tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019826
Truyện ngắn
16.06.2013
Vũ Bằng
Thư (1)

Viết theo cốt truyện của ký giả Anh M.R. James


Ngày 15 tháng 4 năm 19...


Thưa Ông,


Hội đồng Hiệp Hội... ủy cho tôi trao trả Ông dự án một diễn văn nói về “Sự thật về thuật biến sắt thiếc ra thành vàng” mà Ông đã có nhã ý đề nghị với chúng tôi đưa ra nói chuyện trong phiên họp tới. Hiệp hội chúng tôi xin báo để Ông biết không thể ghi việc đó vào trong nghị trình.


Nay kính,


Thư ký


Ngày 18 tháng 4 năm 19...


Thưa Ông,


Chúng tôi rất tiếc trình để Ông biết rằng hiệp hội không thể dành một cuộc hội kiến về bài nói chuyện mà Ông đề nghị. Ngoài ra, điều lệ của hội không cho phép một ủy ban nào của chúng tôi thảo luận với Ông về việc đó, như Ông đã đề nghị trong bức thư mới gửi tới chúng tôi. Bởi vì công việc ấy xét ra không ích lợi. Xin Ông biết cho rằng dự án mà Ông gửi cho hiệp hội chúng tôi đã được cứu xét kỹ càng và dự án ấy đã bị bác bỏ sau khi đã đệ lên một nhân vật tên tuổi có khả năng đặc biệt về môn đó. Không ai có thể thay đổi được quyết định nói trên.


Nay kính,


Thư ký


Ngày 20 tháng 4 năm 19...


Thưa Ông,


Hiệp hội... hân hạnh báo để ông Cát Vinh biết rằng thư ký của hiệp hội... không thể cho ông biết tên người mà hiệp hội đã đệ trình dự án nói chuyện của ông về “Thuật biến chế sắt, thiếc thành vàng” và mong ông không bao giờ đề cập tới vấn đề ấy nữa.


Nay kính,


Bà vợ ông thư ký hỏi:


– Nhưng ông Cát Vinh là ai vậy?


Bà đến phòng làm việc của chồng và cầm lấy bức thư chót trong ba bức thư trên mà người làm vừa đánh máy xong.


Ông thư ký đáp:


– Hiện giờ, ông Cát Vinh là một người đang tức giận. Ngoài ra, anh không biết gì hơn về ông đó, chỉ biết đại khái rằng ông ta có tiền, người ở miệt Văn Sủng, hình như ông là một nhà hóa học và muốn nói chuyện để cho thiên hạ biết tài nghệ của ông. Anh chỉ biết đại khái thế thôi. Ông muốn gặp riêng anh nhưng anh không muốn gặp. Thế bây giờ đã đi chưa? Anh xong công việc rồi.


– Anh làm gì mà để cho ông Cát Vinh tức giận như vậy?


– À, việc nó vẫn như thế. Ông ta gửi một dự án nói chuyện và mong rằng hiệp hội sẽ để cho ông trình bày tài nghệ trong phiên họp tới. Chúng tôi đã đệ trình lên ông Đỗ Ninh – một nhà bác học lão thành, hầu như là người độc nhất ở nước Anh hiểu biết các vấn đề ấy – nhưng ông Đỗ Ninh cho rằng cái đó chẳng ra đầu ra đuôi gì hết. Ông Đỗ Ninh đã từ chối, không chấp nhận.


Từ đó, Cát Vinh gửi thư từ tới tấp cho anh, khẩn khoản anh vận động với hiệp hội chấp nhận cho ông ta nói chuyện về “thuật biến chế sắt, thiếc thành vàng”. Bức thư chót của ông Cát Vinh lại ngỏ ý muốn biết “nhân vật tên tuổi có khả năng đặc biệt” ấy tên là gì. Em đã biết anh trả lời ra sao rồi. Nhưng tuyệt đối phải giữ kín, nghe!


– Nhất định em không nói cho ai biết hết. Nhưng em mong rằng ông Cát Vinh sẽ không bao giờ biết người bác bỏ dự án của ông ta tên là Đỗ Ninh. Tội nghiệp!


– Tại sao lại tội nghiệp ông Đỗ Ninh? Ông ta là một người rất sung sướng. Tiền nhiều, tiếng tăm lừng lẫy, lại có nhà cao cửa rộng?


– Em chỉ muốn nói rằng tội nghiệp ông ta nếu Cát Vinh biết tên ổng và tìm cách quấy rầy hay kiếm cách gì đó hại ông ta bằng cách này hay cách khác.


– Ờ phải. Nếu thế thì cũng đáng tội nghiệp thật.


Ông thư ký và vợ không ăn cơm nhà và những bạn hữu mà họ đến dùng cơm hôm đó đều là người ở miệt Văn Sủng. Bà thư ký định tâm sẽ hỏi họ xem Cát Vinh là người như thế nào. Bắt sang câu chuyện ấy cũng dễ. Chỉ vài phút sau, bà đã nói cho chồng biết: “Sáng nay, em đã gặp cha Lữ Pho nơi xứ Cát Vinh đang ở”.


Ông chồng huýt sáo:


– Thế à? Cha đến Luân Đôn làm gì?


– Nào ai biết. Em đi xe đến viện bảo tàng thì vừa vặn ổng ở trong đi ra.


Bà thư ký hỏi thăm rằng Cát Vinh có phải là nhà tu hành thật không thì cũng chẳng có gì lạ.


– Không. Ông ta là một trong những người hàng xóm của cha. Ông ta mua nhà trong xứ của cha, cách đây một hai năm. Cát Vinh là tên thật của ông ta.


– Ông ta có phải là bạn của em không? Ông thư ký hỏi.


Câu hỏi đó gây ra nhiều nhận xét. Không có gì đáng nói tốt cho Cát Vinh hết. Không ai biết ông ta làm ăn gì, kẻ hầu, đầy tớ trông không có mấy cảm tình. Ông đã lập ra một tôn giáo mới và thờ cúng kỳ lạ lắm. Hơi một tí là ông nổi quạu, ông không bao giờ tha thứ cho những người đã làm mất lòng ông. Mặt ông dữ dằn hết sức. Không bao giờ làm phúc, cũng chẳng giúp đỡ ai, mà có khi lại ra vẻ bí mật và... không đàng hoàng.


Ông thư ký nói với vợ:


– Nói vậy chớ đâu đến nỗi thế, hở em? Em không nhớ là có lần ông đã mở một cuộc dạ hội tập hợp học trò các trường lại ăn, uống, chuyện trò vui vẻ sáng đêm?


– Em nhớ chứ! Anh nhắc lại vụ ấy cũng hay, vì nhờ đó ta có thêm ý kiến về con người ấy. Hồi đó, là mùa đông, ông ta bắt đầu về ở đây, viết thư cho cha Phan ở địa hạt, ông ta đề nghị chiếu cho học sinh các trường vài cuốn phim bằng cây đèn thần của ông ta. Ông bảo rằng phim của ông thuộc một loại mới hết sức và sẽ làm cho trẻ em thích thú.


Cha Phan hơi ngạc nhiên bởi vì Cát Vinh có vẻ không ưa gì trẻ em, ông vẫn thường phàn nàn trẻ em vào phá phách vườn nhà ông hay một cái gì tương tự. Tuy nhiên, đề nghị ấy vẫn được chấp nhận. Người ta ấn định một buổi tối và chính ông đến tại chỗ để xem xét có gì trục trặc không. Chính mấy đứa con ông ta đã đến dự một cuộc họp bạn mà chúng tôi tổ chức. Về phần chúng tôi, sau đó ông cha có ngỏ lời cảm ơn đã tránh cho chúng khỏi phải dự cuộc họp bạn của Cát Vinh.


“Ông Cát Vinh chắc chắn nuôi ý định làm cho các khán giả tí hon của ông hoảng sợ. Em tin rằng ông sẽ đạt được ý muốn nếu người ta để cho ông tiếp tục chiếu đến hết. Bắt đầu, ông ta cho chiếu những phim truyện vô hại, trong đó có chuyện “Cô bé quàng khăn đỏ”. Chính cha Phan cũng phải nói rằng con chó sói trong phim trông dễ sợ, đến nỗi người ta phải dắt mấy đứa trẻ ra ngoài. Cha Phan xác nhận rằng Cát Vinh muốn nhử các khán giả tí hon, đã tạo ra một tiếng hú của con chó sói. Quả đó là một tiếng rùng rợn, thê thảm nhất, từ xưa chưa từng thấy. Tất cả những phim đưa ra chiếu đều khéo léo và hiện thực triệt để. Nhưng ông ta đã quay những phim ấy ở đâu? Cha Phan không thể nghĩ ra. Buổi chiếu tiếp tục và mỗi lúc sự rùng rợn, ghê tởm lại càng tăng thêm. Trẻ em bị thôi miên, ngồi im lìm. Đến giờ chót, ông Cát Vinh chiếu một xen trình bày một đứa trẻ đi qua vườn nhà ông – ở Lữ Pho – vào buổi tối. Không có một đứa trẻ nào ở trong phòng chiếu lại không nhận ra ngay nơi đó. Đứa trẻ đáng thương ấy bị một thứ nửa người nửa ngợm, đi lò cò, mặc áo trắng, theo dõi rồi con vật kinh tởm ấy đuổi theo đứa trẻ, bắt được, xé xác ra từng mảnh. Con vật ấy, thoạt đầu, trốn ở hốc cây, sau lần lần hiện ra rõ rệt hơn, đến lúc nó xé xác đứa trẻ xong, nó hóa ra một làn khói đen biến mất.


“Cha Phan nói rằng phim đó là giấc ác mộng kinh khủng nhất mà cha còn nhớ mãi. Người ta không có can đảm nghĩ đến ảnh hưởng của nó đối với trẻ con. Lần này, thực quả là quá lắm. Cha kêu ông Cát Vinh lại và bảo rằng không có cách gì tiếp tục như thế nữa. Cát Vinh trả lời: “À, cha cho rằng bây giờ đã đến lúc chấm dứt buổi chiếu để cho trẻ con chúng nó về nhà, đi ngủ, phải không? Tốt lắm! Tốt lắm!


“Cát Vinh – xin lỗi – bèn chiếu ngay một đoạn phim khác: một núi rắn, rít và côn trùng ghê tởm bò và bay lổn ngổn trên màn bạc. Không hiểu y dùng cách gì làm cho tất cả sâu bọ, côn trùng đó vượt ra khỏi màn bạc và bò lại phía khán giả, với những tiếng vo ve, ụt ịt, làm cho trẻ con sợ phát điên lên. Thế là mạnh ai nấy chạy, như ong vỡ tổ. Một số lớn bị thương, có đứa nhẹ, có đứa nặng và chắc chắn là cả đêm ấy, không đứa nào ngủ được.


“Sau vụ đó, các thứ chuyện hay, chuyện dở nổi lên trong khu vực. Cố nhiên các bà mẹ đổ lỗi cho cha Phan, nếu có thể được, các ông bố có con đi xem phim của Cát Vinh không ngại leo hàng rào sắt vào phá nhà cha Phan!


Ông chủ nhà, người đứng ra mời vợ chồng ông thư ký ăn cơm hôm ấy nói:


– Bây giờ, chắc bà đã biết Cát Vinh là người thế nào rồi chớ? Khỏi nói bà cũng dư biết trong hiệp hội không có ai muốn tiếp Cát Vinh và chuyện trò với y. Tôi giựt mình lo cho những người nào có tên trong sổ đen của y.


Ông thư ký hỏi:


– Không biết có phải thật y không, hay tôi lầm với một người nào khác?


Ông cau mày lại, cố nhớ một điều gì, hỏi tiếp:


– Có phải Cát Vinh này là cái ông đã viết một cuốn sách nói về chài, ếm, thư, phù... xuất bản mười năm về trước?


– Đúng y đấy. Anh còn nhớ những bài báo đăng hồi đó không?


– Nhớ chứ! Mà điều làm cho tôi lưu ý là tôi quen biết tác giả những bài báo đả kích Cát Vinh kịch liệt. Chắc anh còn nhớ Haritôn, y cũng ở Sanh-Gioan cùng lúc với chúng tôi.


– Tôi nhớ lắm. Và tôi nhớ luôn là đã lâu lắm tôi không gặp Haritôn, mà cũng chẳng nghe thấy nói đến y từ khi tôi ở Đại học ra cho đến ngày tôi đọc các báo điều tra về vụ y.


– Điều tra? Điều tra gì? Một bà hỏi.


– Có một việc khá ly kỳ xảy ra: Haritôn ngã từ trên một ngọn cây xuống và gẫy cổ. Có một điều lạ mà không ai hiểu nổi. Tại sao Haritôn lại trèo lên cây? Vụ này rất bí mật. Haritôn là một văn nhân, không có vẻ gì là võ sĩ, phải không? Người ta không hề thấy anh ta làm một việc gì quá trớn bao giờ. Đi làm xong, trở về trên một con đường vắng, dưới một bầu trời khuya khoắt, không có côn đồ, lưu manh lảng vảng ở miệt đó bao giờ. Đột nhiên, Haritôn vùng lên chạy như có ai đuổi theo, rơi cả mũ và gậy, sau rốt, không còn đường nào chạy nữa, anh ta trèo lên một cái cây, rất khó trèo ở bên một bờ rào. Một cành cây khô gẫy, kêu rắc rắc, anh ta lộn cổ xuống đất. Hôm sau người ta thấy xác anh, mặt nhăn nhó như sợ sệt một cái gì ghê gớm lắm, một cái gì rùng rợn hết sức không ai tưởng tượng được. Có nhiều phần chắc chắn là có một cái gì chạy đuổi anh ta.


“Người ta nói rằng là chó rừng, là những ác thú ở các rạp hát xiệc hay sở thú xẩy ra, nhưng về sau các giả thuyết ấy bị bác bỏ. Bí mật về cái chết của Haritôn nguyên vẹn như lúc đầu.


“Hồi ấy, tôi nhớ là năm tám chín và tôi còn nhớ là em của Haritôn là Hênri cũng ở Cam-bờ-rít với tôi cố gắng kiếm tìm manh mối cái chết của anh y nhưng vô hiệu quả. Theo Hênri thì anh y bị người ta lén hại bằng một phương pháp hèn hạ nào đó. Y muốn nói là bị hại vì phù thủy. Tôi không biết nghĩ ra sao. Tôi không hiểu nếu là phù thủy làm thế nào để hại Haritôn được.”


Một lát sau, câu chuyện lại bắt sang cuốn sách nhan đề là “Lịch sử chài, ếm, thư, phù” của Cát Vinh.


Ông bạn hỏi tôi:


– Anh có đọc bao giờ chưa?


Ông thư ký đáp:


– Có, và tôi đọc hết cả cuốn sách.


– Có dở quá như người ta vẫn nói không?


– Không, về văn và hình thức thì khá lắm. Nhưng về nội dung thì phải nói đó là một cuốn sách có hại. Tác giả tin tưởng từng câu, từng chữ viết ra và tôi ngờ rằng chính ông ta đã thí nghiệm những phương pháp chài, ếm, thư, phù mà ông viết ra trong sách.


– Bài tường thuật và phê bình duy nhất mà tôi còn nhớ là bài của Haritôn. Tôi phải nói rằng nếu tôi là tác giả cuốn sách, tôi điên lên mà không còn muốn viết lách làm gì nữa. Không, phải nói rằng Haritôn thẳng tính quá, anh ta không tiếc lời chê trách Cát Vinh. Bị vố đó, Cát Vinh không thể ngẩng đầu lên nhìn bất cứ ai.


– Chưa chắc. Cát Vinh có lẽ không nghĩ như thế. Chứng cớ là ông ta vẫn viết, vừa đây, ông lại còn đề nghị nói chuyện với Hiệp Hội về thuật chế biến sắt, thiếc ra thành vàng. Nhưng mà thôi, xin lỗi anh, ba rưỡi rồi, tôi phải về.


Trong khi đi đường, bà vợ ông thư ký nói:


– Em mong rằng con người kinh tởm đó không bao giờ biết ông Đỗ Ninh dính líu trực tiếp vào việc khước từ dự án nói chuyện của Cát Vinh.


– Anh không tin rằng Cát Vinh có hy vọng biết là Đỗ Ninh, chính Đỗ Ninh sẽ không nói, những chuyện ấy triệt để bí mật, trong bọn chúng tôi, không ai nói hết cũng vì lẽ đó. Cát Vinh không thể biết được tên của Đỗ Ninh bởi vì Đỗ Ninh không công bố gì về vấn đề này. Duy có một điều nguy hiểm là chỉ sợ Cát Vinh đến dò hỏi các nhân viên Viện Bảo tàng Anh là nơi y vẫn thường lui tới để khảo cứu các sách về hóa học. Mà anh thì không thể bảo các nhân viên ở đó giấu kín tên Đỗ Ninh, có phải không? Bảo họ giấu kín tức là thúc đẩy họ nói ra. Ước mong rằng Cát Vinh sẽ không hỏi dò nhân viên Viện Bảo tàng.


Tuy nhiên, Cát Vinh là một con người quỷ quyệt.


*


Nhưng tất cả những cái này mới chỉ là đoạn mào đầu. Vài hôm sau, vào một buổi chiều cũng vào tuần lễ đó, ông Đỗ Ninh ở Viện Bảo tàng Anh trở về nhà ở ngoại ô. Ông sống độc thân với hai người tớ gái ở hầu ông đã lâu năm. Chiều hôm đó, ông vào viện để nghiên cứu một vấn đề từng làm ông thắc mắc. Đến xẩm tối, ông mới ra về. Chúng ta đi theo ông về nhà.


Một chuyến xe lửa đưa ông về cách nhà chừng hai, ba cây số rồi một xe điện đưa ông đi tiếp. Trạm xe ở cách nhà ông chừng ba trăm thước. Lúc bước lên xe điện, ông không muốn đọc thêm gì nữa, vả chăng, ánh sáng trên xe mờ quá, có muốn đọc cũng không đọc được nên đành ngồi nhìn các hành khách khác và đọc những tờ quảng cáo, áp phích dán trên xe. Thường ngày đi xe điện về nhà, ông vẫn đọc quảng cáo và áp phích như thế và ông thấy không có gì lạ hết. Nhưng hôm nay...


Kỳ chưa, sao hôm nay ở một góc xe, cách ông khá xa, sao lại có một áp phích mới mà lại dán gì kỳ quặc thế kia? Cái áp phích ấy dán không kỹ nên ở phía dưới có vẻ hơi lệch lạc. Tuy nhiên, ông cũng thấy rằng áp phích ấy in trên giấy trắng, kẻ chữ nguệch ngoạc bằng mực xanh, ở dưới kẻ chỉ vàng, đề tên Haritôn và một cái gì như ngày tháng. Biết thêm nữa cũng chẳng ích lợi gì. Tuy vậy, đến lúc xe điện vãn khách, ông cũng tò mò ngồi xích lại gần cái áp phích hơn để đọc cho kỹ hơn xem người ta viết những gì trên áp phích. Cái áp phích ấy không như những áp phích thường. Trong đó, có những dòng chữ sau đây:


Tưởng nhớ Haritôn, ở Át-buốc. Chết ngày 18 tháng 9 năm 1889. Được dành một thời hạn 3 tháng.


Xe điện ngừng lại. Người lái xe phải mời ông xuống xe, vì ông vẫn còn mải ngắm nghía những chữ xanh trong áp phích.


Đỗ Ninh nói:


– Tôi xin lỗi, tôi đang đọc cái áp phích này. Kỳ quá, há?


Người lái xe cũng đọc chậm chậm và nói:


– Kỳ thật, tôi chưa thấy bao giờ. Nó cũng đặc biệt đấy chứ! Có anh nào tinh nghịch, đùa dai đây...


Y lấy một cái giẻ, nhổ nước miếng lên tấm kiếng lau, lau... rồi lại đưa miếng giẻ lau ở bên ngoài nữa. Y quay lại bảo Đỗ Ninh:


– Không, không phải áp phích dán lên kiếng. Đây là một thứ gì lạ lắm, nó “ăn” vào trong kiếng, không thể nào chùi sạch được, ông có thấy không?


Ông Đỗ Ninh ngắm nghía và lấy bao tay chùi nữa, trước khi nhận là lời nói của người lái xe đúng quá.


– Ở trong sở ông làm, ai là người phụ trách về quảng cáo và áp phích dán trên xe? Ông nên hỏi cho biết. Tôi ghi lại mấy chữ này.


Vừa lúc đó, có tiếng người thợ máy:


– Nhanh lên, mầy. Đến giờ rồi.


– Biết rồi. Biết rồi. Tao còn có công việc khác ở đây. Lại coi cái kiếng này, mầy!


– Có cái gì trên kiếng vậy? Người thợ máy tiến lại gần để coi.


– Bộ điên! Haritôn? Haritôn là cái gì mầy?


Đỗ Ninh nói:


– Chính tôi muốn hỏi xem ai phụ trách về quảng cáo trên xe và tôi mong rằng sở xe điện mở một cuộc điều tra về cái áp phích nhỏ này.


– Thưa ông, được. Văn phòng coi về việc này. Hình như là ông Tiêm phụ trách, tôi không rõ lắm. Chiều nay, tôi sẽ nói cho ông ra rõ vụ này và tôi sẽ cho ông biết vào chiều mai, nếu ông cũng đi xe đường này.


Đó là tất cả việc xảy ra chiều hôm đó. Ông Đỗ Ninh về kiếm bản đồ coi thì thấy Át-buốc thuộc miệt Văn Sủng.


Hôm sau, ông trở lại Luân Đôn. Chiếc xe điện (cùng cái xe hôm trước) buổi sáng đông nghịt người nên ông không thể nói một câu gì với người lái xe. Ông chỉ biết chắc một điều là người ta đã hủy được tấm áp phích quái lạ rồi. Chiều hôm đó lại đem đến cho ông một bí mật mới. Ông lỡ chuyến xe hay là ông muốn đi bộ về nhà vào một lúc tương đối hơi muộn thì không rõ. Trong lúc ông đương làm việc trong phòng, hai nhân viên xe điện hôm trước ngỏ ý muốn gặp ông. Chị người làm vào nói lại, ông chợt nhớ cái áp phích. Ông cho mời hai người đó vào chơi – người lái xe và người thợ máy – và trong khi chị người làm rót rượu mời họ uống, ông hỏi rằng ông Tiêm đã nói về cái áp phích kỳ lạ ấy ra sao.


– Thưa ông, thế này: chính vì việc đó chúng tôi mạn phép ông đến đây. Ông Tiêm đã la lối tên Lam hết sức về cái áp phích. Theo y, không hề bao giờ lại có cái quảng cáo láo lỉnh như thế mà người ta đặt làm, nhờ dán và trả tiền, rằng không bao giờ lại có thể có chuyện như thế và y bảo chúng tôi là đồ ngu dốt, làm mất thì giờ của y vô ích.


“À được rồi – tôi nói – được rồi, mày đã nói thế, tao xin phép ông Tiêm đến tận nơi, coi tận mắt xem mày ngu hay là tao ngu.


Y bèn nói:


“– Rồi. Đi, đi ngay bây giờ!


“Thế là chúng tôi đi. Thưa ông, ông đã biết tính tôi thực thà, cái áp phích chính mắt tôi trông thấy, có chữ Haritôn ở trên, rõ như hai năm là mười, viết trên giấy trắng chữ xanh mà chính tôi cũng nói với ông là nó “ăn” vào kiếng, mà ông cũng đồng ý với tôi, chắc ông còn nhớ chứ, tôi lấy giẻ lau mãi không sạch mà...


– Đúng. Tôi còn nhớ đúng như thế. – Ông Đỗ Ninh đáp.


– Ối trời ơi là trời. Thế mà lại không phải là thế. Ông Tiêm vào trong toa xe với một cây đèn, không, ổng bảo thằng Lam cầm đèn cho ổng. Ổng bèn hỏi tôi cái áp phích chết băm chết vằm ấy đâu...


“Tôi chỉ tay:


“– Kia kìa!


“Và tôi đặt tay lên trên tấm kiếng.”


Người lái xe dừng lại, không nói nữa.


Ông Đỗ Ninh hỏi:


– Mất rồi phải không? Mất cái áp phích rồi? Tôi đoán thế...


– Mất biến thật, ông à. Không còn một dấu vết. Một chữ cũng không còn trên kiếng... Nhưng thôi, nói làm gì! Tôi ớ ra, biết nói làm sao bây giờ? Sáu con mắt nhìn, đâu có sai được! Quả là không có một tí ti dấu vết.


– Ông Tiêm bảo sao?


– Ối, có là thánh mới không giận dữ. Bao nhiêu tên thú vật nhớ ra, ổng đều văng ra hết. Và tôi cho rằng hình như ổng phải mà tôi trái. Nhưng Lam và tôi vẫn bán tín bán nghi vì chính chúng tôi và cả ông nữa đều thấy thật mục sở thị chớ có phải đâu là nói dóc...


– Đúng, đúng mà! Tôi hãy còn tờ giấy ghi những chữ ấy đấy. Hai anh có muốn tôi trực tiếp nói chuyện với ông Tiêm và đưa cho ổng coi tờ giấy này không? Có phải hai anh đến kiếm tôi vì việc đó không?


Lam nói:


– Ấy đó, tao đã bảo mày như thế mà. Mày coi tao nói có sai đâu.


– Thôi, được rồi, tao chịu mày. Mày bảo tao đến đây là đúng tẩy. Mầy nói, tao đi liền, có phải thế không? Nhưng vậy cũng chưa xong...


Y nhìn ông Đỗ Ninh, nói tiếp:


– Chúng tôi không muốn làm mất thì giờ của ông. Nếu tình cờ ông có rảnh rang một phút, xin mời ông đến trụ sở vào sớm mai, để nói cho ông Tiêm biết là chính mắt ông trông thấy cái áp phích đó, chúng tôi rất cảm ơn ông. Ông có biết không? Chúng tôi không phải sợ gì lão Tiêm, nhưng ở sở nếu người không tín nhiệm chúng tôi, bảo chúng tôi ăn không nói có, thử hỏi đục đến chạm, chạm đến đục, mười hai tháng nữa chúng tôi sẽ ra sao? Ông đã hiểu chúng tôi muốn nói gì chưa?


Phân trần cà kê mãi, Lam sốt ruột, kéo Giốc đi về.


Hôm sau, Tiêm xóa những nốt xấu ghi vào hồ sơ Giốc và Lam vì dù sao, Tiêm cũng tin rằng ông Đỗ Ninh là người đứng đắn, nói ra là đúng. Huống chi Tiêm lại cũng biết Đỗ Ninh chút ít vì thỉnh thoảng hai người vẫn chào nhau trên xe điện.


Tuy nhiên, vụ áp phích ghi tên Haritôn vẫn nguyên vẹn, chẳng ai biết hư thực ra sao... Ông Đỗ Ninh vẫn chưa hết bị ám ảnh vì vụ này, nhất là hôm sau ông lại gặp một sự việc không bình thường xảy ra.


Ông đi bộ từ câu lạc bộ ra trạm xe điện bỗng thấy ở trước mắt một người đi gần ông, mang trên tay một tập giấy tựa như truyền đơn bươm bướm mà các nhà buôn vẫn mướn người đi phát để quảng cáo một thứ đồ vật gì mới chế hay một buổi trình diễn sẽ tổ chức nay mai. Người đàn ông đó không kiếm một đường phố đông đúc để phát quảng cáo. Mà thực sự, ông Đỗ Ninh cũng không thấy y phát cho ai hết, trước khi ông đi tới gần người đó. Đúng như ông đoán, người ấy nhét một tờ vào tay ông, bàn tay y chạm khẽ vào bàn tay ông, ông cảm thấy một sự va chạm nhẹ. Bàn tay của người ấy ráp, thô, mà lại nóng một cách khác thường. Vượt qua y, ông Đỗ Ninh nhìn thì thấy mặt mũi y rất lờ mờ, về sau này, mặc dầu cố gắng cách nào ông cũng không thể nhớ lại được mặt y. Ông rảo bước và, không ngừng bước, ông nhìn tấm giấy. Ông thấy in chữ đậm ba chữ Haritôn. Một lát sau, có một người đi thật nhanh giựt lấy tờ giấy và biến mất. Ông Đỗ Ninh sợ quá, cắm đầu chạy, nhưng người khách lạ đi đường đâu mất rồi? Mà ai là người phát giấy?


Ông Đỗ Ninh nghĩ ngợi vẩn vơ. Hôm sau, lúc ông vào phòng thủ bút viện bảo tàng Anh. Ông ghi vào một tấm giấy để mượn cuốn Hạc-Lây 3580 và mấy cuốn khác. Người ta mang tới cho ông. Ông đặt cuốn sách vừa mượn lên bàn thì bỗng nhiên cảm thấy ở sau lưng có tiếng xì xào nói đến tên ông. Ông quay phắt lại và trong khi ấy đánh rớt xuống đất một bao thư trong đựng một vài tờ giấy trắng. Ông không trông thấy mặt nào quen thuộc, trừ một trong những người gác dan phòng đọc sách gật đầu chào ông, đoạn ông cúi xuống lượm mấy tờ giấy rớt lên. Ông tưởng là đã lượm hết rồi và sửa soạn ngồi làm việc thì ở bàn đàng sau lưng có một ông vạm vỡ đứng dậy sắp ra về vỗ vai ông mà nói:


– Tôi có thể trao cho ông cái này không? Hình như là của ông vừa đánh rớt?


Vừa nói, y vừa đưa cho ông Đỗ Ninh một tập giấy.


– Thưa, của tôi. Cảm ơn ông.


Người đàn ông rời gian phòng ngay lúc đó. Xong công việc ban chiều rồi, ông Đỗ Ninh nói vài câu chuyện với người làm trong viện, nhân tiện hỏi thăm xem người vừa rồi là ai.


Nhân viên nói:


– Ông ấy là Cát Vinh. Cách đây một tuần, ông ta có hỏi thăm những ai là người có tiếng về hóa học riêng về môn biến chế sắt, thiếc ra vàng. Cố nhiên chúng tôi nói là ông, ông Đỗ Ninh à, ông là người duy nhất thông hiểu về môn đó. Để tôi coi có thể kêu ông ấy lại không. Chắc chắn ổng rất hân hạnh được biết ông.


– Cảm ơn, nhưng tôi xin ông đừng giới thiệu ông ấy với tôi, tôi không muốn. Tôi còn muốn tránh ổng là khác.


– Thế ư? Ổng không tới đây luôn đâu. Có nhiều hy vọng ông sẽ không gặp ổng tại đây.


Ở viện ra về chiều đó, ông Đỗ Ninh tự thấy viễn tượng của một buổi tối ngồi thơ thơ thỏm thỏm làm việc ở nhà không đem lại cho ông cái vui thường ngày. Ông cảm thấy một cái gì không rõ rệt ló ra và ngăn cách ông với bạn bè quyến thuộc, làm cho ông bứt rứt. Ông muốn trà trộn vào những người ngồi cạnh ông trên xe điện, sát mình lại với họ, nhưng không may, cả xe điện và xe lửa đều vắng tanh.


Người lái xe, tên Giốc, có vẻ lơ mơ suy nghĩ và tính lẩm bẩm số hành khách đi xe. Đến nhà, ông Đỗ Ninh thấy ông bác sĩ Vát Sơn, thầy thuốc của ông, đứng đợi ở cửa:


– Tôi rất buồn, nhưng tôi phải làm xáo trộn công việc trong gia đình anh ít ngày, không thể không được, Đỗ Ninh à. Hai chị người làm phải cho nghỉ. Tôi đã đưa họ vào bịnh viện của tôi.


– Trời, họ làm sao vậy?


– Hình như họ bị ngộ độc. May, anh lại thoát, nếu không anh cũng chẳng đi nhởn nha ngoài lộ được đâu.


– Trời, thế anh có ý kiến gì về bệnh tình của họ không? Tại sao lại ra nông nỗi thế? Mà họ ăn gì mà ngộ độc?


– Họ nói rằng họ có mua của một người bán hàng rong một ít sò, hến về ăn. Tôi cho điều tra thì thấy không có người bán hàng rong sò, hến nào cho nhà khác ở đường này. Tôi không kịp báo cho anh biết. Vài ba ngày nữa, họ mới trở về nhà được. Thôi, chiều nay anh đến ăn cơm với tôi rồi ta sẽ liệu sau. Tám giờ nhé. Đừng băn khoăn làm gì vô ích!


Thế là ông Đỗ Ninh đỡ phải sống một buổi tối cô quạnh, mặc dầu không được tự do như ở nhà. Ông ăn cơm vui vẻ, chuyện trò với ông bác sĩ đến khuya mới ra về căn nhà vắng vẻ của ông.


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
Nghĩa địa bên sông Chanh - Ngọc Toàn 07.06.2017
Hoa khôi xứ Mường - Ngọc Toàn 01.06.2017
Ông chéo ngà, Bà rách tai - Ngọc Toàn 01.06.2017
Kẻ vô ơn - Ngọc Toàn 01.06.2017
Đầu Phạm Nhan - Ngọc Toàn 01.06.2017
Rắn hổ mang chúa - Ngọc Toàn 01.06.2017
xem thêm »