tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18950770
Những bài báo
02.06.2013
Nhiều tác giả
Ba bài về M. Solokhov

Văn hào Nga Mikhail Solokhov: Vượt mọi gièm pha


Thuyền to thì sóng cả. Mikhail Solokhov (1905-1984) là văn hào hàng đầu của chính thể Xô viết. Tác phẩm vĩ đại “Sông Đông êm đềm” của ông từng được nhận giải thưởng Nobel về văn học năm 1965. Cũng chính M. Solokhov đã là người bị những kẻ xấu bụng hay thù địch tìm đủ mọi cớ đề gièm pha nhất. Thế nhưng, cho tới hôm nay ông vẫn là nhà văn Xô viết đã và đang được tìm đọc nhiều nhất trên thế giới và ở Tổ quốc ông.


Chế độ Xô viết luôn có thiện chí với những danh nhân văn hóa có nhiều đóng góp với sự nghiệp quốc gia. Năm 1980, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô quyết định sẽ tổ chức trọng thể lễ mừng thọ 75 tuổi của Solokhov và quyết định phong tặng ông danh hiệu Anh hùng lao động xã hội chủ nghĩa lần thứ hai. Khi theo thông lệ, bức tượng bán thân của nhà văn hai lần được trở thành anh hùng đã hoàn thành, người ta tới hỏi ông: Bây giờ nên trồng cây hoa gì dưới chân tượng? Solokhov đã mỉm cười hóm hỉnh: Ngải cứu! (Trong tiếng Nga có câu thành ngữ “Đắng như ngải cứu”). Đời kẻ sĩ, ở đâu và ở thời nào chẳng đau nỗi niềm nhân thế tới cay đắng như ngải cứu. Đất nước còn một người buồn thì ta còn trăn trở. Thế gian còn một cảnh bất công thì ta còn cảm thấy mình chưa làm tròn nghĩa vụ!


Kêu hoài không thấu


Ngay cái họ của mình, Solokhov cũng có cách giải thích riêng vừa hóm hỉnh, vừa đúng tư chất thiên phú. Có lần ông đã nói đùa: “Cái họ Solokhov của tôi ý nghĩa đơn giản lắm. Có một người đàn ông đi (siol) và kêu ối a (okhat) - thế là thành họ Solokhov - người vừa đi vừa kêu. Nếu nói nghiêm túc hơn, ngày xưa có một cái họ rất cổ là Solok...”. Thực hư thế nào không ai rõ nhưng qua cuộc đời của ông, có thể hiểu được thiên mệnh của văn hào: Sống và nói to lên những nỗi niềm đau đớn của nhân quần, dù không phải lúc nào cũng là đúng lúc và đúng chỗ. Bộ tiểu thuyết bất hủ của ông Sông Đông êm đềm nhìn từ một góc độ nào đó cũng có ý nghĩa như một tiếng kêu to trên đường đời máu lửa về những nỗi đoạn trường mà các dân tộc sống trên vùng lãnh thổ Xô viết mênh mông, nhất là ở vùng sông Đông quê hương ông, đã buộc phải trải qua.


Sông Đông êm đềm chung cuộc đã mang lại cho ông vòng nguyệt quế vĩnh hằng nhưng cũng là duyên cớ để những kẻ tà tâm châm chích ông. Ngay từ khi Sông Đông êm đềm mới ra đời, những kẻ ác ý đã tung tin đồn rằng, đây là bộ tiểu thuyết của một nhà văn khác, chứ không phải của Solokhov. Điều này đã xúc phạm ghê gớm tới nhà văn và càng làm ông tăng thêm quyết tâm chứng minh tài năng của mình. Tháng 3/1929, Solokhov (khi ấy mới 24 tuổi) viết thư từ Moskva về cho người vợ trẻ Maria Petrovna (gọi thân yêu là Marusenok): “Marusenok thân yêu, em đã nói đúng hàng nghìn lần, thật không dễ mau rời khỏi Moskva. Anh kể thứ tự cho em mọi chuyện: em có lẽ không thể tưởng tượng được lời vu khống đó về anh đã lan truyền rộng tới đâu! Chỗ nào người ta cũng nói tới nó, cả trong lẫn ngoài làng văn, cả ở Moskva lẫn dưới tỉnh lẻ. Hôm qua đồng chí Stalin cũng hỏi chuyện này... Rồi họ còn đồn anh là Bạch vệ, là điệp viên...


Anh đã bị khủng bố, hành hạ một cách có bài bản. Kết quả là anh phải mất ăn, mất ngủ, chẳng làm được việc gì. Nhưng lòng anh vẫn hứng khởi và anh sẽ chiến đấu tới cùng.


Mấy tay thợ viết của nhóm “Kuznitsa” như Berezovsky, Nikiforov, Gladkov, Malyshkin, Sannikov... với tâm hồn hèn hạ của chúng đã tung đi tin đồn đó, thậm chí còn trắng trợn đăng đàn về việc này... Chúng thật khốn nạn và ngay cả tấm thẻ Đảng cũng không làm sạch nổi tâm hồn con buôn bẩn thỉu của chúng.


Nhưng rồi mọi chuyện sẽ đâu vào đấy. Ngày mai báo sẽ đăng lời bác bỏ những tin đồn đó”.


Số là một ủy ban đặc biệt đã được lập ra để nghiên cứu tiểu thuyết Sông Đông êm đềm và những truyện ngắn đầu tay của Solokhov. Và các chuyên gia đã kết luận: Tin đồn không có căn cứ, Solokhov rất thống nhất văn phong trong mọi tác phẩm của mình. Tuy nhiên, suốt 70 năm sau, những tin đồn đó vẫn tiếp tục được lan truyền, bọn vu cáo lợi dụng việc Solokhov đã đánh mất bản thảo ban đầu của Sông Đông êm đềm để nghi ngờ quyền tác giả của ông. Mãi cho tới năm 1999, mọi sự mới đâu vào đấy: Viện Văn học thế giới Nga ở Moskva đã tìm thấy tập bản thảo Sông Đông êm đềm đầu tiên với nét bút của Solokhov.


Sinh thời, khi người con trai hỏi ông về lý do khiến tập Sông Đông êm đềm bị vấp phải nhiều nhiêu khê đến thế thì Solokhov đã đáp ngắn gọn: “Sự đố kị không bao giờ biết tới ranh giới!”.


Đảng có “mắt xanh”


Dù trên cương vị chính trị gia có thể bị đánh giá theo những góc độ khác nhau, nhưng lãnh tụ Xô viết Yosif Stalin luôn được biết tới như một người có tâm và tầm trong các vấn đề văn hóa. Và ông đã ra tay giúp Solokhov trong giai đoạn khó khăn của nhà văn. Về sau, Solokhov kể:


“Tại tòa soạn tạp chí Tháng 10, người ta dừng in tập tiếp theo của Sông Đông êm đềm. Họ ngại những tin đồn. Làm gì bây giờ? Tôi cứ loạn cả lên, chẳng biết nhờ ai giúp... Đành phải mang bản thảo đến Maxim Gorky. Sau một thời gian có điện thoại: “Ngày kia sẽ tới gặp đồng chí Stalin. Đấy mới là người quyết định số phận của anh. Sẽ nói chuyện trong bữa ăn trưa”. Tôi rất sợ rằng đồng chí Y. Stalin không thích những nhân vật mà tôi cho là có lỗi trong việc chống culắc. Mà chính từ chuyện đó đã bắt đầu bộ tiểu thuyết.


Đúng hẹn, tôi tới nhà Gorky... Tất cả cùng ngồi. Gorky im lặng là chính, hút thuốc mù mịt... Stalin ra câu hỏi cho tôi: “Tại sao lại viết về viên tướng Kornilov mềm như vậy?”. Tôi trả lời, hình ảnh và hành động của viên tướng Kornilov được tôi miêu tả không nương tay, nhưng thực sự tôi đã dựng lên nhân vật này như một người đã được giáo dục bởi đạo đức danh dự và dũng cảm của một sĩ quan. Ông ta đã chạy khỏi trại tù binh. Ông ta đã yêu Tổ quốc... Stalin kêu lên: “Sao, thế là danh dự? Ông ta chống lại nhân dân! Một rừng giá treo cổ và một biển máu!”. Tôi phải nói rằng, lập luận này đã thuyết phục tôi. Về sau tôi đã điều chỉnh theo hướng đó”.


Solokhov kể tiếp: “Stalin ra câu hỏi mới: “Lấy ở đâu ra việc thái quá của Bộ Chính trị sông Đông của Đảng và Ủy ban Cách mạng?”. (Đây chính là chủ đề chống culắc). Tôi đáp, mọi việc đã được viết ra rất trung thực theo tài liệu lưu trữ. Nhưng các nhà làm sử đã tránh đi những sự việc này và đã kể chuyện Nội chiến không giống như sự thật cuộc đời... Cuối cuộc gặp, Stalin chậm rãi nói: “Một số người cho rằng bộ tiểu thuyết này sẽ làm vui những kẻ thù của chúng ta, bọn Bạch vệ đang sống lưu vong ở nước ngoài...”. Rồi ông hỏi tôi và Gorky: “Hai đồng chí nói gì về chuyện này?”. Gorky trả lời: “Bọn chúng thì ngay cả những cái tốt đẹp, hay ho nhất cũng có thể bóp méo đi mà chống lại chính quyền Xô viết”. Tôi cũng đáp: “Đối với bọn Bạch vệ thì ít có điều tốt trong tiểu thuyết này. Chẳng gì thì tôi cũng đã miêu tả sự thất bại hoàn toàn của chúng ở vùng sông Đông và Kuban”. Khi ấy, Stalin mới nói: “Đúng, tôi đồng ý. Việc miêu tả các sự kiện trong tập ba của Sông Đông êm đềm hữu ích cho chúng ta, cho cách mạng”. Rồi ông hứa là sách sẽ được in...


Stalin đã xử sự đúng như một người quân tử. Với kẻ thù, dù ta có làm gì thì bọn chúng cũng có thể “bới lông tìm vết”. Còn với những người có thiện chí, dù không hẳn đứng về phía ta, nếu ta có cách diễn giải tài hoa như Solokhov đã làm thì họ cuối cùng sẽ hiểu đúng ta. Việc Sông Đông êm đềm được trao giải thưởng Nobel về văn học năm 1965 há chẳng phải là minh chứng cho nhận xét này sao?!


Yêu nhau, yêu cả đường đi lối về


Stalin luôn trân trọng Solokhov, đến mức gần như “nuông” ông. Khi Solokhov giữ cương vị chủ đạo ở Hội Nhà văn Liên Xô, ông hay cùng bạn đồng nghiệp Alexandr Fadeyev  (tác giả của tiểu thuyết nổi tiếng Đội cận vệ trẻ) “chén anh, chén chú”. Thậm chí, có hôm được Stalin mời tới nói chuyện, Solokhov vẫn chưa hả hết mùi rượu. Những kẻ xấu bụng tưởng như thế thì Solokhov sẽ bị nhà lãnh đạo tối cao, vốn rất chỉn chu trong thủ tục hành chính, quở mắng. Thế nhưng, Y. Stalin đã có cách hành xử khác. Một lần, gặp Solokhov, Stalin cười cười hỏi:


- Thế nào, đồng chí nhà văn, một tuần đồng chí cùng đồng chí Fadeyev uống rượu mấy ngày?


Sholokhov không nói không rằng, chỉ cười trừ. Thấy vậy, Stalin bảo cô thư ký:


- Cô ghi lại đi! Quyết định của Bộ Chính trị. Mỗi tuần đồng chí Sholokhov và đồng chí Fadeyev chỉ uống rượu từ thứ hai tới thứ năm thôi, còn lại ngày thứ sáu phải làm việc! Đừng như bây giờ, bảy ngày rượu say cả bảy!


Nói đoạn, ông dứ dứ ngón tay về phía văn hào. Cả hai bật cười sảng khoái...


Một năm, vào đúng ngày sinh nhật của mình, Solokhov mời bạn bè thân thiết nhất tới một nhà hàng ở Moskva uống rượu. Bất thình lình, người phục vụ tới nói nhỏ với ông:


- Thưa ông, ông có điện thoại từ Điện Kremli!


Solokhov cầm lấy ống nghe. Từ đầu dây bên kia vang lên giọng nói đầy uy vũ:


- Thế nào, bạn mình có việc vui mà lại quên mình rồi hả?!


- Dạ, thưa... Tôi... - Solokhov định biện bạch.


- Không có tôi gì cả, tôi đang chờ anh đây. Cho tôi uống mừng sinh nhật anh với. Xe đang chờ ở ngoài cửa đấy!


Solokhov bước ra ngoài. Quả nhiên, một chiếc xe sang trọng đang chờ ngoài cửa. Hóa ra là, Stalin nghe ai đó nói tới lễ sinh nhật của Solokhov nên đã quyết định là kiểu gì thì ông cũng đích thân mừng thọ nhà văn lớn. Trọng kẻ sĩ không bao giờ là việc vô ích đối với các chính trị gia!


Đàng hoàng tới cùng


Năm 1984, Solokhov đang trong giai đoạn cuối của căn bệnh ung thư. Đang ở trong bệnh viện tốt nhất của Moskva, ông đã yêu cầu đưa ông về làng cũ. Một chuyến máy bay đặc biệt đã chở ông tới thôn Vioshki. Tại đấy, ông lại được sinh hoạt như chưa từng bị đau ốm gì. Sáng đọc báo, ban ngày ký đủ thứ giấy tờ của một đại biểu Xô viết tối cao… Rồi ông còn đọc cả sách nữa... Nhưng cũng có lúc căn bệnh ung thư lại trỗi dậy hành hạ ông. Tuy nhiên, ông không cho phép các bác sĩ tiêm thuốc moócphin giảm đau. Ông chỉ cần mỗi lúc căn bệnh hành hạ thì vợ ông tới đặt tay lên trán ông thôi - có cảm giác như mọi cơn đau đều biến mất.


Ông thù hận nỗi bất lực ngày càng xâm chiếm mình. Nhưng ông vẫn không ngừng hút thuốc. Và thỉnh thoảng ông lại sực nhớ tới một việc gì đó mà mình có nghĩa vụ phải làm. Lúc thì là lời hứa tặng cho thư viện một xóm nào đó cuốn Sông Đông êm đềm có kèm theo chữ ký. Lúc thì là thời hạn phải nộp Đảng phí. Lúc thì là chuyện in bộ tuyển tập mới các tác phẩm chọn lọc... Đêm 21-2-1984, ở ngay chính nhà mình, M. Solokhov đã trút hơi thở cuối cùng, trong căn phòng ngủ ở tầng hai. Đồng hồ lúc đó chỉ 4 giờ 40 phút. Ngoài cửa sổ, những cơn gió từ sông Đông thổi vô hồi vào cửa sổ…


Kiều Hương


antgct.cand.com.vn


 M. Solokhov- ánh sáng không bao giờ lụi tắt


Bằng cuộc đời mình và những sáng tác của mình, và sự gắn bó với mảnh đất quê hương, nhà văn Solokhov đã tự thân tỏa sáng, một thứ “ánh sáng không bao giờ lụi tắt”; và nhất là ông đã để lại cho đời sau những di sản văn học cực kì quí báu trong kho tàng văn hoá Nga nói riêng và kho tàng văn hóa nhân loại nói chung.


Trong tập “Chân dung các nhà văn Xô Viết hiện đại”, nhà phê bình văn học Nga Vaxili Vôrônốp đã gọi nhà văn Nga hiện đại Sholokhov là “Ánh sáng không bao giờ lụi tắt”. Vâng , Vaxili Vôrônốp đã từng cho rằng : “Đối với mỗi người viết- dù là người viết đã có danh tiếng, hay là người mới bắt đầu viết- những cuốn sách của M. Solokhov đều như một nguồn nước, từ đó anh múc lấy cả nguồn cảm hứng, cả sức lực, và thậm chí cả niềm khát vọng không kìm nổi được viết. Viết tốt hơn, viết hay hơn là anh đã viết, hơn là theo sức lực của anh. Mỗi trang Sông Đông êm đềm hay Đất vỡ hoang là một bài học, vì bất luận người nào trong chúng ta tìm đến bài học này đều là học trò-anh học trò mãi mãi, suốt đời mình …-say đắm ông thầy”…


 Sholokhov sinh ngày 24-5-1905 tại làng Krugilin, thị trấn Vesenskaia, tỉnh Rostov , trong một gia đình nông dân. Năm 15 tuổi, tham gia cách mạng, đấu tranh cho chính quyền Xô Viết. Năm 17 tuổi, từ chiến trường trở về, đến Moskva làm nhiều nghề kiếm sống, tập viết văn, tham gia nhóm văn học Cận vệ thanh niên. Từ năm 18 tuổi, bắt đầu công bố một số truyện ngắn và bút kí trên báo Sự thật thanh niên. Năm 19 tuổi, trở về quê nhà để sáng tác văn học trong cái nôi của quần chúng. Năm 21 tuổi, xuất bản hai tập truyện ngắn nổi tiếng “Những câu chuyện sông Đông” và “Thảo nguyên xanh”. Năm 23 tuổi, xuất bản tập đầu bộ tiểu thuyết sử thi đồ sộ Sông Đông êm đềm nổi tiếng thế giới. Nhưng phải tới năm 35 tuổi (1940), ông mới hoàn thành bộ tiểu thuyết trên. Và năm 1941, khi ông tròn 36 tuổi, ông đã nhận được giải thưởng Quốc gia cho tác phẩm này. Năm 27 tuổi, xuất bản tập đầu bộ tiểu thuyết Đất vỡ hoang, vì mất bản thảo trong chiến tranh, nên tập II phải viết lại công bố năm 1960, khi ông 55 tuổi. Cùng năm đó, tác phẩm của ông được tặng giải thưởng Lênin. Là nhà văn- đại biểu Xô viết tối cao Liên Xô và Xô viết đại biểu nhân dân tỉnh, ông đã có nhiều cuộc vi hành để chia sẻ những mối lo toan chung với cán bộ và nhân dân, đi sâu vào tất cả mọi chuyện nhỏ nhặt nhất. Mọi thứ đều gần gũi với trái tim Solokhov, cả trong những năm tháng gian nan, cả trong những ngày hạnh phúc mảnh đất Vesenxkaya đều đem lại sức lực cho nhà văn. Về sau, người ta thường gọi mảnh đất ấy là mảnh đất Solokhov, quan hệ thân thuộc máu thịt này đã chuyển quan hệ từ trang sách vào hiện thực. Cái thời thịnh trị nhất, các nông trường quốc doanh mang tên Solokhov, Sông Đông êm đềm…, đường phố mang tên Solokhov …Trong chiến tranh thế giới thứ II, người ta còn biết đến ông như là một phóng viên chiến trường. Những bài phóng sự, chính luận, truyện ngắn của ông đều phục vụ trực tiếp cho cuộc kháng chiến. Mà trong số đó, có các tác phẩm được chú ý như Khoa học căm thù; một số chương đầu của tiểu thuyết sử thi “Họ chiến đấu vì Tổ quốc” đăng trên báo Sự thật (1943-1944). Khi hoà bình, tác phẩm gây xôn xao dư luận là truyện Số phận con người, in năm 1956. Nhà văn là người lao động sáng tạo không mệt mỏi, có những cống hiến to lớn cho văn học Xô Viết. Năm 1967, ông được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động xã hội chủ nghĩa. Ông còn là một nhà hoạt động chính trị- xã hội nhiệt tình. Được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn Lâm khoa học Liên Xô (trước đây), đại biểu Xô Viết Tối cao Liên Xô, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô (cũ). Năm 1965, ông được nhận giải thưởng Nobel về văn học.


Khi ông vừa mới xuất hiện trên văn đàn, nhà văn Nga lão thành Seraphimôvits đã đánh giá ông “là con đại bàng non mỏ vàng bất chợt vẫy lên đôi cánh mênh mông”. Nhận định đó đã làm xao động cả văn đàn Xô Viết. Quả thực, đôi cánh của nhà văn đã bay lượn trên bầu trời sáng tạo, đóng góp quan trọng vào sự phát triển của truyền thống văn hoá Nga trong những điều kiện sống cay nghiệt của số phận dân tộc. Đọc các tác phẩm của ông, ta như thấy hiển hiện lên những sắc màu đời sống của nhân dân Nga, nhất là ở vùng nông thôn, vùng sông Đông qua những chặng đường lịch sử khó khăn. Còn đó “Những câu chuyện sông Đông”, “Thảo nguyên xanh”, mà tự thân nó là những lời ngợi ca con người và thiên nhiên vùng sông Đông trong cuộc đấu tranh giai cấp gay go, ác liệt thời nội chiến. Đặc biệt, Sông Đông êm đềm là một bức tranh vĩ đại về cuộc đấu tranh dữ dội, sự đổ vỡ đau đớn của thế giới cũ, sự sinh thành và lớn mạnh của thế giới mới trong khoảng thời gian từ 1912-1922, qua số phận đặc sắc Grigôri, giữa cảnh trí thiên nhiên của thảo nguyên sông Đông hùng vĩ đầy chất thơ. Còn Đất vỡ hoang là một cuộc đấu tranh gay gắt giữa con đường “ai thắng ai”, khẳng định sự chiến thắng của cách mạng xã hội chủ nghĩa ở nông thôn. Ngoài ra, những sáng tác trong chiến tranh của ông mang đậm chất sử thi anh hùng ca ca ngợi tinh thần chiến đấu và lao động quên mình của nhân dân Xô Viết. Tác phẩm đã làm rung chuyển văn đàn Xô Viết những năm 50-60 của thế kỷ 20 chính là tác phẩm “Số phận con người”. Tác phẩm đã bộc lộ tư tưởng nhân đạo sâu sắc của nhà văn về số phận con người có tính nhân loại ở thế kỷ này. Thông qua số phận nhân vật Solokhov, tác giả đã đặt ra một vấn đề mà tính thời sự của nó vượt cả thời gian, nhất là về khả năng của con người có thể chiến thắng mọi đau thương mất mát để vươn lên chiến thắng chính mình, chiến thắng hoàn cảnh, xây dựng lại cuộc đời tươi đẹp …


Bằng tất cả cuộc đời mình, tất cả những sáng tác của mình và sự gắn bó với mảnh đất quê hương, nhà văn Solokhov đã tự thân tỏa sáng, một thứ “ánh sáng không bao giờ lụi tắt”; và nhất là ông đã để lại cho đời sau những di sản văn học cực kì quí báu trong kho tàng văn hoá Nga nói riêng và kho tàng văn hóa nhân loại nói chung.


Nguyễn Viết Chính


vietnamcayda.com


 


Số phận một con người - của Solokhov


Gần một năm sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, mùa xuân năm 1946, trên đường đi công tác, tác giả gặp Xôcôlốp và anh đã kể cho tác giả nghe về cuộc đời vô cùng gian truân và đau khổ của mình. Chiến tranh bùng nổ, anh ra trận để lại quê nhà vợ và 3 con. Sau một năm chiến đấu, hai lần anh bị thương nhẹ vào tay và chân. Tiếp đó, anh bị bắt làm tù binh, bị đày đọa suốt 2 năm trời trong các trại tập trung của phát xít Đức. Lao dịch, nhục hình, đói rét, tử thần đêm ngày đe dọa. Năm 1944, giặc bị thua to trên mặt trận Xô-Đức, bọn phát xít bắt tù binh làm lái xe. Nhân cơ hội đó, Xôcôlốp đã bắt sống một tên trung tá Đức, lái xe chạy thoát về phía Hồng quân. Lúc này, anh mới biết tin về vợ và 2 con gái anh đã bị bom giặc giết hại. Anatôli, cậu con trai giỏi toán của anh nay đã trở thành đại uý pháo binh Hồng quân. Hai cha con cùng tham dự chiến dịch công phá Beclin, sào huyệt của Hitle. Đúng ngày 9/5/1945 ngày chiến thắng, một tên thiện xạ Đức đã bắn lén giết chết Anatôli, niềm hy vọng cuối cùng của anh.


Chiến tranh kết thúc, Xôcôlốp được giải ngũ, nhưng anh không trở về Vôrônegiơ quê hương nữa. Một đồng đội bị thương đã giải ngũ có lần mời anh về nhà chơi, Xôcôlốp nhớ ra và tìm đến Uriupinxcơ. Anh xin được làm lái xe chở hàng hóa về các huyện và chở lúa mì về thành phố. Mỗi lần đưa xe về thành phố anh lại tạt vào cửa hiệu giải khát uống một li rượu lử người. Anh đã gặp bé Vania đầu tóc rối bù, áo quần rách bươm xơ mướp nhưng cặp mắt như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm. Nó ăn ngay ở hiệu giải khát, ai cho gì thì ăn nấy. Bạ đâu ngủ đó. Xôcôlốp xúc động quyết định: "Mình sẽ nhận nó làm con nuôi!" Xôcôlốp nói với bé Vania: "Là bố của con" khi nó nghẹn ngào hỏi: "Thế chú là ai?" Đưa Vania về nhà vợ chồng người bạn, Xôcôlốp tắm rửa; cắt tóc, sắm áo quần cho bé. Nhìn nó ăn xúp bắp cải, vợ người bạn lấy tạp dề che mặt khóc. Lần đầu tiên sau chiến tranh, Xôcôlốp được ngủ một giấc yên lành. Còn bé Vania rúc vào nách bố nuôi như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ. Ngày và đêm, bé Vania không chịu rời Xôcôlốp. Một chuyện rủi ro xẩy đến, Xôcôlốp bị người ta tước mất bằng lái xe. Mất việc, anh đưa bé Vania đi bộ đến Kasarư sống. Nhìn 2 bố con đi xa dần với một nỗi buồn thấm thía, chợt đứa bé quay lại nhìn nhà văn, vẫy vẫy bàn tay bé xíu hồng hồng. Như có móng sắc nhọn bóp lấy tim mình, tác giả vội quay mặt đi...


Ý nghĩa


Tác phẩm là lời tự sự của nhân vật trung tâm - anh lính hồng quân Xôcôlôp, người đàn ông đã chịu bao giông tố khắc nghiệt của cuộc đời đổ ập lên số phận. Đó là cuộc đời gắn liền với một trang sử bi tráng hào hùng của nhân dân Nga, với chế độ Xô-viết đã tạo thành phẩm chất của những con người Nga kiên cường.


M.Sôlôkhôp đã dựng lên chân dung một con người Nga bình thường nhất, một người xô viết chân chính. Số phận ấy tiêu biểu cho bao người con ưu tú đã viết nên trang sử thời đại hào hùng của đất nước Liên Xô cũ.


Cuộc sống hiện lên trần trụi như nó vốn có - không khoa trương hào nhoáng, không bi kịch hoá mà cứ đều đều như giọng kể của người đàn ông Nga có cái họ bình thường như bao người Nga: Xôcôlôp. Nhưng trong số phận anh có sức nặng của nỗi đau dân tộc Nga qua các thời kỳ khốc liệt nhất. Không tránh né sự thật - đó là phẩm chất hàng đầu của các cây bút Nga - xô viết mà M. Sôlôkhôp chính là một tấm gương. Sự thật đó không phải được kể bằng giọng lạnh lùng thản nhiên mà còn hằn nguyên nỗi đau trong giọng văn thấm thía, trong những ám ảnh kí ức hằn sâu trong tâm trí của người cựu binh xô viết - chính là phản chiếu một mảng hiện thực rộng lớn và xuyên suốt các chặng đường của nhân dân Nga.


Trước hết là kí ức những ngày nội chiến, khi chính quyền xô viết non trẻ phải đối mặt với lũ bạch vệ, thổ phỉ và can thiệp. Người đọc có thể nhận ra những dấu ấn quen thuộc làm nên tên tuổi của M.Sôlôkhôp trong Sông Đông êm đềm. Nạn đói, cuộc sống cùng cực không quật ngã nổi ý chí của người dân xô viết. Xôcôlôp từng trải qua cuộc đời làm thuê, từng chứng kiến gia đình gục chết trong cái đói, nhưng chính sự tàn khốc ấy là một sự lý giải vì sao anh trở thành chiến sĩ hồng quân, vì sao anh lại có một hạnh phúc từ đau thương bất hạnh. Đó là hạnh phúc của những người nghèo khổ được xây lên từ bất hạnh để họ khẳng định tư thế làm chủ cuộc đời.


Có lẽ kí ức nhân loại mãi mãi không phai mờ bao ám ảnh khủng khiếp của Chiến tranh thế giới lần thứ II. Nhưng nhà văn không theo cách thông thường để ca ngợi vào những đóng góp xương máu của hơn hai mươi triệu người xô viết làm nên thắng lợi của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. bi kịch chiến tranh hiện hữu ngay trong từng số phận, từng gia đình. Sức hủy diệt của nó khiến cho Xôcôlôp mất vợ và hai con; bé Vania mồ côi cả cha lẫn mẹ. Mất mát là điều không tránh khỏi nhưng với người trong cuộc còn kinh khủng hơn rất nhiều, khi sức ám ảnh của nó vẫn trở về trong những giấc ngủ nặng nề, để Xôcôlôp mỗi lần tỉnh giấc lại đầm đìa nước mắt. Nhưng vào thời điểm đối mặt quyết liệt với kẻ thù, nước mắt không thể rơi! Chỉ có thể là ánh mắt rực lửa căm hờn và khinh bỉ với kẻ thù, với những tên phản bội. Anh đã sống đúng với tư cách người lính ngay cả khi "chiến bại", bị bắt làm tù binh. Cảm hứng về cuộc chiến tranh của M.Sôlôkhôp có phần gần gũi với Alêcxây Tônxtôi với "Tính cách Nga", với "Người xô viết chúng tôi"... Nhưng người đọc hiểu đó chính là lúc con người đang chiến đấu vì danh dự dân tộc, vì những niềm hy vọng không tắt về tương lai. Xôcôlôp đã là người chiến thắng, ngẩng cao đầu trong trại tập trung của kẻ thù, mưu trí dũng cảm trở về đội ngũ, chiến đấu bằng tất cả lòng căm thù sục sôi với kẻ đã hủy hoại hạnh phúc gia đình, và cả "niềm hy vọng cuối cùng" - người con trai đã thành đại úy pháo binh Anđrây Xôcôlôp. Trớ trêu thay, vào ngày cờ đỏ thắm trên nóc nhà Quốc hội Đức , anh đã phải tiễn đưa con mình. Dẫu biết sự hy sinh ấy là anh hùng, là cần thiết, nhưng quả thật đó là một cú đập phũ phàng của định mệnh khiến bất cứ ai yếu lòng cũng có thể quị ngã. Có lẽ đó cũng là những trang viết gợi nhắc cho chúng ta nhiều nhất về ý nghĩa tàn khốc của chiến tranh, vinh quang và cay đắng, hạnh phú và bất hạnh, niềm vui chung và nỗi đau riêng để từ đó suy ngẫm và hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của từ "hy sinh".


Thế nhưng tuyệt nhiên ta không nhận thấy tâm trạng của những con người - nhân dân Nga trở về sau chiến tranh lại nặng nề bi thảm như của "thế hệ vứt đi" trở về sau Đại chiến I ở Mỹ hay châu Âu. Bởi lẽ hy sinh sẽ là vô ích nếu như sự sống sẽ tê liệt sau bao mất mát. Bởi thế, Xôcôlôp đã sống, làm việc như bao người lính xô viết trở về sau chiến trận. Nỗi đau lắng vào trong và chỉ thật sự hiện hữu khi Xôcôlôp tìm quên trong men rượu. Áp lực đời thường và hậu quả chiến tranh quá nặng nề tưởng chừng có thể làm cho con người gục ngã. Sự tình cờ, ngỡ như ngẫu nhiên mà tất yếu đã gắn chặt cuộc đời Xôcôlôp với bé Vania. Chú bé Vania - đôi mắt đen lay láy, cuộc sống vất vưởng là một hình tượng nghệ thuật có thể làm mềm những trái tim sắt đá nhất. Chú bé chính là hiện thân của thế hệ tương lai nước Nga, là vẻ đẹp của sự thơ ngây thánh thiện cần phải chở che, bảo bọc. Cuộc gặp gỡ của hai con người ấy là tất yếu. Không chỉ cảm động vì khoảnh khắc thì thầm của Xôcôlôp với bé Vania: "Ta là bố của con", lúc nhận bố con cũng là lúc người đọc chứng kiến sự trở lại của những giọt nước mắt ở con người tưởng như trái tim đã khô héo vì đau khổ. Nước mắt - hạnh phúc và xót xa cứ đan quyện vào nhau, thấm vào lòng tất cả mọi người.


Ngỡ rằng hạnh phúc đã thật sự trở lại, ngỡ rằng từ đây đầy ắp tiếng cười và những tiếng ríu rít như chim của bé Vania, nhưng kí ức vẫn hiện về đấy ám ảnh. Người đọc phải chứng kiến những lời nói dối - nhưng lạ thay đó lại là lời đẹp hơn trăm lần sự thật. Bởi sự đồng cảm số phận và tình thương yêu đã gắn chặt cuộc đời hai bố con - một người đang cần nén chặt nỗi đau quá khứ và một người cần được bảo đảm tương lai tốt đẹp. Vậy mà định mệnh lại trêu cợt để cho bố con Xôcôlôp lại tiếp tục hành trình giữa đời thường với bao thử thách đón chờ phía trước.


Số phận con người là câu chuyện kể chân thực về một con người bình thường. Nhưng cuộc sống bao dồn đẩy sóng gió đã tôi luyện cho anh một phẩm chất kiên cường, một tình thương yêu bao la. Gương mặt người đàn ông ấy đã sắt lại vì đau khổ, nhưng trái tim tổn thương ấy vẫn đập những nhịp thương yêu nồng nàn với con người. Nhà văn đã lên tiếng thay nhân vật ở cuối tác phẩm, bằng tất cả niềm xúc động sâu xa và lòng cảm phục vô hạn trước nhân cách một Con Người chân chính. Bức thông điệp của nhà văn giúp ta nhận ra rõ hơn chân dung của nhân dân Nga, vẻ đẹp của tâm hồn Nga và sức mạnh của con người vượt lên bao bi kịch bất hạnh. Đó là sự khẳng định tuyệt đối của nhà văn thể hiện niềm tin tưởng vào Con người Nhân dân và tương lai của đất nước. Nỗi buồn kết lại tác phẩm lại khiến ta nhận ra tầm vóc vĩ đại của đất nước và con người Nga xô viết quả cảm, kiên cường, nhân hậu ./.


Cảm nhận


Hêminguây (1899-1960) văn hào Mỹ, được giải thưởng Nôbel về văn chương năm 1954 đã từng viết: "Tôi rất thích văn học Nga... Trong các nhà văn hiện đại tôi thích Sôlôkhốp". Là nhà văn Xô Viết được giải thưởng Nobel về văn học năm 1965, Sôlôkhốp được ca ngợi là "một trong những nhà văn xuôi lớn nhất thế kỷ 20".


"Đất vỡ hoang", "Sông Đông êm đềm",... và "Số phận con người" đã đem đến vinh quang cho Sôlôkhốp. Truyện "Số phận con người" xuất hiện trên báo "Sự thật" vào cuối năm 1956. Hình ảnh nhà văn Xôcôlốp để lại trong lòng ta bao ám ảnh về số phận con người đầy bất hạnh thương đau. Qua số phận nhân vật này, ta cảm nhận sâu sắc nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó; biểu dương khí phách anh hùng của người lính Xô viết, khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị, nhân ái - được thể hiện bằng một bút phát nghệ thuật điêu luyện, độc đáo của nhà văn Sôlôkhốp.


Đọc "Số phận con người" ta vô cùng xúc động trước trang đời đầy nước mắt và máu của nhân vật Xôcôlốp. Năm 1941, phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Cùng với hàng triệu người Xô viết cầm vũ khí đứng lên, Xôcôlốp ra trận. Anh nếm trải những gian truận, thất bại buổi đầu của Liên Xô. Hai lần bị thương vào chân và tay. Rồi anh bị giặc bắt, bị đày đọa suốt hai năm trong nhiều trại tập trung. Sống bằng xúp lõng bõng, bánh mì lẫn mạt cưa. Áo quần xơ xác, lao động khổ sai, người tù ra bọc xương. Hàng trăm tù binh bỏ mạng. Tù binh Nga bị bọn phát xít đánh bằng thanh sắt, thanh gỗ, thanh củi, đánh bằng báng súng, đấm bằng tay, đạp bằng chân vô cùng dã man. Bọn chỉ huy trại đấm vào mặt, vào mũi tù binh cho hộc máu ra; chúng gọi đó là trò "phòng bệnh cúm". Chúng "sáng tạo" ra mọi cách cực kỳ man rợ để đánh đập bắn giết tù binh. Đêm và ngày, lúc lao động khổ sai và lúc bị nhốt sau hàng rào dây thép gai, Xôcôlốp cũng như các tù binh khác bị cái chết bủa vây, bị tử thần rình rập.


Sau 5 năm chiến tranh, hơn 20 triệu người Xô viết bị chết, hàng ngàn thành phố, hàng vạn làng mạc bị bom đạn phát xít biến thành tro tàn. Gia đình Xôcôlốp gánh chịu bao mất mát đau thương. Vợ và 2 con gái bị giặc ném bom giết hại. Con trai - đại uý pháo binh Anatôli, niềm tự hào cuối cũng đã ngã xuống trong ngày chiến thắng bởi viên đạn bắn lén của một tên thiện xạ phát xít! Thế là hết! Nỗi đau khủng khiếp làm cho Xôcôlốp "như người mất hồn". Chiến tranh kết thúc, được giải ngũ nhưng anh không muốn về lại Vôrônegiơ quê hương vì đâu còn gia đình nữa. Bé Vania cũng là hiện thân cho thảm họa chiến tranh. Cha "chết ở mặt trận". "Mẹ bị bom chết trên tàu hỏa khi mẹ con cháu đang đi tàu". Bé cũng không biết, không nhớ từ đâu đến. Bà con thân thuộc "không có ai cả". Và chỉ biết "bạ đau ngủ đó", "ai cho gì thì ăn nấy!" Áo quần em "rách bươm xơ mướp", "đầu tóc rối bù"; "mặt mũi thì bê bết nước dưa hấu, lem luốc bụi bặm, bẩn như ma lem"...


Hình ảnh bé Vania cũng như cuộc đời Xôcôlốp được tác giả miêu tả một cách chân thật cảm động thể hiện nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó. Cái giá của chiến thắng mà mọi dân tộc cũng như nhân dân Liên Xô trong thế chiến 2 phải trả là cực kỳ khủng khiếp. Chỉ còn lại một phần ba số binh sĩ ra trận trở về, trong số đó, nhiều người trên mình mang đầy thương tật. Sức khỏe sa sút, cạn kiệt. Chiến tranh đã đi qua, nhưng một năm sau Xôcôlốp cảm thấy quả tim mình, "đã rệu rã lắm rồi", nhiều khi "tự nhiên nó nhói lên, thắt lại, và giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi". Nhưng cái đau khổ nhất do bão tố chiến tranh đem đến cho con người không chỉ là mất mát, tang thương, điêu tàn... mà còn là những vết thương lòng rỉ máu, những ám ảnh kinh hoàng còn mãi trong ký ức, cứ xiết chặt lấy tâm hồn người lính thời hậu chiến. Bé Vania vốn hoạt bát có lúc lại "lặng thinh, tư lự" có lúc lại "thở dài". Cái áo bành tô da của bố ngày nào cứ riết lấy tâm hồn của em như một ám ảnh không nguôi! Còn Xôcôlốp thì nỗi đau như vô tận "không ở lâu mãi một chỗ được", nỗi buồn không bao giờ nguôi, "hai bố con cứ cuốc bộ khắp nước Nga"... Hầu như đêm nào anh cũng chiêm bao thấy những người thân bị giặc giết "gặp lại vợ con sau hàng rào dây thép gai"..., "ban ngày trấn tĩnh được, không hở ta một tiếng thở dài, một lời than vãn nhưng ban đêm thì gối ướt đầm nước mắt...". Xôcôlốp và bé Vania trở thành "côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ..."


Nhân vật Xôcôlốp là một con người Nga chân chính, tiêu biểu cho khí phách anh hùng của người lính Xô viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Vốn là một nông dân rồi làm thợ, một lái xe. Một gia đình ổn định, êm ấm: một vợ và ba con. Anh đã ra trận như hàng triệu công dân với ý thức "Tổ quốc hay là chết!" Hai lần bị thương vào chân và tay; vết thương lành, anh lại cầm súng đánh giặc rồi bị bắt làm tù binh. Lao động khổ sai trong mưa, nắng, tuyết; bị đánh bằng báng súng, bằng thanh sắt, bằng gộc. Áo quần tả tơi, bánh mì lẫn mạt cưa, lưng bát xúp lõng bõng. Anh đã đứng vững trước mọi thử thách ác liệt. Kiên quyết trừ khử tên phản bội đốn mạt! Hiên ngang trước mũi súng tên hung thần Muynle, chỉ huy trại tập trung. Với đôi mắt bình thản, anh nhìn thẳng vào họng súng lục tên phát xít. Tự kìm chế sự đói khát khi đứng trước bàn tiệc của lũ giặc. Đàng hoàng uống rượu, không chỉ uống một cốc mà còn uống nữa để mừng cái chết của mình, khiến kẻ thù kinh ngạc, khâm phục thốt lên: "Mày là một thằng lính Nga chân chính. Tao cũng là lính và tao trọng những địch thủ có khí tiết. Tao sẽ không bắn mày nữa".


Tầm vóc của Xôcôlốp, của người lính Nga trong máu lửa được miêu tả một cách chân thực, hào hùng làm cho truyện "Số phận con người" mang vẻ đẹp một "tiểu anh hùng ca".


Qua nhân vật Xôlôlốp, tác giả đã khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị và nhân ái. Sau chiến tranh anh vẫn nhớ hoài cái giây phút từ biệt vợ con để ra trận, anh đẩy Irina ra khi chị cứ níu lấy anh, không thả... Bình dị trước biến cố trọng đại khi lịch sử đưa số phận anh lên "điểm tựa" thử thách! Lửa chiến tranh đã tắt hơn một năm rồi, mà lòng Xôcôlốp mãi không nguôi đau. Anh đã tìm đến rượu, "uống một ly rượu lử người", anh đã "quá say mê cái món nguy hại ấy!"


Đang sống âm thầm trong bị kịch, anh tưởng không có lối thoát. Nhưng rồi tình cảm người cha, - tình thương đồng loại đã thức dậy, làm cho vết thương lòng rỉ máu bấy nay, như được mọc lên một lớp da non. Gặp bé Vania "đầu tóc rối bù", "rách bươm xơ mướp", sống bơ vơ nơi hiệu giải khát, bạ đâu ngủ đó... ai cho gì thì ăn mấy", nhất là khi nhìn thấy cặp mắt của em "như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm", Xôcôlốp thấy "thích nó" và "nhớ nó", cố cho xe chạy nhanh để được về "gặp nó". Anh đã quyết định: "Không thể để cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con!" Một quyết định đầy nhân ái. Anh đã cứu bé Vania, và anh đã tự cứu mình! Như có một phép thần biến cải: "Ngay lúc đó tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhõm và bừng sáng lên!" Câu nói khẽ của Xôcôlốp: "Là bố của con" khi nghe bé Vania nghẹn ngào hỏi: "Thế chú là ai?" tưởng là bình dị nhưng đầy nước mắt, chứa đựng cả một biển tình thương mênh mông! Trước những cái hôn vào má, vào môi, vào trán, trước những cử chỉ "yêu thương bố..." của bé Vania Xôcôlốp vô cùng xúc động: "Mắt tôi thì mờ đi, cả người cũng run lên, hai bàn tay lẩy bẩy..."


Xôcôlốp đã nhận bé Vania làm con. Anh đã tắm rửa, đưa bé đi cắt tóc, may áo quần mới, săn sóc em. Hai linh hồn đau khổ tựa vào nhau làm cho nỗi mất mát, đau thương sau chiến tranh được dịu lại. Giấc ngủ được yên lành hơn: "Lần đầu tiên, sau nhiều năm tôi được ngủ một giấc yên lành. Còn bé Vania thì rúc vào nách bố nuôi "như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ..." Hạnh phúc là san sẻ. Xôcôlốp lòng vui không lời nào tả xiết, đêm đêm thức dậy đánh diêm ngắm nhìn bé Vania ngủ ngon lành. Đời anh đã có một sự đổi thay kì diệu: "Trái tim đã suy kiệt, đã bị chai sạn vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn. Vết thương lòng đâu dễ nguôi? Vì thế mà Xôcôlốp phải cõng đứa con nuôi bé bỏng đi khắp nước Nga. Chỉ đến một lúc nào đó, bé Vania lớn lên vào học một trường ổn định thì Xôcôlốp "mới có thể ở yên một chỗ". Anh đang chịu đựng và vượt qua số phận bằng tình thương của người bố đối với đứa con.


Cuộc gặp bất chợt với "hai con người côi cút" và câu chuyện đau lòng của họ đã để lại trong lòng tác giả bao nỗi buồn thấm thía, nhưng ông vẫn tin vào dũng khí và lòng nhân ái của người Nga, vẫn tin vào tương lai, cho dù bão tố chiến tranh có thổi bạt họ tới những miền xa lạ. "Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu với mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường, nếu như Tổ quốc kêu gọi".


Truyện "Số phận con người" có kết cấu "truyện lồng trong truyện" đã tô đậm những đau khổ, những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Xôcôlốp, khắc họa đậm nét tính cách và tâm hồn Nga, đem đến cho người đọc nhiều xúc động thấm thía về số phận con người trong chiến tranh và thời hậu chiến.


Với những chi tiết, tình tiết rất sống, rất điển hình và chân thực, tác giả đã mô tả mặt thật của chiến tranh , ca ngợi người lao động bình thường trong cuộc đời, anh binh nhì trong máu lửa, người cha trong cuộc sống phức tạp, nhiều khó khăn thời kỳ sau chiến tranh. Qua nhân vật Xôcôlốp, người đọc cảm nhận được những ý tưởng sâu sắc mà Sôlôkhốp gửi gắm qua kiệt tác này: Với lòng dũng cảm mà con người vượt qua những thử thách chiến tranh; với lòng nhân ái có thể làm dịu bớt nỗi đau mà chiến tranh gieo rắc, để lại. Đoạn trữ tình ngoại đề làm cho cảm hứng nhân đạo thêm lung linh chói sáng.


Tư liệu

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Khi tờ báo gia đình đối đầu các ông lớn - James Warren 25.04.2017
Tranh cãi về 'tượng Đức Ông' ở đền Quán Thánh - Tư liệu 24.04.2017
Ngáo đá, lộ hàng, chảnh chó... sáng tạo hay méo mó tiếng Việt? - Vũ Viết Tuân 23.04.2017
Về thị trường sách và việc xuất bản - Hà Thủy Nguyên 18.04.2017
Cảm nhận của một bạn trẻ Ba Lan lần đầu đến Sài Gòn - Szymon Siudak 14.04.2017
Hậu 60 năm Hội Nhà văn VN: Nhật Tuấn, con sói già đơn độc - Nguyễn Văn Thọ 09.04.2017
Khiêm tốn một Nguyễn Hải Tùng, sống và viết - Nguyễn Thanh 08.04.2017
Quyển sách trên mộ ba tôi - Trịnh Bích Ngân 08.04.2017
Nhân kỷ niệm 5 năm ngày mất của nhà báo - Nghệ sỹ Nguyễn Hải Tùng (Út Nghệ) - Nhiều tác giả 07.04.2017
Nhớ ngày xuân gặp nhà văn Xuân Thiều - Nguyễn Hữu Sơn 05.04.2017
xem thêm »