tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19380636
Truyện ngắn
13.06.2013
Vũ Bằng
Hai cái hồ nước (1)

Bắt đầu từ hôm nay www.trieuxuan.info post những truyện ngắn trong tập Những kẻ gieo gió, Di cảo của Vũ Bằng, NXB Văn học in lần đầu tiên năm 2002, nhà văn Triệu Xuân đưa vào Vũ Bằng Toàn tập, NXB Văn học 2006.


Câu chuyện tôi sắp kể đây xảy ra ở giữa Sài Gòn cách đây hai mươi ba năm. Chắc chắn hẳn có nhiều bạn đọc xong sẽ nhớ dần ra bởi vì câu chuyện này đã đăng tùm lum lên các báo thời kỳ đó. Tuy nhiên hầu hết những người biết chuyện – kể cả phóng viên, ký giả, văn nhân thời đó chỉ mới biết có phần nào mà thôi. Tôi cũng là một người trong số ấy. Tình cờ cách đây ba tháng, vào viếng chùa Giác Lâm, tôi chuyện trò với một sa-di mới biết đầu đuôi câu chuyện rõ ràng, đầy đủ, nên ghi lại để các bạn suy gẫm về quái trạng của tâm lý con người.


Ngày nay, phần đông chúng ta đã làm quen ít nhiều với thuyết “tiềm thức” của hai giáo sư Freud và Young. Ai cũng có những ký ức thuộc về quá khứ của mình. Tất cả cái gì là sợ hãi, thương yêu, thù oán, ghét ghen, hờn giận... đều là bộ phận của một di sản tinh thần mà chính ta đã để lại cho ta. Ông Edgar Caycee nổi tiếng là một người thông suốt những sự việc liên hệ đến dương gian, âm phủ. Kêu những di sản tinh thần đó là quái trạng của tâm lý. Những quái trạng tâm lý đó có thể gây rối loạn thần kinh. Rối loạn thần kinh có thể bắt nguyên nhân từ thể chất hay tinh thần.


Về nguyên nhân thể chất, Caycee đơn cử thí dụ một người con gái ở Selma, thuộc tiểu ban Alabana (Mỹ) bị mất trí, đến hỏi ông, tại sao lại thế. Ông nằm lịm trên một cái ghế dài, nhắm mắt lại giây lâu, đoạn ngồi dậy, dùng thần nhãn nhìn người con gái đó một giây lâu nữa. Rồi ông cho biết là người con gái ấy bị hỏng óc, mất trí là vì có một cái răng cấm mọc ngược và cấn lên một đường gân ăn thông lên óc. Nhổ cái răng cấm đi, bịnh nhân trở lại bình thường thực.


Về nguyên nhân tinh thần, có nhiều người cho rằng hỏng thần kinh (điên khùng) là vì bị ma làm. Họ nhắc lại câu chuyện ghi trong kinh thánh, theo đó thì chính Chúa Giêsu đã đuổi ma ra khỏi xác một người đàn bà điên. Cố nhiên, bây giờ mà đưa chuyện một nhà tu hành Công giáo hay Phật giáo thực hành những phép đuổi tà, trừ tà thì các nhà khoa học tiến bộ cho là dị đoan; Nhưng ông Caycee không ngán những nhà khoa học đó: ông quả quyết rằng nếu người ta chấp nhận chỉ có thể xác chết thôi mà linh hồn vẫn tồn tại sau khi chết thì không có lý gì những linh hồn bị oan ức, bị chết tức chết tưởi lại không về khuấy phá hay nhập vào một người khác để mà hành hà ám ảnh.


Câu chuyện sắp kể đây có lẽ thuộc vào loại đó. Có người kêu thứ ma đó là “ma nào” nó nhập vào xác một người đã gây nên tội để “hỏi thăm sức khỏe” của y vì những sự việc y đã tạo nên trước đó.


*


Một ngày cuối tháng một, đầu chạp năm một ngàn chín trăm năm mươi sáu, một tin rùng rợn loan ra khắp Sài Gòn y như thể một lằn thuốc súng. Ông Lê Quang Kính đại úy biệt phái về làm phát ngôn viên Bộ Tài Chánh giết hết sáu đứa con một lúc, đặt nằm dăng dăng ở trên giường, ôm mặt khóc rồi mở cửa tự đi thú tội với các nhà hữu trách gần nhà ông.


Mới nghe, không ai tin là chuyện thật. Nhưng được một người bạn gái ở Bàu Sen cùng làm một sở, báo cho biết tin hồi sáng sớm, tôi vội vã đến ngay chỗ xảy ra tai nạn, tự mắt mình xem hư thực ra sao.


Ở miền Nam có hai xóm Bàu Sen. Một ở gần đồn cây Mai, trước kia đầy cỏ rác và lục bình (bây giờ đã san bằng, xây nhà chi chít như bát úp) và một ở miệt Chợ Quán, gần đường Võ Tánh.


Nhà ông Lê Quang Kính thuộc về xóm Bàu Sen thứ nhì.


Đến nơi tìm được nhà, tôi đã thấy nhân viên công lực tới đông đảo và làm một vòng đai cách nhà ông Kính chừng mười lăm thước, nội bất xuất, ngoại bất nhập. Nhờ lúc ấy ngoài công việc làm cho một tòa đại sứ ngoại quốc, tôi lại làm phóng viên cho một tờ Nhật báo có tiếng ở đây, tôi được vào sau khi xuất trình thẻ nhà báo cho một nhân viên tư pháp đứng ở giữa đường như một cây cột xi-măng đúc. Từ vòng đai đi vào đến nhà ông Kính, đường xấu, đầy sình vì đêm trước mưa to, nhà ông Kính ở căn bìa. Đó là một căn nhà gạch nhỏ, ở bên ngoài treo một tấm màn bằng ni lông để che mưa, che nắng; bên ngoài, có một khoảng trống để một xe máy dầu và xe đạp trẻ con, rồi mới đến một cái cửa bằng cây sơn màu xám lạt. Nhà đã thấp, tối, mà cửa lớn và cửa sổ lại sơn màu đỏ thành thử toàn thể tiết ra một màu nhạt nhẽo, buồn rầu. Bộ sa lông ỏi không nằm ở giữa nhà như ta thường thấy ở nhà các ông công chức, nhưng thu vào một xó, dựa vào vách tường. Một cái bàn lớn kê vào chỗ đó. Quá vào trong một chút, là một cái giường lớn nằm sau một tấm màn hoa; Kế bên là cái giường sắt nhỏ, một cái nệm đặt dưới đất, trên trải chiếu – có lẽ đấy là giường của mấy đứa con lớn. Đi quá mấy bước, người ta thấy bên này có một tủ áo, bên kia có một cái cửa ăn thông sang một gian phòng xép nhỏ hơn, có cửa kính. Nhìn vào trong gian phòng xép đó, có một tấm phản kê trên bốn hòn gạch “lá nem”. Sau này, tôi biết đấy là phòng của người vú nuôi đứa con út của ông Lê Quang Kính – lúc ấy mới được gần ba tuổi. Gian phòng này không bày biện gì cả, chỉ có một cái mắc áo đựng vào một đống thùng giấy đựng sữa mà bây giờ chứa các đồ lặt vặt như quần áo cũ, giầy dép hay nhật trình cũ. Muốn xuống bếp phải đi qua cái cửa kính, sang gian chính. Ngăn gian nhà chính với bếp, có một cái cửa nữa bằng cây, cài bằng then.


Tôi xuống bếp thì đã thấy có hai nhân viên công lực đứng chỉ chỏ ở cạnh cái hồ và một lát sau đó, một người cúi xuống nhìn vào hồ nước, ra ý tìm tòi một cái gì. Một lát sau, y ngẩng lên nói với người đứng cạnh:


– Thật hết rồi. Tôi đã lấy gậy quậy lên rất kỹ, nhưng quả là không còn gì nữa.


Còn gì? Thì ra đến lúc ấy tôi mới biết.


Thoạt nghe nói về vụ án mạng khủng khiếp này, tôi cứ tưởng thủ phạm giết sáu đứa con bằng dao hay bằng súng, hoặc bằng cách bóp mũi, bịt mồm cho chết... Hóa ra thủ phạm đã giết sáu đứa con theo một phương pháp chưa từng thấy bao giờ: nhận từng đứa xuống hồ nước cho chúng ngộp thở mà chết, rồi không cho nó chìm, vớt lên, đặt nằm trên giường cẩn thận lấy phấn thoa vào mặt, lấy son vẽ vào môi cho nó. Đoạn, lại bế đứa khác lên, cho vào trong hồ kỳ cho nó ngộp thở, chết hẳn hòi, đem đặt vào giường cạnh đứa thứ nhất, thoa phấn thoa son y như đứa thứ nhất, rồi cứ thế... cứ thế tiếp tục kỳ cho hết cả sáu đứa con.


Tôi lại gần một ông đại diện tư pháp, hỏi:


– Thực vậy, hở ông? Sao lại có chuyện quái đản như thế được?


– Quái đản thật, nhưng mà đúng y như thế.


Rồi ông lấy thuốc lá ra châm hút và nói tiếp:


– Chúng tôi được tin của Cảnh sát Quận này báo cho biết vào hồi sáu giờ rưỡi sáng. Sở dĩ biết được vậy là nhờ người vú em dậy sớm để đun nước quét nhà thấy vậy la lên, chớ thật tình thủ phạm không hề ra tự thú như nhiều người đã nói:


– Thế vợ ông Kính đi đâu?


– Điều đó, các nhà hữu trách còn đang xét. Nhưng theo sự dò hỏi của các nhân viên chỉ điểm mới đưa về sau cuộc điều tra sơ bộ, bà Kính đã bỏ phế gia cang, đi theo người yêu từ hơn hai tháng nay rồi. Ông Kính đã nhiều lần nhắn tin gọi về và hứa tha thứ hết cả lỗi lầm, nhưng bà vẫn không về với chồng và bảy đứa con. Là vì bà có tất cả thảy tám đứa con với ông chồng này, chớ không phải sáu. Một đứa chết khi đầy cữ, bảy đứa còn sống. Sáu đứa lớn – bốn trai, hai gái – từ chín tuổi đến ba tuổi bị ông Kính nhận xuống nước cho chết ngộp, duy chỉ có một đứa sống sót: đó là đứa út... Thằng nhỏ này sống sót cũng chỉ là sự tình cờ. Chính đêm xảy ra án mạng, ông Kính hai lần bảo người vú cho đứa út ngủ với ông cho vui. Không hiểu tại sao người vú không chịu, ru nó ngủ trong gian nhà xép. Do đó thằng bé này thoát chết, nếu không nó cũng bị bố nhận xuống hồ nước chết rồi.


Vừa nói, ông ban Tư pháp vừa đưa cho tôi một cuộn giấy và nói:


– Địa đồ căn nhà đây, ông coi. Nhiếp ảnh viên của công an đã chụp tất cả chín “pô” mấy đứa trẻ bất hạnh được bố chúng xếp nằm dăng dăng trên giường.


Ông móc túi áo sơ mi ra lấy một bức hình 4 ´ 6 đưa cho tôi coi rồi tiếp:


– Còn cái hình này là đứa út đây. Trông ngộ đấy chứ! Hai con mắt nó sáng, tóc rậm chải cúp y như con búp bê.


– Hiện giờ nó ở đâu?


– Cả người vú lẫn thằng nhỏ đã được đưa về công an. Còn sáu cái xác thì chở cả về bệnh viện Đô Thành để cho bác sĩ khám nghiệm rồi cho chôn cất. Vì, theo lời người vú, ông Kính không có bà con thân thuộc ở đây, mà bà Kính thì không biết ở đâu để thông báo. Vả chăng, theo tôi nghĩ...


Nói đến đây, ông bạn ngưng lại, không nói nữa. Tôi đã đoán ông ta muốn nói gì. Theo tâm lý chung của người mình thì người đàn bà bây giờ ít có sự thủy chung như người đàn bà ngày trước. Lấy nhau lúc có tiền, có bạc thì vợ chồng sống thuận hòa, nhưng một khi tiền hết, gạo không, thường thường người vợ hay đi tìm duyên mới để sống một cuộc đời ấm êm hơn là sống với người chồng sa sút. Trường hợp của bà Kính bất quá cũng thế, chớ không hơn. Đó không phải chỉ là ý kiến riêng của ông Tư pháp, nhưng mà là của tất cả hai bên hàng xóm. Là tiếng nói của dân, mấy ông nhà báo cũng tán đồng ý kiến đó và nêu lên thành giải thuyết rồi từ giải thuyết biến thành sự thật lúc nào không biết: Bà Kính, thứ đàn bà độc như lang sói, chính là nguyên nhân gây ra sự tuyệt vọng cho ông chồng sát nhân. Đúng thế, không còn cách gì sai được. Tuy nhiên, người đàn bà hư hỏng đó có đáng trách chăng thì cũng chỉ đáng trách phần nào thôi. Nói trộm vong linh người đã chết, ông Lê Quang Kính mới thực là người có tội: đời đã chết hết đàn bà đâu mà nỡ nào vì một người chẳng ra gì, mê lú đến cái độ tuyệt vọng, làm điều càn bậy? Mà tôi không cách gì tha thứ được là ông đã đem trút tất cả sự oán thù lên đầu mấy đứa con vô tội!! Mẹ chúng làm nên tội thì chịu tội, cớ gì lại thù vơ oán chạ đến chúng, bắt chúng phải chết một cách thảm thiết, đau thương như vậy?


Ngay lúc đó, ông Lê Quang Kính bị bắt giam và ông Biện lý đã cật vấn ngay ngày hôm sau. Ai cũng phải căm hờn tức giận vì thái độ hèn nhát của ông Kính trước mặt ông Biện lý.


*


Lê Quang Kính không nhận tội lỗi do chính ông đã gây ra. Cái vẻ mặt làm ra ngớ ngẩn, cái giọng nói cố uốn nắn cho ra vẻ hiền hậu, thực thà cũng như run sợ, giả tạo của ông, dầu sao cũng không thể đánh lừa nổi các nhân viên giàu kinh nghiệm của ngành Tư pháp.


– Ông nói rằng không nhận thức được hành động của mình làm, thế thì tại sao theo lời người vú, ông lại ngồi bưng mặt khóc ròng sau khi đã nhận chết sáu đứa con ông trong hồ nước?


Ông Kính thong thả trả lời:


– Đúng như thế. Tôi không biết gì hết. Lúc ấy, tôi mở mắt và hành động như tôi đã làm các hành động ban ngày, nhưng tôi không biết tôi làm gì. Có lẽ những người mắc chứng thụy du, đương ngủ vùng dậy cầm đèn đi soi dưới gầm giường hay leo lên mái nhà hoặc ra đường đi dạo rồi lại trở về, tuyệt nhiên không biết gì cả cũng chỉ là một trường hợp cũng như trường hợp của tôi.


Duy tôi hơi khác một chút: thay vì hành động như thế xong rồi thì người mắc chứng thụy du nằm vật xuống giường tiếp tục giấc ngủ bỏ dở, phần tôi thì tôi lại không ngủ trước khi hành động mà hành động xong rồi tôi cũng không ngủ nữa. Nói cho thật đúng tôi ở vào trạng thái một người đương ngủ, ngủ mà mắt vẫn mở, chân tay vẫn cử động, miệng vẫn nói y như người thức. Lúc ấy, tôi không còn phải tôi nữa, nhưng là một thứ người gì lạ lắm, một thứ người máy do một cái gì cũng lạ lắm chỉ huy, điều khiển – Kiểu con quỷ Frankenstein mà tôi đã thấy chiếu ở trên màn bạc hồi còn đi học. Cũng như con quỷ đó, tôi giết người như một cái máy, mà óc hoàn toàn tê liệt, không biết gì.


– Những lời ông nói không có gì vô lý hơn. Thầy thuốc khám nghiệm ông xác nhận ông là một người bình thường, không có một chứng bịnh thần kinh nào hết. Chẳng qua ông bịa đặt ra chuyện này chuyện nọ để che tội lỗi đó thôi. Tốt hơn hết là ông hãy nói tất cả sự thật, hoàn toàn thực vì cách gì ông không tránh được tử hình, tuy nhiên nếu ông khai thực vào tờ khai sắp ký đây, Tòa án rất có thể niệm tình cho ông được hưởng trường hợp giảm khinh.


Ông Kính vừa khóc vừa đáp:


– Tôi có bảy đứa con các ông đã biết: càng những người nghèo lại càng thương con nhiều. Sáu đứa con tôi nay đã chết, mà chết lại do chính tay tôi giết bằng cách nhận vào hồ nước – một lối giết người từ từ, một cách giết người tối dã man độc ác – tôi cũng chẳng mong gì được trường hợp giảm khinh.


Chính tôi mong được pháp luật cho tôi đền tội sớm chừng nào hay chừng ấy, và đền tội một cách xứng đáng với tội tôi đã làm, nghĩa là giết tôi bằng một phương pháp nào đau đớn nhất, tàn bạo nhất, gớm ghiếc nhất.


Nhưng tất cả những sự việc xảy ra đã diễn ra đúng như tôi đã trình bày; tôi cam kết không xuyên tạc, giấu diếm một ly để làm nhẹ tội. Tôi có muốn nhẹ tội đâu? Chính tôi muốn chết. Tôi nói dối làm gì? Bảo rằng những lời tôi khai “không có gì vô lý hơn” tức là quyết đoán một cách hơi chủ quan, và độc đoán.


Thuở nhỏ – tôi nhớ lúc ấy chừng lên bảy, lên tám – tôi ở phố Hàng Hài Hà Nội. Trước cửa nhà tôi, có một gia đình gọi là ông bà Cả Nhẫn, ăn ở rất hiền lành, cả phố đều yêu mến, tuyệt nhiên không có điều gì bất mãn. Vợ chồng kiểu cũ, cả năm không có một tiếng cãi nhau, thêm vào đó lại đủ ăn đủ tiêu, con trai con gái thuận hòa vui vẻ.


Vậy mà một buổi sáng mùa đông kia, tôi mở mắt dậy thì thấy cả phố xôn xao về việc ông Cả Nhẫn đâm đầu xuống chết ở hồ Hoàn Kiếm. Nguyên do? Chẳng có nguyên do gì cả. Không hiểu có cái gì run rủi, ông ta nửa đêm thức dậy rón rén ra mở cửa rồi đi... Từ Hàng Hài, qua Hàng Gai đến Bờ Hồ, ước lượng chừng hai trăm thước. Ông ta đi ra đó rồi đâm đầu xuống hồ. Bây giờ, xét trường hợp của ông, các nhà khoa học cho là ông điên, ông mắc chứng thụy du, thức dậy ra đường đi dạo, rồi trong khi mơ ngủ như thế, không phân biệt đâu là nước, đâu là hồ nên tụt chân xuống nước. Nhưng mà hồi ấy ai đã học đến chứng bịnh thụy du? Tất cả mấy đường phố chung quanh đó cho là ông bị con “nam” ở Hồ Gươm nó nhập vào ông thừa lúc ông ngủ dựng dậy rồi rủ ông xuống hồ. Các ông có cho rằng chuyện ấy vô lý hay không? Riêng tôi, tôi chỉ biết, đó là một chuyện thật, hoàn toàn thật và biết rõ từ đầu đến cuối, chớ không phải nghe ai thuật lại mà bảo là cương lên hay đặt để.


– Trở lại câu chuyện của ông. Tất cả dư luận trong quần chúng cũng như trên báo chí cho rằng ông sát hại sáu con ông là vì ông oán thù mẹ chúng – tức là bà Kính. Có người lại nói ông ngờ sáu bảy đứa con ấy không phải là con ông. Ông có thể cho biết rõ về điểm đó không? Có phải ông cho rằng mẹ chúng là người hư thân trắc nết không nên đập đất mà nuôi lấy cái tông giống ấy, phải không?


Ông Kính đương cúi đầu, ngửng phắt lên, không để cho nhà Tư pháp nói thêm:


– Tôi xin lỗi ông Biện lý. Ông nói thêm một câu nữa thì thành ra một người vu cáo; một người quấy hồ bôi nhọ một người vắng mặt.


Vừa rồi ông Biện lý cho rằng những lời tôi khai vô lý. Thực ra, cái dư luận của quần chúng và báo chí mới “không có gì vô lý hơn”.


Như đã khai với ông Biện lý lúc ban đầu, tôi là con nhà khá giả ở Hà Nội, làm công chức cho Pháp hưởng lương bổng và địa vị khá cao. Cố nhiên, thuở ấy, vợ chồng lấy nhau phải môn đăng hộ đối. Thì đúng như thế, vợ tôi là một người có nho học, tây học, nết na thuần thục, không hề làm cho tôi buồn lòng. Ai bảo rằng vợ tôi hư thân mất nết, quả là đã mắc vào tội vu cáo đê hèn.


– Thế sao bà ấy lại bỏ nhà đi? Mà theo lời thiên hạ đồn đại thì bà ấy tình phụ ông cho nên ông oán ức mà trả thù lên đầu sáu đứa con?


– Càng lầm lắm, tôi đoan chắc với ông Biện lý: người đàn bà ấy là một bà thánh, chớ không phải người thường. Chính vợ tôi đã khuyên giải tôi những khi tôi mê muội làm tội lỗi – ở đời này ai dám nói là mình không có lúc mê muội làm tội lỗi? – và ở đời chỉ có vợ tôi hiểu tôi và thương tôi. Các ông còn lạ gì các tánh xấu hay sanh điều để chuyện của người đời? Thế nào mà họ chẳng tìm được cách để dìm người khác xuống đất đen! Bao nhiêu cái đó tôi không lưu ý. Tôi chỉ biết một điều là bất cứ khi nào, nhất là trong những giây phút này, tôi lại càng cảm phục và quí trọng vợ tôi hơn cả bao giờ. Vợ tôi đi, không phải là lỗi tại nàng. Lỗi hoàn toàn về tôi. Ít lúc sau này, tôi khó tánh, có khi như mê loạn. Tôi đã rủa xả nàng, chửi mắng, có khi đánh đập và chính tôi đã đuổi nàng đi.


– Thế bây giờ ông có biết bà ấy ở đâu không?


– Có lẽ chết rồi... Có lẽ còn sống... Nhưng có một điều chắc chắn là người ấy không bao giờ phụ bạc tôi và dù là xa cách thiên sơn vạn thủy, người ấy cũng không bao giờ bước sang thuyền khác. Hỏi tại sao tôi lại dám nói quyết như thế, tôi không thể trả lời, nhưng vợ chồng ăn ở với nhau gần một đời người, tôi biết chắc như thế, không sai được. Có lẽ vì lễ giáo, có lẽ vì thiên tính, có lẽ vì tương lai con cái chúng tôi, nhưng còn vì nhiều lẽ khác nữa mà tôi chỉ cảm giác được mà không thể diễn tả ra lời được.


– Ông nói như vầy, phải chăng là có một chuyện bí mật gì ở trong?


– Không có bí mật gì hết. Tôi cảm thấy thế. Hỏi kỹ tại sao, tôi không trả lời được.


– Ông không có vợ lẽ, con thêm?


– Không bao giờ. Tôi là một thứ người không hề nghĩ đến chuyện đó; hơn thế tôi còn triệt để phản đối là khác. Tôi quan niệm rằng vấn đề lấy vợ lẽ là một vấn đề xa xỉ. Có thừa ăn, thừa tiêu mới lấy vợ lẽ để làm cảnh, chớ làm ăn vất vả tối ngày mới có ngày hai bữa mà lại còn đèo bòng nữa thì là tự mình thắt cổ mình, tôi không chịu.


Tôi không chịu, một phần nữa cũng là vì tôi thương các con tôi. Ai đã lớn tuổi rồi mà còn có con còn nhỏ, nhất là lại vừa khẳm đủ ăn, không làm cho con mình sung sướng bằng con nhà người ta mới quan niệm được cái tình thương con nó tế nhị và thiết tha đến mức nào.


Trước đây, có nhiều lúc ngồi suy gẫm một mình, tôi đã có lúc nghĩ rằng khó mà có một người đàn ông thương con sâu xa tha thiết đến như tôi.


– Vậy mà ông đã giết sáu đứa con một lúc. Thế là tại làm sao?


– Tại sao? Thì tôi đã nói là chính tôi không biết tại sao. Vì thế, sau khi đã làm xong tội ác tầy trời, tôi thấy sáu đứa con nằm chết dăng dăng ở trên giường, tôi không nghĩ rằng chúng nó chết, chúng nó không thể nào chết được. Tôi cứ tưởng là chúng ngủ. Mà tại sao ngủ mà lại đánh phấn, bôi môi, đẹp như thể sắp đi xem hội? Tôi lay chúng dậy để hỏi. Mãi đến tận lúc không thấy đứa nào dậy cả, mà toàn thân chúng lạnh ngắt, tôi mới hoảng sợ và ngờ ngợ chúng không còn sống nữa. Tôi cảm thấy như có trăm ngàn lưỡi dao bén nhọn banh da xẻ thịt tôi. Tôi la hét, tôi kêu gọi, tôi van lạy: vô ích; tôi muốn đập đầu vào vách để chết theo con nhưng tôi không có sức, mà hình như lại có một cái gì bí mật ngăn tôi lại. Nước mắt tôi trào ra và chính tai tôi nghe thấy tôi gào lên, rú lên như một con thú bị bắn. Trời đã bắn tôi đúng vào óc, đúng vào tim, nhưng không cho tôi chết.


Thế rồi trái đất đảo lia đảo lịa những tia sáng đủ các màu lóe lên, rồi mờ đi, rồi lại lóe ra, để rồi thì là bóng tối, tôi không chịu được, tối như âm ty địa ngục mà tôi vẫn nghe thấy ông bà tôi nói khi xưa, những khi ông bà tôi kể chuyện cổ tích theo đó thì ai ăn ở phúc đức được lên thiên đình, còn những người độc ác tội lỗi thì ăn cháo lú, qua sông mê, để xuống địa ngục cho quỉ sứ hà răng, rút lưỡi...


*


Cũng như một số lớn vụ án ly kỳ khó hiểu khác, vụ ông Lê Quang Kính nhận sáu đứa con vào hồ nước cũng lu mờ dần đi.


Thần Tê Mít [1] sáng suốt là thế, có cặp mắt thần nhìn thấu đáo là thế, cũng đành phải bó tay, không hiểu tại sao Lê Quang Kính lại nhẫn tâm giết sáu đứa con một cách thảm thiết, gớm ghê như vậy.


Tuy nhiên, Tòa cứ phải kết án: chung thân khổ sai.


Đứa con út – tên là Kế – được đưa về ở Bà Điểm với người vú cho đến năm lên bảy thì người vú chết. Trước khi chết, người vú ấy, không đủ tiền nuôi nó, phải đem cho nó cho viện mồ côi. Từ đó, không ai biết tin tức ra sao nữa.


Còn về bà Lê Quang Kính, tuyệt nhiên không ai nghe thấy nói đến bà ta. Có lẽ bà đã chết. Từ khi xảy ra vụ ông Lê Quang Kính giết sáu đứa con, báo đăng rầm rĩ, không ai thấy bóng bà về hỏi thăm mấy đứa con xấu số hay vào nhà giam thăm chồng.


Căn nhà trệt ở hẻm 15 trên 118B tại Bầu Sen trả về cho chủ là một Ấn kiều. Bây giờ đi qua, người ta thấy một căn nhà bốn tầng lầu đỏ ngót bông hoa giấy dựng lên thay thế ngôi nhà cũ, người ra vô tấp nập như không bao giờ có chuyện gì lạ xảy ra tại đó.


Chính những người đã từng ở lâu năm vùng ấy dường như cũng quên hẳn cái án mạng rùng rợn trước đây, thế thì nói làm chi đến những người ở đô thành, trước đây đã có một lúc trôi nổi và thắc mắc vì câu chuyện đó.


Cái tánh dễ quên của trời phú cho loài người thật kỳ lạ và cũng thật là hay. Ai cũng tưởng sẽ nhớ đời đời, nhưng rút lại chỉ dăm bảy tháng, một năm quên hết, thậm chí đến khi Tòa đưa ông Kính ra xử cũng không có mấy người lưu ý, mà báo chí cũng chẳng buồn loan báo cho độc giả biết. Ông Kính đã chết hay còn sống, mà sống trong tù thì bị giam cầm ở đâu.


Chính tôi cũng dửng dưng về vụ ông Lê Quang Kính như bao nhiêu người khác, ngày nào mà lại không có chuyện mới, lạ xảy ra hơn thế, nước ta lúc ấy lại có những biến chuyển dồn dập liên quan đến đời sống thực tế của người dân, thành thử quên những vụ như vụ Lê Quang Kính chẳng có chi lạ hết.


Thế rồi năm năm qua, mười năm qua đi lúc nào không biết.


Một hôm, giỗ hậu cho một người thân của tôi ở chùa Giác Lâm, bất ngờ tôi gặp một sa di và câu chuyện ông Lê Quang Kính giết con vô tình lại sống lại trong tôi. Nhờ đó, tôi mới biết bao nhiêu giả thuyết của người ta đặt vào trong vụ này đều sai lạc và đây mới thực là lý do khiến ông Kính giết sáu đứa con vô tội mà không ai biết – kể cả Tòa án nữa.


*


Trớ trêu nhất là bao nhiêu lời khai của ông Kính với các nhân viên thẩm vấn đều đúng hết, không sai một nẩy, nhưng điểm chính là “cái gì” đã “thúc đẩy ông làm nên tội” thì ông không biết, hay biết lờ mờ, không diễn tả ra lời được. Người ta còn nhớ ông đã nói “Tại sao? Thì tôi đã nói là chính tôi không biết tại sao...”.


Một sự tình cờ dường như đã giải thích cho tôi tại sao lại có thể có sự lạ lùng như thế.


Đến đây, tôi xin phép ngưng lại để nói về chùa Giác Lâm mà ở đó tôi đã biết nguyên nhân vụ này.


Theo sách “Đại Nam Nhất Thống” chùa Giác Lâm tự lập từ năm Giáp Tý (1744), ban sơ tên là chùa Cẩm Đệm ở Bà Quẹo, trên đường đi Bà Quẹo, cách chùa Giác Viên một cây số. Chùa này đẹp vào bậc nhất ở trong vùng. Nhà sư trụ trì đầu tiên ở chùa này là một vị cao tăng hiệu là Thích Hải Tịnh. Đến khi ngài sắp tịch, ngài giao ngôi chùa lại cho một đồ đệ hiệu Yết Ma Phạm Vân Tiên, người Bình Thới (Gia Định) và trối trăng rằng bất cứ ai gặp cảnh cơ nhỡ không may, bất cứ ai gây nên tội ác mà cải hối xin thí phát, chùa cứ dung nạp, ví sau này chẳng may pháp luật có lôi thôi thì lại là chuyện khác, nhưng điều cần là sau khi họ đã thí phát rồi thì phải cảnh giác họ và sửa sai để cho họ biết đường mà theo, đường dở mà tránh, hầu sau này trở lại làm người nhân đức, có thiện tâm, làm thiện nghiệp.


Bây giờ, các người lớn tuổi ở đây mỗi khi nhắc đến chùa Giác Lâm vẫn còn kể cho kẻ hậu sinh nghe một dật sự cảm động liên quan đến tay dao búa nổi tiếng một thời ở Chợ Lớn là Tư Mắt.


 


 


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học in lần đầu tiên, 2002. In trong Vũ Bằng Toàn tập, Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, 2006.


www.trieuxuan.info







[1]    Thémis: thần công lý.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (3, tiếp và hết) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (2) - Khái Hưng 26.05.2017
Tập truyện ngắn Đội mũ lệch (1) - Khái Hưng 26.05.2017
Nỗi niềm gối trắng - Dạ Ngân 25.05.2017
Cây đòn nóc và chiếc bình vôi - Triệu Văn Đồi 18.05.2017
Biển vỡ - Triệu Văn Đồi 29.04.2017
Hạ bệ - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Ba con cáo - Bình Nguyên Lộc 25.04.2017
Hai chị em/ Bức chân dung/ Nước mắt/ Bức phù điêu - Văn Biển 10.04.2017
Chuyện ga xép/ Huyền thoại cổ tích mất tăm - Văn Biển 10.04.2017
xem thêm »