tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19376721
Truyện ngắn
14.06.2013
Vũ Bằng
Hai cái hồ nước (tiếp và hết)

Tư Mắt, thoạt đầu, mở một tiệm hớt tóc tại số nhà 200 đường Thủy Binh cũ (nay là đường Đồng Khánh)[1] hiệu là “Nam Hữu Mai”, nhưng sau vì mắt thấy nhiều cảnh bất công vô lý trong xã hội, anh Tư theo gương Đơn Hùng Tín chiêu hồi đãi ngộ một số đàn em gây nên nhiều thành tích đổ máu làm cho lính tráng kiêng dè, bót cò ngậm miệng. Nhưng mà bao giờ chẳng vậy: ai cũng có hồi nọ hồi kia. Hết lên cao thì xuống dốc. Biết thời của mình đã hết, Tư Mắt lui về nghe kinh Phật ở chùa Giác Lâm, do đó chùa này nổi tiếng là một cảnh từ bi đã cứu vớt được nhiều linh hồn, cơ cực, sa ngã, vì các vị chân tu ở đó đã biết hướng họ về đạo đức để từ bỏ con đường tội lỗi.


Chú sa-di mà tôi nói ở trên kia, tên Đạo Hạnh, dường như cũng là một thứ “bụi đời” đến xin thí phát để tu tâm cải tính và chuộc lại những lỗi lầm đã gây ra. Ấy là người ta đoán như vậy thôi, chứ thực ra hành tung và quá khứ của chú, không có ai biết rõ – mà các nhà tu hành cũng chẳng cần biết làm gì.


Cúng hậu xong, tôi lên cảm ơn các nhà sư để ra về thì thấy thiếu chú. Tôi ngồi chờ thì một sa-di khác bảo cho biết là chờ vô ích vì chú có việc bận phải vào hầu đại đức trụ trì. Tôi nói:


– Tôi đợi được. Thế nào tôi cũng phải cảm ơn sa-di Đạo Hạnh bởi vì chú ấy giúp đỡ tôi rất nhiều trong công việc cúng hậu này.


Chú sa-di nọ bảo tôi:


– Dạ, ông đợi, tôi không dám nói; vì tôi sợ mất thời giờ của ông. Là vì, tôi biết, mỗi khi mà chú ấy lên chùa tâm chú, thì cũng mất bốn năm tiếng đồng hồ là ít. Việc dây dưa có đến cả tháng nay rồi mà đại đức cũng không biết phân xử thế nào cho phải.


Mấy hôm sau, tôi lại có việc đi qua chùa Giác Lâm. Gặp chú sa-di bạn của sa-di Đạo Hạnh, tôi hỏi một câu cảm tình:


– Thế nào? Việc của sa-di Đạo Hạnh đại đức trụ trì đã phân xử xong xuôi rồi chứ?


Thực tình, tôi hỏi như vậy mà không biết là phân xử việc gì. Chú sa-di nọ nói:


– Khó lắm. Bà má thì lạy lục đại đức cho sa-di hoàn tục mà sa-di Đạo Hạnh lại khăng khăng không chịu về, thế thì biết làm sao? Chỉ còn một cách là khuyên nhủ chú ấy phải lấy chữ hiếu làm trọng, ăn ở có hiếu tức là tu rồi, nhưng chú ấy cứ khóc mà không chịu, chẳng lẽ đại đức lại đuổi chú ấy đi sao? Không thể được. Cửa Phật từ bi, đâu lại có thể làm như vậy. Mà thấy tình cảnh của bà má thì cũng đáng thương... cả chùa không biết phải đối xử thế nào cho phải...


Nay một câu, mai một câu, đi sâu mãi vào câu chuyện tôi mới biết trường hợp của sa-di Đạo Hạnh như thế này:


Xin thí phát ở chùa Giác Lâm được bảy năm hơn, sa-di Đạo Hạnh tỏ ra là một người thông minh, ngoan đạo hết sức, ai cũng có lòng thương. Bỗng một hôm có một bà trạc năm mươi, năm mươi mốt bới tóc cánh tiên, bận phá theo kiểu Khờ Me tìm đến chùa, vào lạy đại đức và hỏi có phải có một thiếu niên tên Lê Quang Kế đến ăn mày cửa Phật khoảng bảy tám năm nay không. Đại đức trụ trì thành thật nhận ngay là có.


Thì ra chú sa-di Đạo Hạnh tên thật là Lê Quang Kế tức là đứa con út, thoát chết của ông Lê Quang Kính ở Bầu Sen, trước đây đã can tội nhấn sáu đứa con vào trong hồ nước rồi bị Tòa kết án chung thân khổ sai.


Bị giam cầm hơn ba năm, ông Kính chết trong nhà ngục.


Trong lúc ấy Kế ở với người vú ở Bà Điểm. Sau, người vú ấy cũng chết, Kế được đưa về ở trong một viện mồ côi... Thế rồi không hiểu cuộc đời đưa đẩy ra sau, Kế xin thí phát ở chùa Giác Lâm. Chính trong lúc đương vui với đạo, làm quen với muối dưa thì bà Lê Quang Kính hiện về, xin đại đức trụ trì cho gặp Lê Quang Kế.


*


Cuộc gặp gỡ của hai mẹ con nhà này ai oán vô cùng, khiến cho bao nhiêu sư tiểu ở trong chùa mặc dầu đã bưng mặt bịt tai trước việc đời mà cũng phải nghẹn ngào, thổn thức, thương cho người trong cuộc.


Từ đại đức đến các sa-di, ai cũng hết lời khuyên giải sa-di Đạo Hạnh nên hoàn tục để hầu hạ người mẹ trong những ngày tàn bóng xế, nhưng trước sau sa-di Đạo Hạnh vẫn không chịu trở về, nhất tâm theo đạo, không chịu bận trí vì những chuyện tục lụy trần ai nữa, mặc dầu sa-di thương mẹ không để đâu cho hết.


Là vì mặc dầu sống xa mẹ từ lúc bắt đầu hai tuổi, sa-di Đạo Hạnh, nhờ người vú nuôi chuyện trò tâm sự lúc về ở Bà Điểm, cũng đã biết sơ sơ tình cảnh gia đình mình và thương cho người mẹ hiền đã bị bố đuổi đi khỏi nhà chỉ vì lẽ nhiều lần bà đã hết lời can gián bố mình mà ông không chịu nghe lời khuyên của vợ.


– Thế thì lúc ra đi, mẹ ở đâu? Mà khi nghe thấy tin gia đình tan nát, bố bị tội tù, mẹ không đoái hoài, lai vãng?


Bà Kính khóc, nói:


– Bị bố đuổi khỏi nhà, mẹ tứ cố vô thân. Hẳn con đã biết họ hàng nhà mẹ không có người nào di cư vào đây hồi 1954, không biết cách gì để sống một cuộc đời độc lập và lương thiện, mẹ bán đôi vòng vàng duy nhất lấy tiền sang đất Chùa Tháp để kiếm một chỗ làm ăn. Không quản ngại nắng mưa, sương gió, mẹ buôn tần bán tảo ở khắp chợ thì quê, lúc nào trong lòng cũng canh cánh thương chồng, nhớ con. Lúc nào mẹ cũng cầu trời khấn Phật cho mẹ có ngày trở về với một số vốn kha khá để cho chồng dứt bỏ được cái nghề mà chính mẹ đã nhiều lần khuyên ba con đừng làm...


Trời quên đi thì chẳng mấy lúc đâu, con ạ: chỉ trong vòng ngót ba năm, mẹ đã có một số vốn tương đối khá, đủ để mở một tiệm buôn nhỏ ở Sài Gòn và nuôi bảy đứa con trứng nước. Mẹ sửa soạn ra về, yên chí ba con sẽ hồi tâm thì không may hai nước Việt Miên lại trục trặc, về ngoại giao, Chánh phủ Miên làm khó dễ, mà Tòa đại sứ của Sài Gòn ở bên ấy lại ngưng cấp phát giấy tờ cho Việt kiều ở Miên về nước, lấy cớ là phải điều tra thật kỹ.


Chính lúc ấy ở nhà ta xảy ra việc đại bất hạnh mà con đã biết, vì không có báo Việt ngữ gửi qua, mẹ tuyệt nhiên không biết một ly gì cả. Mẹ mải mê buôn bán làm giàu... Mẹ có một mục đích...


Thế rồi, ngày tháng qua lúc nào không biết. Tình thế tạm yên trở lại thì lại tiếp liền hết vụ cáp ruồng [2] này đến vụ cáp ruồng kia... Mẹ chạy về Takeo, ở tạm ít lâu. Bảy tháng sau, trở lại Nam Vang thì có một viên chức ở sở Ngoại kiều để ý đến mẹ và muốn mẹ phải chìu ý ông ta.


Không chịu, mẹ bị ông ta làm khó dễ rồi vu cho tội buôn lậu, trốn thuế, bắt giam mẹ hơn một tháng, với hy vọng mẹ sợ khổ mà chịu kết duyên với ông ta. Nhưng nghĩ đến chồng và con ở nhà mẹ dầu chết thì thôi, chớ đời nào lại chịu làm chuyện tồi bại như thế được?


Người ta vẫn thường nói “khóc ra máu”. Trước đây mẹ cứ tưởng nói như thế là ẩn dụ, nhưng không phải ẩn dụ đâu, con ạ. Khóc quá, máu quả có thể theo nước mắt chảy ra. Mẹ tưởng là sẽ rục xương ở quê người đất khách. Nhưng không, có một ông ký giả người Việt thân oan cho mẹ ở trên báo, nếu không, mẹ không có hy vọng gì được trở về. Việc đầu tiên sau khi đến Sài Gòn, mẹ trở về nhà cũ. Biết hết chuyện đau lòng, mẹ tìm đến mả các anh chị con để khóc rồi xin vào nhà lao thăm bố, nhưng bố đã mất rồi vì không chịu nổi những hành hạ về thể xác cũng như tinh thần.


Sa-di Đạo Hạnh bình tĩnh hỏi mẹ:


– Khi mẹ nói “những nỗi hành hạ rùng rợn cả về thể xác lẫn tinh thần” mẹ có ý muốn nói gì, hở mẹ?


– Vào đến tù ngục, nghe thấy tin ba con đã chết, mẹ hỏi thăm các người phụ trách thì thấy kể lại rằng ba con lúc mất không lấy gì làm sung sướng. Thôi thế nhưng mà chuyện đã qua rồi, ta nên để cho nó qua đi, nhắc lại chỉ thêm đau khổ.


– Mang sáu cái chết ở trong tâm não, cố nhiên là phải đau khổ rồi.


– Nhưng có phải chỉ có thế mà thôi đâu. Mẹ nghe thấy người ta nói ba con lúc gần mất bị thác loạn rất nặng về thần kinh, gào thét, cào cấu ai oán lắm. Nói trộm vong linh ba con, mẹ vẫn sợ có một ngày như thế, cho nên ngay từ lúc ở Bắc chưa di cư, mẹ không ngớt khuyên giải ba con nên thôi việc làm với Tây đi. Làm người đàn ông ai chẳng muốn có đồng ra đồng vào để cho vợ con sung sướng. Chính mẹ đã nhiều lần nói với ba con như thế. Nhưng tiền cũng có thứ này thứ khác, chớ có giống nhau đâu: có tiền tốt, có tiền xấu, có tiền bạc ác bất nhân, có tiền nên nhân nên nghĩa... chớ không phải cứ thấy tiền là a vào mà lượm để rồi một ngày kia vợ con sung sướng, chỉ riêng mình nhận lấy tội trời. Có lần mẹ đã bảo ba con “Em không muốn cho mình vất vả thân xác quá, ước gì em làm được một số tiền kha khá, anh về với em sống cuộc đời tự do, có thiếu thốn một chút cũng không sao, chứ anh cứ làm mãi cái nghiệp này, em sợ quá – mà không phải sợ cho riêng anh mà còn sợ cho em và các con sau này.”


Ba con tán thành ý kiến của mẹ, nhưng ít lâu sau lại đổi ý kiến đi... Tình thế nhùng nhằng mãi, ba con chưa thôi được việc thì bị một trận ốm thừa sống thiếu chết... Rồi ba con như dở người, trước kia thương yêu mẹ là thế, bây giờ lại dở chứng đánh chửi mẹ đuổi đi, nếu không thì giết chết, chớ không thể chung sống với nhau được nữa.


Mà mẹ tự vấn lương tâm thì không có tội gì với ba và các con...


*


Mãi đến tận lúc đó qua câu chuyện của bà Kính, tôi mới dần dần biết đại khái cái quá khứ của ông Lê Quang Kính. Rồi nghe chỗ này thêm một chút, nghe chỗ kia thêm một chút, đem chắp nối những điều thâu lượm được, tôi đã tìm ra sự thật, về cái “quái trạng tâm lý” của ông Lê Quang Kính như sau:


Ông Kính là con một nhà giàu có ở phố Hàng Cân Hà Nội. Hồi nhỏ, ông học trường tây, bố mẹ chiều, được nhiều cô gái có tài sắc say mê và mong được gởi thân, nhưng ông không chịu một người nào hết, chỉ tằng tịu ít lâu rồi bỏ. Trong các cô đó, có một hoa khôi ở Hàng Thiếc, tên là Hồng Mai. Hồng Mai có chửa với ông Lê Quang Kính và sanh được một đứa con. Bố mẹ ông Kính vốn là nhà lễ giáo, bắt con phải lấy Hồng Mai, nhưng Kính nhất định không chịu.


Giữa lúc ấy, Nhật Bổn đổ bộ lên Đông Dương. Bố mẹ Kính buôn bán với Nhật. Không hiểu lầm lẫn, sơ xuất thế nào bị Nhật bắt cả hai vợ chồng, nhốt trong nhà pha hỏa lò rồi cả hai ông bà cùng chết.


Kính chỉ có một người em đã có chồng ở riêng, bố mẹ chết cả rồi, Kính hoàn toàn tự do. Việc lấy Hồng Mai không thành vấn đề nữa. Nhưng Hồng Mai không đi tự tử như một số cô gái thất tình trong tiểu thuyết. Cô can đảm đi làm để lấy tiền sanh đẻ, vì bố mẹ cô từ cô. Trong một nhà hộ sinh ở gần cầu Cửa Đông, Hồng Mai sanh được một đứa con trai. Được bảy ngày, Kính vào thăm, Hồng Mai xin Kính một điều “anh không những không lấy em, cái đó không sao, nhưng em xin anh thương lấy đứa con này, đừng để cho nó bị tủi nhục vì là đứa con không bố”.


Kính hỏi:


– Cô nói thế là có ý gì?


Hồng Mai đáp:


– Em muốn xin anh khai sanh cho nó và nhận là nó có mẹ và có bố... Thế thôi.


Kính la lên:


– Tôi nhận là bố nó? Không thể được. Tôi còn có danh dự và tương lai của tôi...


Nghe thấy thế, Hồng Mai quay mặt vào tường khóc rồi một sự việc không ai tưởng tượng nổi đã xảy ra; người đàn bà vừa sanh đẻ uất lên, tắt thở rồi chết liền ngay đó, không có cách gì cứu kịp...


Ở dưới thời thực dân Pháp, người ta tuy vậy mà nghiêm luật pháp: một cái chết như thế không dễ gì bỏ qua. Cò bót điều tra, kết Kính vào tội “ngộ sát”. Kính bị giam.


Trong thời kỳ bị giam, có một người mật thám Tây lai, trước đây cùng học với Kính một lớp, ăn tiền và gỡ tội cho Kính được tại ngoại hậu tra. Rồi Kính được tha bổng – với điều kiện là phải giúp đỡ mật thám Pháp lùng bắt những người can tội “phá rối trị an” bởi vì Kính là con nhà giàu, có nhiều bạn hữu ra vào nhờ vả, mà trong số đó mật thám Pháp biết chắc là có một số người theo một phong trào chống Pháp.


Kính đã vui lòng nhận công tác đó để trả công Sở mật thám liên bang nhân lúc ấy thấy Phòng Nhì thiếu một chân hỏi cung các phạm nhân chính trị đã điều đình cho Kính vào ngồi chỗ đó “vì những công tác y đã làm chứng tỏ y là người mẫn cán, có tinh thần phục vụ, thêm nữa, y lại nói tiếng Pháp không tồi quá”.


Thế là từ khi Pháp trở lại Bắc Việt lập nên Chính phủ thân Pháp, Lê Quang Kính nghiễm nhiên là một nhân viên đắc lực Phòng Nhì của Pháp lập nên nhiều công trạng kinh người. Những người chống Pháp bị bắt có cả trăm, theo những lời chỉ điểm của Kính, mà nhiều người không chống Pháp cũng bị bắt luôn và bị Kính kết vào tội đi “thổ phỉ” và “âm mưu phá hoại”.


Thấy Kính lập được nhiều thành tích, quan trên thăng cho y lên chức Chủ Sự – ngang với chức Phó cò-mi-se – phụ trách ban chính trị, dưới quyền một người Pháp chính cống.


Người Pháp này ghiền a phiến. Nhằm chỗ yếu đó, Kính đặt một cái bàn đèn ở nhà riêng, nuôi hai cô thật đẹp tiêm thuốc cho ông ta. Thế là bao nhiêu công việc của Sở đều nằm ở trong tay Kính hết. Quyền thế cũng như rượu ngon, uống say lúc nào không biết. Kính ra lệnh cho nhân viên tra khảo các phạm nhân với những phương pháp tối tân mà chính Tây hồi đó chưa hề áp dụng.


Người ta kể chuyện ở trong Nam, lúc Pháp mới đến đây có Trần Bá Lộc – một người cùng với Nguyễn Thân ở miền Trung (đánh bại Mai Xuân Thưởng) vùng Bình Định – nổi tiếng là tàn ác vì cách tra tấn người Việt cho vào nóp lá nóp bàng, còn trẻ nhỏ có tinh thần thì cho vào cối quết, để cho cả xương và thịt nhuyễn ra như cám.


Nhất định tra tấn như thế thì rùng rợn lắm rồi... Cách tra tấn của Lê Quang Kính, tuy vậy, có ý mới hơn một chút: y cho xây một cái hồ rất lớn, bơm đầy nước tiểu và các thứ phân dơ bẩn nhất rồi truyền điện vào trong đó. Bất phân đàn bà đàn ông, chánh trị phạm nào bị tra tấn bằng phương pháp thông thường như treo chân lên xà nhà, dốc đầu xuống đất, đổ nước mắm vào lỗ mũi, phơi nắng suốt ngày ở ngoài trời rồi rỉ từng giọt nước vào giữa sọ... mà không chịu nhận tội thì đều được nhấn vào trong hồ nước đầy phân và nước tiểu cho ngộp thở... nhưng không bao giờ để cho chết hẳn. Thấy phạm nhân bắt đầu tắt thở, các nhân viên thuộc quyền Lê Quang Kính lại kéo dây lôi lên bờ, giục xuống mặt đất, xéo lên bụng cho xì nước ra; rồi đợi cho tỉnh lại cật vấn kỳ cho đến khi nào nhận tội, mà không phải tội của mình cũng phải nhận luôn. Nếu không thế, lại nhấn vào trong hồ nước, và cứ như thế, và cứ như thế mà làm mãi...


Một số rất lớn phạm nhân qua tay Lê Quang Kính đã chết oan ức một cách rùng rợn như thế. Khỏi nói, các bạn đọc thừa biết trong số có nhiều người chết oan, vì không chịu nổi cực hình cứ nhận bừa những tội lỗi mà chính họ không hề làm. Tính ra trong bốn năm làm việc ở Phòng Nhì như vậy, một tay Lê Quang Kính đã sát hại cả ngàn người, mà đa số chết vì ngộp nước trong cái hồ nước “Thần sầu quỷ khóc”.


Thế rồi Pháp thất bại ở Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơ-neo được ký kết; người ta di cư vào miền Nam.


Có một thời kỳ cái thế của Pháp tương đối còn mạnh; Lê Quang Kính vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, thêm một số lượng của Bình Xuyên như cuộc sống có phần dễ chịu hơn cả khi ở Bắc. Thấy cuộc sống biến chuyển mau lẹ, nhất là sau khi thấy Bình Xuyên bị tan rã, bà Kính lại cố sức khuyên chồng bỏ cái nghề ác đức này, để kiếm cách sinh nhai khác. Những người mê danh vọng đã không biết quyền hành thì thôi, chứ một khi đã biết thì chỉ muốn lên chứ không muốn xuống. Chỉ muốn ở chứ không muốn về, Lê Quang Kính không ngày nào không gây gổ với vợ, cho vợ không biết gì mà lại xía vào công việc làm ăn của mình, nên không khí trong nhà bắt đầu từ đó khốn nạn như địa ngục.


Tuy nhiên vợ chồng Lê Quang Kính vẫn sống như thường. Phải đợi tới khi miền Nam tạm vãn hồi được trật tự, các cơ quan sắp xếp lại, Chánh quyền Sài Gòn đưa chân tay thân tín vào nắm những cơ quan trọng yếu, nhất là Công an, Tình báo, Phản gián an ninh quân đội, Kính bị biệt phái về làm phát ngôn viên bộ Tài Chánh, người ta mới thấy sự xáo trộn đè nặng lên gia đình Kính. Không hiểu vì tiếc một chỗ làm kiếm được bộn tiền, hay vì cái nghề tra khảo, sát hại đồng bào bằng những phương pháp mới đã thành một thiên tính, bây giờ không làm nữa sinh ra bực bội, khó chịu, hoặc vì một lẽ gì khác không ai hiểu nổi, Lê Quang Kính thay đổi hẳn tâm tính và hóa ra một thứ người quái lạ. Tất cả sự sút kém về địa vị, về tiền tài, ông nhất nhất đổ cho tại vợ. Ông uống rượu tối ngày, mặt lúc nào cũng đen sạm lại như một bầu trời giông bão sắp mưa to, luôn luôn hăm dọa giết vợ, nếu không đi khuất mắt ông. Còn lũ con kia, ông quyết sẽ cho cả vào viện dục anh để cho người ta nuôi giúp.


Thôi, chẳng còn một đền miếu, chùa chiền nào, bà Kính không làm sớ kêu cầu; không còn một thầy bói, cô ái, cậu trạng mà bà lại không lặn lội đi coi cho kỳ được để xem “chếch mác gì đâu” hoặc tìm phương cứu chữa. Một số lớn các thầy bói, cô ái, cậu trạng, cốt đồng, liền định đều cho rằng Lê Quang Kính bị “ma làm”. Có một cậu trạng lại quả quyết rằng Kính giết nhiều người quá, hồn họ về báo oán, nhập thân xác Kính vào một ngày rằm tháng bảy rồi đày đọa ông ta cho mãi đến ngày nay vẫn không chịu buông tha... Phải cúng lễ chăm chỉ lắm may ra mới khỏi. Thì cúng lễ bà Kính đã cúng lễ đủ các nơi rồi, còn gì! Bắt tà thì bà đã mời thầy Điển là một thầy bùa tiếng tăm lừng lẫy nhất, còn gì! Mà bảo là bị chài, ếm thì bà cũng đã ra tận sông Mao, mời thầy ngãi cúng lễ và giải ngãi mãi, còn gì! Ấy thế mà bịnh đâu cứ hoàn đấy, không thuyên giảm, trái lại, mỗi ngày lại nặng hơn là khác.


Vào thời kỳ này, ông Kính không hăm dọa vợ nữa, mà cầm dao chém bà Kính thật sự. Bà Kính phải bỏ nhà, tạm lánh mặt đi nơi khác là vì thế. Kỳ lạ thay là cái chứng bịnh của Lê Quang Kính: vợ đi khỏi thì ông lại hiền khô, ngồi sì ra cả ngày không nói, không năng gì cả, có khi lại bưng mặt khóc. Thế rồi ít lâu sau ông lại trở lại bình thường, tỏ ý ngạc nhiên sao vợ đi đâu mãi không về, cứ để cho người vú phải quán xuyến hết cả công việc trong gia đình.


Chính thời kỳ này ông Kính đăng báo nhắn tin gọi vợ về. Đây cũng là thời kỳ bà Kính đi đường rừng sang Miên để kiếm một cái vốn lõn cõn vì trong hơn một năm trời lễ bái, cầu cúng, thuốc men cho chồng, bao nhiêu tiền dành dụm đã tiêu tan gần hết.


Cuộc đời bắt đầu xuống dốc, nhưng ông Kính dường như không biết thế. Ngoài công việc hai buổi ở sở ra, chỉ uống rượu và bóp óc làm thơ nói lên những ý tưởng bí hiểm mà anh em bạn trong sở không thể nào hiểu nổi. Một vài người cho Kính dở người. Có anh thấy Kính, thay vì làm việc cứ ngồi lò mò kiếm những cái đanh ghim sét cuốn vào trong một mảnh vải cất kỹ trong tủ sắt hay nhặt những hòn sạn ở ngoài sân, ngâm nước, chà xà bông rồi lau khô ráo đem giục ra ngoài, cười mà bảo nhau: “Kìa, trông con ma mò... Cứ lò mò, rò rẫm thế, chán chưa”.


Họ nói như thế, nhưng không tin có ma mò thật. Thường thường, ai cũng thấy nói ma mò, nhưng cho rằng “ma mò” chỉ là một ẩn dụ thôi, chớ làm gì có ma. Là vì đa số những người họ biết mùi văn hóa Âu Tây đều tin rằng không có ma, không có linh hồn, không có luân hồi, báo oán.


Một người biết sơ sơ về quá khứ của Kính – sau này chính người ấy kể lại từng mảnh vụn đời Kính cho tôi nghe – nhất định chống lại loại tư tưởng đó và nói đùa:


– Tôi lạ cho các anh. Các anh tin là không có ma, không có linh hồn, không có luân hồi, quả báo, sao lại tin Kinh Thánh?


– Kỳ quặc chưa! Kinh Thánh mà lại tin có linh hồn à?


– Thực ra, Chúa không hề nói đến luân hồi quả báo, nhưng một vài đoạn trong kinh Thánh, thiên Apocalypse chẳng hạn, chương 13, câu 10 có ghi “kẻ nào cầm tù người khác sẽ bị người khác cầm tù, kẻ nào sử dụng gươm đao sẽ bị chết vì gươm đao”. Như thế, theo tôi nghĩ, tức là ám chỉ có một định luật quả báo hoặc nhãn tiền, hoặc từ kiếp này qua kiếp khác... người sẽ gặt những gì người gieo. Câu ấy cũng không ngoài ý nghĩa nói trên.


Đạo Phật cố nhiên, tin có luân hồi, nhãn quả. Tôi nhớ đã đọc những tài liệu “Many Monsinns” của Gina Germinara liên quan tới Edgar Caycee thì thấy rằng chính ông Caycee, thần nhỡn, tin rằng thuyết luân hồi, nhân quả của nhà Phật có nhiều phần hữu lý.


Đức Phật có nói: Hành động là kết quả của tư tưởng “Những gì mà chúng ta làm hiện nay là kết quả những điều ta đã suy gẫm từ trước. Trong Phật giáo, thuyết luân hồi là một giáo lý căn bản. Đức Phật dạy rằng những đức tánh của con người bây giờ là kết quả những tư tưởng và hành động của y trong những kiếp trước.


Có nhiều người tuy chấp nhận luật nhân quả, nhưng lại quan niệm luật ấy dưới khía cạnh trừng phạt và đau khổ. Ta nên nhớ rằng danh từ Karmo của Ấn Độ chỉ có nghĩa là hành động, và đó là một danh từ trung lập. Mọi sự vật trong vũ trụ đều có hai phương diện: âmdương, mà nghiệp quả (Karma) cũng không ngoài.


Lẽ tất nhiên một hành động có thể tốt hay xấu, vị kỷ hay vị tha. Nếu cách hành động, cư xử của một người là tốt thì không có gì ngăn trở họ cứ tiếp tục làm những điều phải những điều tốt lành theo cái đà tiến hóa tự nhiên của con người.


Điều đó có thể gọi là nguyên tắc liên tục của nghiệp quả.


Trái lại, nếu một người có những hành động xấu xa, hung dữ, độc ác thì nghiệp quả đó phải được sửa chữa bằng luật quả báo, điều này gọi là nguyên tắc thừa trừ.


Thường thường, người ta vẫn tin rằng làm điều xấu xa hung dữ, độc ác kiếp này thì kiếp sau mới quả báo. Nhưng tôi cho rằng ở vào thời buổi này, quả báo thường không đợi đến kiếp sau mới phát ra, nhưng ngay trong kiếp này: Tôi sợ rằng ông Kính bị quả báo theo loại sau này vậy”.


Câu chuyện ma mò đem ra thảo luận giữa mấy anh em làm việc ở Nha Tài Chánh diễn ra chừng hơn ba tháng thì xảy ra vụ ông Lê Quang Kính ở Bầu Sen nhấn sáu đứa con vô tội vào trong hồ nước kỳ cho đứa nào đứa ấy thật tắt thở mới lôi lên, lau chùi cẩn thận rồi thoa phấn thoa son cho đẹp, đặt nằm giăng giăng trên giường. Sau này các bạn hữu của Kính ngồi suy nghĩ kỹ đều cho rằng lời của người bạn hôm nào có thể trúng một phần nào. Nhấn sáu đứa con xuống nước, theo thứ tự, xem chúng đã chết thật chưa mới lôi lên, mà lôi lên rồi lại chải đầu cho từng đứa, thoa phấn vẽ son cẩn thận, há chẳng phải là hành động của một thứ ma mò. Làm những công việc tò mò, tẩn mẩn?


*


Sau khi tôi cúng hậu ở chùa Giác Lâm một ít lâu, tôi có việc phải rời nước đi xa một thời gian: ở ngoại quốc, tôi có đem câu chuyện ông Lê Quang Kính ra kể lại cho mấy người bạn thông thiên học ngoại quốc nghe: họ nhờ tôi một khi về nước thì viết hết cả đầu đuôi câu chuyện lại gởi cho họ để dịch rồi đăng tải lên một nguyệt san thông thiên học; ngoài ra, hầu hết đều cho rằng ông bạn nói về luân hồi, nhân quả, nguyên tắc liên tục và nguyên tắc thừa trừ chưa chắc đã là không có lý. Họ nói đại khái:


– Ở đời, có nhiều sự việc có thể làm bằng chứng hiển nhiên về định luật luân hồi, nhân quả. Nhưng ta cứ thí dụ những sự việc đó chưa đủ hoàn toàn thuyết phục ta thì ít ra, chúng cũng là những dữ kiện đáng cho ta lưu ý về mặt khảo cứu và sưu tầm khoa học.


“Trong thế giới này, có biết bao nhiêu phát minh lớn lao mà lúc ban đầu đều cho là khó tin, là mê tín, dị đoan, điên khùng như trái đất xoay quanh mặt trời, đi lên cung trăng, ngồi một chỗ mà di chuyển được một đồ vật từ nơi này đi nơi khác...


Có một hôm có người hỏi nhà bác học Einstein là cha đẻ ra thuyết tương đối luân hồi: “Tại sao ông lại phát minh ra được thuyết ấy” thì Einstein đáp: “Bắt đầu tôi không tin, tôi ngờ chính tôi điên khùng, nhưng tôi cứ tìm tòi... và tôi bắt đầu bằng cách thử đặt một nghi vấn về một định lý”.


Rất nhiều người kể cho tôi nghe những chuyện luân hồi, quả báo mà họ đã biết hay đã từng đọc thấy trong các tài liệu lưu trữ ở các nước thực sự tân tiến chứng tỏ là có quả báo thực. Mà không phải chỉ có một loại quả báo mà thôi, nhưng có nhiều loại quả báo khác nhau, quả báo không phải chỉ ở kiếp này mà còn có nhiều thứ quả báo bắt nguồn từ những kiếp xa xôi về trước.


– Có một điều tôi băn khoăn, tại sao ông Kính có bảy con mà chỉ có sáu đứa bị nhấn chết trong hồ. Nếu là quả báo, sao không cho chết luôn đứa con thứ bảy? Để cho nó sống sót làm gì?


– Dường như câu hỏi đó có nhiều cách giải đáp. Nhưng đáng kể là câu giải đáp sau này: Đấng sinh ra muôn loài không bao giờ muốn cho bất cứ một giòng giống nào tuyệt diệt; trái lại, cho một phần tử của giòng giống ấy sống trong tình trạng “quả báo treo”. Cái phần tử sống sót đó đã nhìn thấy quả báo và cảm thấy rằng mình sống sót như thế là vì được trời thương, không phải trả cho cha những tội ác do cha đã làm (như trường hợp Lê Quang Kế), nhưng không phải vì thế mà hết băn khoăn, lo sợ. Lưỡi gươm Damoclès treo trên đầu họ không biết rớt xuống lúc nào... Đó là một sự đe dọa khủng khiếp trong những năm đầu của thế hệ phổ biến về thuyết luân hồi, cũng như quỷ satan và lửa hỏa ngục đã từng là một nỗi sợ hãi gớm ghê cho người đời.


Để chống lại cái khuynh hướng sợ hãi đó, các nhà lãnh đạo các phái tư tưởng mới có thể phủ nhận “quả báo treo”, phủ nhận tội lỗi, bệnh tật, chết chóc, lầm lạc là cõi vật chất. Tuy nhiên, phủ nhận vật chất, thế gian, tội lỗi và quả báo không có nghĩa là giải quyết được vấn đề! Bổn phận chúng ta không phải là đậy đệm, giấu diếm sự thật như con đà điểu vùi đầu xuống cát để khỏi nhìn thấy hiểm nghèo trước mắt. Ta có bổn phận thắng, đoạt, chế ngự và tổ chức lại cõi đời vật chất theo những lý tưởng tâm linh cao cả...


Kế, người con út của ông Kính mà sau này thành sa-di Đạo Hạnh là một người khôn ngoan đã biết lấy đạo để cứu chuộc những tội lỗi cũ do cha mình đã tạo ra; đồng thời thâu lượm thêm những đức tính tốt để tiến hóa thêm lên và hướng thiện theo đường lối ngược hẳn tội lỗi mà cha mình đã tạo ra trong kiếp này hay ông bà mình đã gây ra trong những kiếp xa xôi về trước. Làm như vậy, các quả báo có thể lần lần tiêu tan được.


*


Đến khi về nước, một hôm đi qua chùa Giác Lâm, tôi rẽ vào thăm đại đức trụ trì và các sa-di ở đó thì thấy chùa được tu bổ lại đẹp hơn trước, nóc bắt bông bắt chỉ bằng đồ gốm cực kỳ tinh xảo.


Đông đủ đại đức, sa-di trò chuyện với tôi, trong đó có cả sa-di Đạo Hạnh. Hỏi ra mới biết là sa-di Đạo Hạnh, mặc dầu thương mẹ không để đâu cho hết, cứ khăng khăng ở lại tu không chịu hoàn tục theo lời cầu xin của mẹ.


Trước thái độ cương quyết ấy, đại đức và các sa-di ở chùa Giác Lâm mủi lòng, hết lời xin bà Lê Quang Kính cho chú vẹn kiếp tu hành. Không biết làm thế nào khác, bà đành phải nghe theo và đem hết tài sản kiếm ăn chắt bóp được ở Cao Miên cúng hết để trùng tu Giác Lâm Tự như chúng ta vẫn còn thấy hiện nay.


Còn bà Kính thì ngày rằm, mùng một vẫn lên chùa lễ Phật và thăm con. Cho đến một ngày gần đây, sau khi đi thăm mộ chồng và sáu đứa con ở Bắc Kỳ nghĩa trang về, bà tắm rửa sạch sẽ, đốt nhang lễ Phật xong rồi nằm xuống chết nhẹ nhõm như đi ngủ.


 


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info







[1]    Nay là đường Trần Hưng Đạo, Quận 5.




[2]    Cáp ruồng: Chiến dịch khủng bố Việt kiều tại Campuchia trước 1975. (BT)



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (3, tiếp và hết) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (2) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (1) - Khái Hưng 26.05.2017
Nỗi niềm gối trắng - Dạ Ngân 25.05.2017
Cây đòn nóc và chiếc bình vôi - Triệu Văn Đồi 18.05.2017
Biển vỡ - Triệu Văn Đồi 29.04.2017
Hạ bệ - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Ba con cáo - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
xem thêm »