ viết trên con bướm trông y như chữ cổ Bắc Âu, nhưng cả hai người đều mù tịt, không hiểu gì hết, và họ ngần ngại ghi chép lại. Chính họ thú nhận rằng họ sợ những chữ ma quái ấy nhập vào người họ và gây nguy hại. Đỗ Ninh và Hênri tin chắc rằng tờ giấy vẽ con bướm có một mãnh lực ma quái lôi kéo người nào giữ giấy ấy vào một tình trạng hiểm nghèo. Họ đồng ý phải trả lại chỗ phát sinh ra nó, hơn thế, phương pháp duy nhất, chắc chắn nhất là người nhận tấm giấy con bướm đó phải đích thân làm lấy công việc đó, mà muốn vậy, cần phải nghĩ mưu mẹo cho cẩn thận, phải khôn khéo lắm bởi vì Cát Vinh đã biết mặt Đỗ Ninh rồi.


Trước hết, ông ta cần phải hóa trang, cạo râu đi. Ờ, thế nhưng mà nếu ác quả lại xảy ra trước khi ông Đỗ Ninh hành động thì làm sao? Hênri cho rằng cần phải ấn định ngay một ngày để hành động. Hênri biết ngày hòa tấu mà “số đen” đã rớt lên đầu anh ông: ngày mười tám tháng sáu. Anh ông chết ngày mười tám tháng chín, nghĩa là sau ba tháng. Đỗ Ninh nhớ ngay ra là ông đọc tờ áp phích trên xe điện thấy ghi thời hạn là ba tháng thật. Ông nói với một nụ cười không tươi chút nào:


– Có lẽ tôi cũng được hưởng một thời hạn ba tháng như anh ông vậy. Để tôi coi cuốn sổ tay xem thời hạn ba tháng đến bao giờ thì hết.


Sự việc diễn ra trong phòng thủ bút viện Bác Cổ Anh ngày hai mươi ba tháng tư, vậy là đến hai mươi ba tháng bảy thì hết hạn. Bây giờ, chắc ông đã rõ tôi cần phải biết rõ diễn tiến của các mối lo âu, sợ sệt, băn khoăn của anh ông, nếu ông vui lòng chỉ bảo cho tôi.


– Cố nhiên. Trước hết, ảnh băn khoăn hết sức vì lúc nào cũng cảm giác có người rình mò, theo dõi mỗi lúc ảnh có một mình. Ít lâu sau, tôi ngủ chung phòng để cho ảnh đỡ sợ. Ảnh khá hơn một chút. Nhưng trong khi ngủ, vẫn nói năng lảm nhảm hoài.


Trong hai tháng bị tử thần đe dọa mang đi, anh tôi nhận được hai món hàng do nhà Bưu điện đem tới, cả hai cùng dán tem, đóng dấu ở Luân Đôn. Địa chỉ viết bằng một thứ chữ ngoằn ngoèo, không ra vẻ gì cả. Một món hàng là bản khắc gỗ in trong một cuốn sách xé ra, vẽ một con đường dưới ánh trăng, có một người đi, bị một con vật nửa người, nửa quỷ rượt theo. Bức vẽ đó ghi ở dưới mấy câu thơ của một Người Lính Thủy Già:


... cứ đi hoài ở trên đường


và không quay lại nữa


bởi vì y biết có một con quỷ ghê gớm


theo sát gót y


Món hàng thứ nhì là một cuốn lịch từng ngày mà ta vẫn thường treo trên tường. Anh tôi không để ý mà cũng chẳng coi, nhưng sau khi anh tôi mất, tôi có coi cẩn thận và nhận thấy rằng tất cả những tờ lịch kể từ mười tám tháng chín trở đi đều đã bị bóc hết. Ông chắc sẽ lấy làm ngạc nhiên sao anh tôi có cảm giác bị một người theo đuổi khi nào ngồi hay đi một mình mà tại sao chính tối xảy ra tai nạn, anh tôi lại đi chơi một mình. Kỳ lắm, ông Đỗ Ninh à, trong mười ngày cuối cùng của anh tôi, ảnh cảm thấy hoàn toàn thoát ly cảm giác bị người ta rình mò, theo dõi.


Cuộc hội ý giữa Hênri và Đỗ Ninh đưa tới quyết định sau đây: Hênri quen một người ở gần nhà Cát Vinh. Theo ông ta nghĩ, y có thể canh chừng hành động của Cát Vinh. Đỗ Ninh có nhiệm vụ phải sẵn sàng bất cứ lúc nào và luôn luôn có mặt ở trên con đường mà Cát Vinh đi lại, luôn luôn giữ tờ giấy quái quỷ rất cẩn thận ở một nơi rất kín, không ai tới gần được. Họ tạm biệt nhau. Những tuần lễ kế tiếp làm cho gân cốt của Đỗ Ninh căng thẳng. Tấm rào vô hình dường như dựng lên ở chung quanh ông từ hôm mà ông nhận được tờ giấy ma quái lần lần biến thành một thứ bóng tối mịt mùng bao vây lấy ông, làm cho ông u mê ám chướng, không còn biết nghĩ cách gì để trốn tránh. Ở chung quanh ông, không có một người nào đưa ra ý kiến khuyến cáo ông đi trú ẩn một nơi kín đáo nào đó để tránh tai nạn. Nói thế thôi, chớ nếu đã là tà thuật thì tránh đâu mà Cát Vinh chẳng tìm ra? Mà hình như con ma con quỷ theo dõi ông, nó không rời ông nửa bước thì trốn tránh đi đâu? Mà trốn tránh làm sao cho thoát? Tháng năm, tháng sáu và đầu tháng bảy qua đi rất ngon lành, thiên hạ vẫn sinh sống như thường, riêng có Đỗ Ninh thì khắc khoải, lo âu, run sợ, chán nản và chờ đợi... Ông chờ đợi một tin của Hênri. Nhưng trong thời gian đó, Cát Vinh không rời khỏi Lữ Pho.


Sau cùng, khoảng một tuần lễ trước ngày mà ông coi là thời hạn cuối cùng của mình trên trái đất này, Đỗ Ninh nhận được một bức điện văn:


“Rời Víchtôria  xe lửa chiều thứ năm. Có mặt tại đó, không để lỡ. Tôi đến nhà tối nay – Hên-ri.


Thực vậy, Hênri tới và họ ấn định kế hoạch với nhau. Xe lửa khởi hành từ Víchtôria  hồi hai mươi mốt giờ. Chuyến tốp cuối cùng trước Đuvơ là Cônđông. Hênri sẽ theo Cát Vinh từ Víchtôria  và sẽ kiếm Cát Vinh ở Cônđông, sẽ kêu Đỗ Ninh bằng một tên riêng đã thỏa hiệp với nhau. Đỗ Ninh hóa trang sẽ không có một tờ nhãn nào dán trên va li hay cái xách tay. Bất cứ bằng giá nào cũng phải có tờ giấy vẽ hình con bướm ở trong mình.


Thiết nghĩ chẳng cần phải thuật dài dòng nỗi khắc khoải, lo âu của Đỗ Ninh trên bến Côn-đông. Nỗi kinh hoàng ray rứt, đe dọa ông chỉ có tăng mà không giảm trong những ngày cuối, vì lẽ đám mây che phủ, bao bọc ông tự nhiên sáng hẳn ra. Ánh sáng đó báo một điều không tốt. Nếu Cát Vinh tránh y bây giờ, sẽ không còn hy vọng gì nữa và rất có nhiều phần tin được là Cát Vinh tránh né ông. Tin đồn y đi chơi, phải chăng chỉ là một mánh khóe để đánh lừa người ta?


Hai mươi phút đồng hồ đi đi lại lại trên bến, hết ngó ra đàng này đàng kia để xem có thấy bóng Hênri không, lại hỏi thăm bọn ba de xem tàu đi tàu tới ra sao, hai mươi phút ấy là hai mươi phút đen tối nhất, sôi động nhất trong đời Đỗ Ninh. Nhưng rồi xe lửa cũng tới. Hênri đứng ở cửa toa. Điều cần là họ phải ra vẻ không quen biết nhau bao giờ. Đỗ Ninh bước lên xe, do từ cửa sau, rồi chuyền từ toa nọ sang toa kia, cho tới toa Cát Vinh và Hênri ngồi. Đỗ Ninh mừng thầm khi thấy xe không chật quá.


Cát Vinh ngồi đàng hoàng, cẩn thận, không tỏ ra nhận được Đỗ Ninh ngồi ở trên chiếc ghế đối diện với y, nhưng không phải là mặt nhìn mặt nhau. Đỗ Ninh nghĩ lung tung trong óc để tìm cách nào có thể trả tấm giấy lại cho Cát Vinh để thoát nợ. Bên cạnh Đỗ Ninh, trông thẳng vào Cát Vinh là một xếp quần áo chất lù lù trên ghế. Nhét tấm giấy vào đó, không được. Đỗ Ninh chỉ có thể, chỉ cảm thấy có thể yên tâm và an toàn nếu có thể trao tờ giấy ấy tận tay Cát Vinh hay là nếu Cát Vinh vui lòng nhận tấm giấy ấy bằng cách này hay cách khác. Có một cái túi trong đựng giấy tờ. Có thể giấu cái túi ấy đi, giấu cách nào cho Cát Vinh không biết hay là quên khuấy trong chốc lát rồi Đỗ Ninh làm ra bộ tìm thấy cái túi và đưa trả lại cho Cát Vinh? Đó là kế hoạch duy nhất mà Đỗ Ninh có thể thực hiện được. Nếu mà ông hội ý được với Hênri thì hay biết mấy, nhưng nói thế thôi, chớ hội ý với Hênri lúc ấy, làm sao được?


Thời giờ trôi qua. Nhiều lần Cát Vinh đứng dậy, đi ra ngoài hành lang. Lần thứ hai, Đỗ Ninh định tâm làm rớt cái xách tay ở trên ghế xuống nhưng thấy Hênri liếc mắt lại thôi. Ở ngoài hành lang, Cát Vinh theo dõi họ, chắc là để coi hai người này có quen biết nhau không. Y quay lại chỗ ngồi, nhưng rõ ràng là y có điều thắc mắc, không yên, và lúc y đứng dậy lần thứ ba, Đỗ Ninh hy vọng vì vừa có một vật thật tình rớt từ trên ghế xuống sàn xe, im lặng không có tiếng động gì. Đỗ Ninh lượm vật đó lên và thấy rằng mình đã nắm được cách giải quyết ở trong tay rồi.


Đó là một bao thư, trong đựng vé xe lửa và một ít giấy tờ. Bao thư ấy lại có một ngăn nhỏ ở bên ngoài. Vội vàng, Đỗ Ninh nhét vội tờ giấy cắt hình con bướm lẩn vào những giấy tờ và vé xe. Để cho công việc được dễ dàng và không bị bắt chợt, Hênri đứng ở cửa xe, định rằng nếu Cát Vinh tới thì chặn lại bằng cách này hay cách khác để cho y mất thêm ít thì giờ, hầu Đỗ Ninh ở trong này làm xong công việc. Xong. Thật vừa kịp, bởi vì vừa lúc ấy xe lửa chạy chậm lại vì gần đến Đu-vơ.


Một lát sau, Cát Vinh bước vào trong toa. Đỗ Ninh không hiểu vì lẽ gì, tự nhiên bình tĩnh, không run, nói năng rất tự nhiên. Ông đưa bao thư đựng vé xe lửa cho Cát Vinh và nói:


– Thưa ông, cái này có phải của ông? Tôi thấy rớt ở dưới sàn.


Sau khi đưa mắt nhìn tên đề trên bao thư và vé tàu ở trong, Cát Vinh cúi đầu:


– Vâng, của tôi. Cảm ơn ông lắm.


Và y cho vào túi.


Trong những phút còn lại, những phút căng thẳng và lo ngại, hai người nhận thấy rằng toa xe dường như tối mờ đi ở chung quanh họ và nóng ran lên, còn Cát Vinh thì dường như khó chịu, cứ ngồi xuống, đứng lên hoài. Y thu chỗ quần áo để trước mặt rồi lại dở ra coi, như kinh tởm những quần áo đó. Còn Hênri và Đỗ Ninh thì tim như thắt lại vì hồi hộp, họ cũng thu xếp hành lý lại, nhưng cả hai cùng cảm thấy Cát Vinh sắp mở miệng ra nói rồi lại thôi, khi xe vào thành phố Đu-vơ.


Trong chặng đi từ thành phố đến bến xe lửa, họ đứng rất tự nhiên ở ngoài hành lang.


Đến bến, họ bước xuống, nhưng vì có ít hành khách, họ để cho mọi người xuống trước. Xuống đến đất rồi, họ mới nắm lấy tay nhau một cách tự do, không lo ngại gì nữa. Họ khen nhau đã làm công việc một cách mỹ mãn. Đỗ Ninh muốn ngất đi. Hênri dắt y ra gần một bức tường, bảo y ngồi xuống nghỉ, trong khi chính Hênri thong thả nhìn người ta đi lại ở cửa ga. Cát Vinh bước ra với cái xếp quần áo bộn bề mang theo. Đột nhiên nhân viên kiểm soát kêu y:


– Kìa, ông kia, còn cái ông đi theo ông đã đưa trả vé chưa?


– Ông nói cái quỷ gì lạ vậy?


Nhân viên cúi xuống và nhìn y:


– Cái quỷ gì? Tôi không biết, thực vậy.


Hênri nghe thấy y nói một mình như thế, rồi y nói lớn hơn với Cát Vinh:


– Xin lỗi ông, tôi lầm. Tôi tưởng là có người đi theo ông, chẳng hóa ra là cái mền ông mang theo.


Rồi nhân viên ấy nói với người bạn đứng cạnh:


– Ông ấy dắt con chó đi theo hay cái gì vậy? Kỳ cục, tôi thề với anh là ông ta không đi một mình. Rồi.


Từ Đu-vơ, phải sang tàu thủy. Anh nhân viên nọ tiếp:


– Không cần. Xuống tàu thủy còn có người soát vé nữa. Việc y phải lo, mặc y.


Chiếc tàu rẽ sóng đi từ từ. Trong một tuần nữa, những người đi nghỉ mát sẽ trở về.


Năm phút sau người ta chỉ còn thấy ánh đèn trên tàu nhấp nháy, mỗi lúc mỗi mờ dần đi. Trăng lạnh, gió hiu hiu thổi. Hênri mới thong thả bước vào trong khách sạn với một vẻ chần chừ khó tả. Mặc dầu đã đỡ lo ngại rất nhiều, họ vẫn còn nghi ngại, băn khoăn. Thực thế, không thể coi thường được. Ờ, họ có quyền gì đưa một người đến chỗ chết như họ đã làm? Ít ra họ phải báo trước cho người ấy biết chớ?


Hênri nói:


– Không. Nếu quả y là một tên sát nhân như tôi nghĩ, chúng ta chỉ làm theo lẽ phải, chúng ta chỉ làm theo công lý. Tuy nhiên, nếu anh bảo là phải báo trước, phải cảnh cáo, nhưng cảnh cáo cách nào, mà cảnh cáo ở đâu?


– Vé tàu của y không đi qua Abônvin. Tôi trông thấy rồi. Y sẽ bị tiêu trong bóng đêm.


– Hôm nay là ngày hai mươi mốt. Y chỉ còn một ngày nữa thôi. Có lẽ y bị “tiêu” sớm hơn thế, có khi chưa kịp tới khách sạn.


Chiều ngày hai mươi ba, các báo loan tin có một người Anh tới Abônvin đứng nhìn cái nhà lầu Vin-phăng đang sửa chữa thì có một tảng đá lớn rớt trúng đầu. Nạn nhân chết liền tại chỗ. Tảng đá ấy rớt từ tầng lầu thứ sáu xuống đường. Lúc ấy ai cũng có thể thấy rõ ràng. Không có một người thợ nào làm việc, mà cũng không có gió to.


Người Anh đó, theo giấy tờ mang theo tên là Cát Vinh.


Sau này, người ta sẽ còn biết thêm một chi tiết nữa: Khi nhà nước bán đấu giá tài sản của Cát Vinh, Hênri mua được nhiều sách vở còn mới nguyên. Nhưng giở đến tập “Bi vich” thì trang có in bản khắc gỗ bị xé. Trang ấy in hình một người đi đường bị một con quỷ rượt theo.


Sau đó một thời gian, Hênri nhắc cho Đỗ Ninh nghe những điều mà anh của Hênri (tức là Haritôn) nói lảm nhảm trong khi ngủ, Đỗ Ninh xua tay bảo Hênri đừng nói.


 


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002. Nhà văn Triệu Xuân đưa vào Vũ Bằng Toàn Tập, NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »