tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20019824
02.06.2013
Vũ Bằng
Những cây cười tiền chiến (1)

I. SAU LỚP TÚ XƯƠNG, YÊN ĐỔ, CÁC CỤ PHẠM DUY TỐN, DƯƠNG BÁ TRẠC, HÌ ĐÌNH, HOÀNG TĂNG BÍ CƯỜI RA SAO?


Để rồi xem ông Vũ Đình Long, chủ nhà xuất bản Tân Dân suy nghiệm có đúng không. Tôi nhớ rõ ràng có một hôm, ông đã nói: “Làm cái nghề xuất bản, chỉ chuyên chú vào văn nghệ, không được, mà cần nhắm luôn cả về phía thương mại nữa. Theo ý ông, nói về thương mại là nói tới trào lưu. Mà, theo ông, sách xuất bản mà theo đúng trào lưu thì chạy - đã đành là trong cái nghĩa “theo đúng trào lưu” ấy, người làm kỹ nghệ sách luôn luôn phải lưu ý tới sự ích lợi cho nhân dân, phục vụ quyền lợi của dân tộc.


Người ta nghiệm rằng, sau mỗi thời kỳ chiến tranh, người đọc sách vì mệt mỏi, vì đau khổ nhiều, không mấy thích thú những cái gì khô khan quá, khó hiểu quá, hay đòi hỏi sự suy nghĩ quá nhiều. Nhưng chính trong thời chiến tranh thì người dân cũng hiểu, tìm đọc, để mong đem sử dụng cái học cái biết của mình vào thời hậu chiến. Có lẽ vì thế, trong thời Pháp chân trong chân ngoài ở Đông Dương, Nhật tới rồi Đồng minh tiến đánh, ở Bắc Việt những báo như Thanh Nghị, Tri Tân bàn luận trang nghiêm, chịu khó tìm tòi sưu khảo được nhiều người ưa đọc.


Nhưng trước đó, sau Thế chiến thứ nhất, tức là vào khoảng từ 1920 đến 1930, người dân lại cảm thấy mệt mỏi, không ưa đọc sách nặng nề mà lại đi tìm những tác phẩm nhẹ vui, để giải trí. Đó là phong trào sách vui của nhà Tân Dân, Tiểu Thuyết Thứ Năm, Tiểu Thuyết Thứ Bảy, v.v… đọc tiêu khiển, không đòi hỏi sự suy nghĩ quá nhiều. Mà đó cũng là thời kỳ mà người dân chán nản không muốn nhìn gì hết, nghe gì hết, suy tư gì hết. Người ta đọc truyện tình, truyện cười, truyện kiếm hiệp, truyện vớ vẩn để “thoát ly”.


Tôi không biết tâm trạng người dân mình hiện nay ra sao, nhưng cứ trông vào ngành xuất bản ai cũng phải nhận rằng, ít lâu nay chúng ta cũng đang ở vào một tình trạng na ná thế.


Trong khi các sách nghiêm trang, đứng đắn đưa lý thuyết này ra, chủ thuyết kia ra thì các sách tiểu thuyết, so về lượng vẫn nhiều hơn, và nếu để ý hơn một chút thì các sách nói về tướng số, bói bài cũng bán chạy tay hơn, nhất là các sách giải trí, các sách cười, các sách tiếu lâm, kêu là “các sách cấm đàn bà trẻ con đọc”, cũng nhiều hơn và được ưa chuộng hơn - vì có cuốn quảng cáo đã in tới lần thứ tư, thứ năm, thứ sáu… Đồng thời, các báo nghiêm trang, đứng đắn hầu hết đều ế ẩm, nhưng trái lại các báo và tạp chí vui cười, trào phúng, hoạt kê lại chạy. Bây giờ mới chỉ có ba bốn tờ, nhưng theo chỗ biết của chúng tôi thì trong một thời gian ngắn còn vài tờ báo nữa vào loại ấy cũng rục rịch ra đời.


Tóm lại, ta thấy gì? Ta thấy là người dân bắt đầu chán những cái gì đứng đắn mà lại thích chửi bới, xói móc, cười cợt, vui đùa, giải trí. Đây không phải là chỗ để suy nghĩ xem đó là một điềm hay hay dở. Nhưng chúng tôi thấy là một dịp để cho chúng ta nhận thức rằng không phải chỉ có văn chương nghiêm trang đứng đắn mới phục vụ được đất nước, nhưng chính văn chương hài hước, khi cần, cũng có một tác dụng không kém phần hữu ích. Do đó, chúng ta không thể cho văn chương hài hước là phiếm, mà chỉ có văn chương nghiêm nghị mới là quan trọng. Đã là văn chương thì bất cứ dưới hình thức nào sử dụng đúng thời, đúng phương pháp thì vẫn có ích như thường. Một lời nói của người xưa xua đuổi được ba quân, thì một câu giễu cợt có khi cũng sửa đổi được phong hóa - điều đó ai cũng biết.


CƯỜI CỢT ĐỂ SỬA ĐỔI PHONG HÓA


Có lẽ người nào đó đã lầm khi cho rằng cười cợt là khí giới của kẻ yếu. Nhìn vào lịch sử của tiếng cười trên thế giới, người ta thấy rằng không phải chỉ có kẻ yếu mới cười! Chính những người gan dạ nhất đã cười khi đã dám đứng ra dùng tiếng cười để giễu một bạo chúa, một hôn quân hay một đệ nhất phu nhân tàn ác. Chính vì nghĩ như thế cho nên hôm nay chúng tôi đưa ra đây một vấn đề: Tại sao từ trước đến nay, ta chỉ nói đến những văn nhân thi sĩ “đạo mạo, trang nghiêm”, mà không bao giờ đặt lên bàn thờ văn nghệ để sưu khảo, tìm tòi học hỏi về các nhà văn trào phúng, các nhà văn cười, các nhà văn hài hước?


Thực ra, đặt một vấn đề như thế có vẻ bao quát quá. Chúng tôi sẽ có dịp nói về ý nghĩa cái cười, ích lợi cái cười, và bộ loại cái cười của một số nước trên thế giới trong một tác phẩm mới, hy vọng đầy đủ hơn. Ở đây, trong phạm vi một hồi ký, chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu và học hỏi về cái cười trong văn chương Việt Nam, trong một phạm vi nhỏ hẹp - nghĩa là trong văn chương tiền chiến. Ở nước ta, nhà văn nào là người đầu tiên đã đem cái cười vào văn chương? Người nào đã biết sức mạnh và giá trị của tiếng cười? Người nào đã biết lấy tiếng cười để chế giễu, bài bác sự xấu xa dơ dáy trong xã hội?


Trở về thời trước, ta đã biết có những nhà văn, nhà thơ cười những tiếng giết người, như nghè Tân, Cao Bá Quát, Ba Giai, Yên Đổ, Tú Xương… làm nên những bài thơ, bài phú, những câu đối, những ca trù làm cho người bị giễu căm gan tím ruột… Nhưng cận đại có những ai?


Sau Yên Đổ, Tú Xương, Ba Giai, nghè Tân…, làng văn hài hước của ta vẫn đều đều sản xuất được nhiều tài hoa, nhưng tiếc một nỗi là đa số tác phẩm đều khuyết danh như những bài thơ Bách thú, Lên đồng… Mãi đến thời Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, riêng tôi, mới thấy có một cây cười thời đại xuất hiện, nói ra bây giờ có lẽ nhiều bạn không ngờ, và có nhiều cụ cho rằng nói ra không lợi ích cho ai, nhưng vì vấn đề văn học, tôi tự thấy phải nói ra, mà các nhà văn trào phúng, các ký giả chuyên về hài hước có lẽ cũng nên biết, vì chúng ta không thể không biết đến một bực đàn anh đã dẹp đường dọn lối cho ta đi bây giờ, một “lão tổ” đã sớm biết giá trị của tiếng cười và đem tiếng cười ra làm vui thiên hạ, ngay từ hồi 1915, 1918… Người đó là ai? Theo chỗ biết của tôi, cây cười số một cận đại đó chính là cụ Thọ An.


THỌ AN LÀ AI? LIÊN HỆ GÌ VỚI
PHẠM DUY KHIÊM, PHẠM DUY CẨN, PHẠM DUY NHƯỢNG?


Tôi biết sơ sơ thạc sĩ Phạm Duy Khiêm lúc tôi làm Trung Bắc Chủ Nhật, nhưng Phạm Duy Cẩn, tức nhạc sĩ Phạm Duy, và anh Phạm Duy Nhượng đối với tôi là chỗ thân tình. Nhưng cho đến lúc anh Nhượng quá cố, và đối với Phạm Duy Khiêm cũng như Phạm Duy Cẩn, cho đến giờ phút này tôi chưa hề nói về cụ Thọ An nên không hiểu các anh Khiêm và Cẩn có biết gì hơn không. Riêng tôi thì biết cụ Thọ An không ai khác hơn là cụ Phạm Duy Tốn, một nhà văn nổi tiếng về một truyện đăng ở Nam Phong nhan đề Sống chết mặc bay và một bài văn phúng thế nhan đề là May cho ta!… đăng ở Đông Dương Tạp Chí. Như các bạn đã biết, truyện Sống chết mặc bay viết theo một lối văn hiện thực rất mới, chửi bọn quan lại hạch sách dân đen, đi coi đê, nhưng sống chết mặc bay, cứ lo ngồi đánh tài bàn tổ tôm, thỉnh thoảng lại bắt lính châm điếu thuốc hút, thậm chí đến lúc đê vỡ rồi, vẫn không biết, cứ đánh bài và cứ kêu “Điếu, mày!”. Còn bài May cho ta!... thì viết theo lối “Phim hàng ngày” của các nhật báo bây giờ, ca tụng xỏ người Pháp văn minh chỉ ăn bánh mì thôi, chớ khi mà người Nhật người Tàu đến bảo hộ dân mình, cũng ăn gạo như mình thì cả nước mình chết đói!


Ngoài hai bài đó ra, Phạm Duy Tốn còn viết nhiều bài khác, đăng trên các báo miền Nam ký bút hiệu khác, nhưng tôi cũng như phần đông người mình lúc bấy giờ, chỉ biết Phạm Duy Tốn qua hai bài ấy, chứ không mấy ai biết rằng người đầu tiên có sáng kiến gom góp các chuyện cười “đặc biệt Việt Nam” để giải trí cho người ta và làm tài liệu cho ngoại quốc biết cái cười của người Việt ra sao chính là Phạm Duy Tốn. Sự việc này, có những bực lão thành năm nay bảy tám mươi, cũng không biết tới, dù rằng người nào - nhất là ở Bắc - cũng đã một vài lần đọc ba tập Tiếu lâm quảng ký mà tên tác giả là Thọ An.


Đọc “Tiếu lâm” hồi ấy, nhiều bậc đạo đức phải giấu giếm vì bị coi là tục tĩu, nhưng thực ra thì hầu hết đều đọc, vì ai cũng nhận rằng “cười là cái riêng biệt của con người”(1), “cái cười chân thật, cởi mở hồn nhiên có sức quyến rũ và bồi bổ nguyên khí”(1) và “cười không những là một phép chữa bệnh rất thần hiệu, mà còn làm cho người ta trẻ lại”(2).


Nhưng cụ Thọ An Phạm Duy Tốn giấu cái bí danh ấy đến cùng, không cho ai biết Thọ An tác giả ba tập Tiếu lâm quảng ký là cụ, có lẽ vì lúc ấy người mình còn nuôi một quan niệm chật hẹp về cái cười chăng? Song le, tôi biết. Nguyên hồi ấy, tôi học trường Hàng Vôi; ngoài hai buổi học ra, tôi phải ngồi bán sách vì cha mẹ tôi là một nhà bán sách ở phố Hàng Gai (Hà Nội): bán sách chữ Nho, bán kinh Phật, bán và xuất bản đủ các loại truyện văn vần như Kiều, Thạch Sanh, Tống Trân, Hoàng Trừu, Bạch Viên Tôn Các… trên dưới có một vài ngàn thứ. Vừa bán sách, tôi vừa ngồi đọc truyện, do đó biết những tên Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Kế Bính, Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến (tác giả Giai nhân di mặc tiểu thuyết hóa cuộc đời Hồ Xuân Hương), tú tài Nguyễn Đôn Phục, Nguyễn Bá Trạc, Phạm Duy Tốn… Nhưng chỉ nghe danh thế mà thôi. Phải đợi mãi đến một ngày kia tôi mới được thấy tận mặt Phạm Duy Tốn và nhân đó biết cụ Tốn là Thọ An, tác giả ba tập Tiếu lâm quảng ký.


Nguyên do là các sách văn vần nhà tôi in bán rất chạy, cả nước gửi mua - mỗi quyển chỉ ăn lời nửa xu hay một xu là cùng. Thày mẹ tôi thấy thế bèn tìm cách khuếch trương ngành xuất bản, in những tập hát chèo như Chuột sa chĩnh gạo, Lông ngỗng đưa tình của cụ tú tài Hoàng Sơn Nguyễn Thúc Khiêm và những truyện văn xuôi như Một cảnh làm dâu của Ô. Chân Thụy, Nguyệt Hương cô nữ của Trúc Khê Ngô Văn Triện.


Trong các loại truyện văn xuôi mới mẻ đó, có ba tập Tiếu lâm quảng ký của Thọ An. Thực ra, cụ Thọ An không bán bản quyền ba cuốn ấy cho nhà tôi, nhưng bán cho nhà Ích Ký ở phố Hàng Giấy. Cụ Ích Ký bà, quen biết và buôn bán với nhà tôi, không hiểu vì lẽ gì nhường ba cuốn ấy cho thày tôi toàn quyền xuất bản.


Tại sao cụ Phạm Duy Tốn lại nhường quyền xuất bản ba cuốn Tiếu lâm quảng ký cho nhà Ích Ký? Sau này, nghe chuyện của “người lớn” nói với nhau, tôi biết rằng cụ Tốn quen nhà Ích Ký qua cô Phạm Thị Nghĩa là con gái cụ Ích Ký.


Không nói, chắc các bạn cũng thừa rõ là đàn bà con gái thời đó cổ kính và cao tường kín cổng đến chừng nào. Mặc dầu cụ Nguyễn Văn Vĩnh làm Đông Dương Tạp Chí mở ra mục “Lời đàn bà” và viết những bài ký là Đào Thị Loan, để khuyến khích nữ giới làm thơ và viết văn, tuyệt nhiên không có cô nào, bà nào lên tiếng - kể cả hai nữ sĩ Tương Phố và Song Khê. Lúc đó, đa số các bà, các cô còn đi dép cong, đội nón quai thao, ăn trầu. Ở suốt Bắc Kỳ chỉ có hai cô theo học trường Brieux (lúc ấy ở đường Hàng Trống, gần Ngõ Hồ, trông sang đền Hàng Trống) đậu được đến bằng Sơ học Pháp Việt: đó là cô Phạm Thị Nghĩa, ái nữ của bà Ích Ký mà tôi vừa nói trên kia, và cô Hoàng Thị Nội, sau lấy kỹ sư Nguyễn Lễ. Cô Nghĩa sau lấy y sĩ Đỗ Uông nhưng vì trái duyên, nên bước đi bước nữa, lấy ông Lê Thành Ý, giáo sư Việt văn trường Trung học Albert Sarraut, sanh được hai con, thì một không may chết đuối.


Mặc dầu đỗ rất cao, các cô Nghĩa và Nội vẫn sống trong lễ giáo và nề nếp, kín cổng cao tường. Tôi không hiểu duyên cớ gì xui cụ Phạm Duy Tốn biết cô Nghĩa; nhưng vì có sự quen biết ấy, cụ Tốn mới để tác quyền ba tập Tiếu lâm quảng ký cho nhà Ích Ký và sau đó tác quyền ấy về thày tôi. Chính vì có sự nhượng lại bản quyền đó, cụ Tốn và thày tôi mới gặp gỡ nhau và quen biết nhau. Tôi được thấy cụ Phạm Duy Tốn hai ba lần cũng vì mấy cuộc gặp gỡ nói trên.


PHẠM DUY TỐN MỘT NHÀ VĂN
GIÁC NGỘ SỚM HƠN AI HẾT


Biết khai thác cái cười và hiểu biết giá trị của tiếng cười sớm nhất trong các nhà văn hiện đại, theo tôi, Phạm Duy Tốn là người tiền phong. Ba tập Tiếu lâm quảng ký của cụ quả là một tài liệu quý báu vô cùng cho loại văn hoạt kê trong bình dân Việt Nam, mặc dầu có một ít truyện có thể gọi là tục như Ông thầy bói ăn bánh rán, Úm ba la ba ta cùng khỏi hoặc Ông thầy treo mắt ngược, nhưng tất cả các truyện sưu tầm đã biểu lộ được hết sức rõ rệt ý nghĩa tiếng cười của người Việt Nam, ngoài thì hời hợt mà trong thực sâu sắc, có tục có thanh, nhưng dù sao cũng không tục tĩu và phi luân lý như nhiều truyện tiếu lâm khác của một vài nước trên thế giới…


Đến bây giờ đọc lại ba tập ấy, các bạn cũng phải nhận như tôi là văn của cụ Tốn rất đậm đà, có duyên, viết không thừa chữ mà lại biết nhấn mạnh những điểm nực cười, cho đến bây giờ chưa chắc đã có người nào thuật lại truyện tiếu lâm hay hơn thế. Cụ đạt được kết quả như thế có lẽ là vì cụ sớm giác ngộ, lại thêm một khối óc thông minh hơn người, đã am hiểu Nho học lại ảnh hưởng thêm Tây học.


Cũng như Phạm Duy Khiêm, và Phạm Duy Nhượng, cụ Phạm Duy Tốn người cao dong dỏng, mới trông như ba Tàu, tóc bồng bềnh, bù xù, ít khi chải cẩn thận, đeo kiếng trắng, mắt lim dim lúc nào cũng như buồn ngủ, cười nửa miệng, trông đẹp và có duyên. Thường thường, nói chuyện với ai, cụ cũng thọc hai tay vào túi quần.


Một phần lớn thuở thiếu thời cụ sống ở miền Nam, viết bài cho Đông Pháp Thời Báo, Lục Tỉnh Tân Văn… Đến khi ra Bắc, cụ đứng vào nhóm Nguyễn Văn Vĩnh, và đã thủ một vai quan trọng trong vụ tẩy chay người Tàu do Nguyễn Văn Vĩnh đề xướng, từng làm cho ba Tàu ở Hà Nội thất điên bát đảo. Bây giờ, các cụ đồng tuế với cụ Phạm Duy Tốn, như bác sĩ Nguyễn Bá Tụng, hãy còn nhớ trong những ngày sôi nổi ấy, Phạm Duy Tốn đã đứng trước cửa tiệm vàng bạc “Nam Bảo” phố Hàng Đào, chỉ huy thanh niên chống lại “đội xếp” đàn áp những người biểu tình “tẩy chay Hoa kiều ăn cơm gạo của ta béo mập rồi lại quay ra khinh bỉ dân ta, bóc lột dân ta”, và cũng chính Phạm Duy Tốn đã can đảm ra giằng co với “đội xếp Tây và đội xếp ta” để cứu Mãn Châu Nguyễn Mạnh Bổng (sau này là chủ nhà xuất bản Hương Sơn, anh rể Hán Thu Nguyễn Tiến Lãng) lúc đó là một cán bộ hăng say nhất trong phong trào tẩy chay Hoa kiều.


Tiệm vàng “Nam Bảo” là một tiệm buôn do cụ Tốn lập ra để sống một cách tự do trong khi cụ vẫn viết báo và viết sách. Những khi nào rảnh rỗi, cụ đi chơi chỗ này chỗ kia, không chịu làm việc với Tây, không chịu quỵ lụy bất cứ ai; bất cứ quan lại An Nam nào cụ cũng kêu là “thằng”. Trong thời kỳ ấy, cụ thường năng đi lại đàm đạo thế sự nhân tình với các cụ Trần Trọng Kim, Nguyễn Văn Vĩnh, Nguyễn Bá Tụng… và mỗi tuần các cụ lại một lần ăn cơm tây ở trên gác sân căn nhà số 34 Hàng Mã Mây (Hà Nội) tức là nhà cụ Nguyễn Văn Vĩnh (cụ còn một căn nhà ở 10 Général Bichot tại Đường Thành, gần trại lính). Cũng trong thời kỳ này, các cụ vẫn có tin tức từ hải ngoại bí mật gửi về và có người đã thấy trong thư viện của cụ Vĩnh ở tại số nhà nói trên, những bức thư của cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh gửi chuyển tay về nước.


Mở tiệm kim hoàn “Nam Bảo” ở Hàng Đào, cụ Phạm Duy Tốn đã khéo áp dụng cái cười để quảng cáo cho cửa tiệm. Riêng về cách quảng cáo ấy cũng hết sức mới, so với lúc bấy giờ.


Nhờ tài khéo ăn khéo nói, cụ thuyết phục được các đào kép rạp Quảng Lạc, Sán Nhiên Đài quảng cáo cho tiệm vàng của cụ, vì thế cho nên có nhiều lần người ta đã thấy đào Cưỡng và đào Đính đóng tuồng “Nhất bộ nhất bái Phàn Lê Huê” và “Quan Công phò Nhị tẩu”, giơ tay lên trời nói một câu rất trơ mà cũng rất công hiệu: “Ra hiệu Nam Bảo mua vàng đeo tay”. Lại một chuyện khác liên quan đến việc quảng cáo cho tiệm vàng Nam Bảo. Thuở ấy, ở trên các đường phố Hà thành, có những người Cao Ly mang những tấm thảm và da beo ở tay, vừa đi vừa kêu một thứ tiếng khó hiểu tựa như “Nàm pố”. Ai cũng muốn biết “Nàm pố” là cái gì. Có phải là “la pố” (la peau) không? Thì cụ Tốn đạo mạo giải thích như sau:


- Có thế mà không biết! Người ta nói tắt đấy. Cả câu như thế này: “Nàm pố tố hảo”, nghĩa là tiếng Cao Ly họ bảo: “Nam Bảo tố hảo” tức là vàng nhà Nam Bảo tốt lắm, tiệm vàng Nam Bảo tố hảo, cơ lơ bớ!


 Các cụ bạn của Phạm Duy Tốn đều chịu cụ Tốn là người thông minh, mau trí. Cụ viết cũng mau, làm thơ rất lẹ. Bây giờ, các cụ như bác sĩ Tụng còn nhớ có một lần ăn sinh nhật báo Đông Dương Tạp Chí, cụ Tốn vừa nói chuyện vừa làm một bài thơ khôi hài rất hay, nhưng tiếc vì tài liệu mất mát nên chỉ còn nhớ có câu đầu:


Ủa này, sinh nhật báo Đông Dương!


Những truyện ngắn như Sống chết mặc bay và “phim” như May cho ta!... cụ viết cũng mau lẹ lắm và tài một cái là những danh từ, hình ảnh cụ dùng rất hay và rất mới. Thí dụ: Đi hớt tóc, cụ ví tiếng kéo lách cách tỉa tóc như tiếng chim hót và ví mặt người uống rượu đỏ gay như mặt… Ai cũng cho là cụ nói tục. Cụ cười mà bảo: “Rõ các ông này bậy quá! Để cho người ta ví cho hết câu đã nào. Tôi ví mặt người say rượu đỏ như mặt… trời, có gì là bậy đâu mà các cụ làm ầm lên thế!”.


NHỮNG CÂY CƯỜI CÙNG LỚP VỚI PHẠM DUY TỐN


Lúc ấy, cụ Phạm Duy Tốn cũng có viết bài cho Trung Bắc Tân Văn, nhưng mục “Hài đàm” thì lại do hai cụ Hif Dinhf Nguyễn Văn Tôi và Sơn Phong giữ. Lúc ấy Sơn Phong và Hì Đình đi đôi với nhau, ngày nào cũng có một mẩu hài đàm đăng trang nhất, phần nhiều kết bằng bốn câu thơ.


Hài đàm của Hì Đình Nguyễn Văn Tôi, Sơn Phong khác hẳn loại tiếu lâm của Phạm Duy Tốn. Về sau này, nói đến hài đàm của Hì Đình và Sơn Phong, báo Phong Hóa giễu là “nhạt như nước ốc”; nhưng thực ra hồi đó các bậc nho học lão thành thích thú hết sức và cho là sâu sắc, tế nhị vô cùng. Chúng tôi rất tiếc không giữ lại được những bài ấy để in thành sách cống hiến cho bạn đọc, chớ nếu làm được như vậy thì chúng ta cũng có một tài liệu quý giá về một loại hài đàm tế nhị và sâu sắc đánh dấu một thời kỳ nhà nho chơi chữ chửi Tây và chửi quan.


Hì Đình và Sơn Phong là ai? Hì Đình, viết theo chữ quốc ngữ mới của cụ Nguyễn Văn Vĩnh là Hif Dinhf, ký tên là Nguyễn Văn Tôi, thực ra là cụ tú tài Nguyễn Đỗ Mục, một nhà nho nổi tiếng về tài dịch những tiểu thuyết Tàu như Tam quốc, Đông Chu, Thuyền tình bể ái, Đốt cháy chùa Hồng Liên, Liêu trai chí dị, Đông Chu liệt quốc… vì sau khi Trung Bắc đóng cửa, cụ Tú Mục sang dịch sách cho nhà Tân Dân, tôi được gần cụ đến lúc cụ mất. Mặc dầu lúc ấy có tuổi và đã yếu lắm, mỗi tháng cụ cũng từ Mọc ra thăm tôi một lần, trò chuyện về thiên hạ sự và dạy bảo tôi. Có được gần cụ, mới biết cụ là một tay thâm nho “phờ lếch không chịu được”, đúng là một thứ “cù không cười”, chuyện trò to nhỏ càng ngẫm nghĩ càng buồn cười.


Cụ ưa nói nhiều chuyện tiếu lâm liên quan đến các sư nam, sư nữ và bọn quan liêu, thầy nho, thầy lại.


Còn Sơn Phong, tên thực là Bùi Đức Long, thì nguyên là một y sĩ, cũng cười theo cái lối Hì Đình, đương ngồi nói chuyện tử tế, nghiêm trang, tự nhiên đế vào một chuyện cười rất xỏ xiên, kiểu “ông sư lên đàn mông sơn ỉa ra đấy, vãi ra đấy” mà chính cụ lại không nhếch mép. Không có gì làm cho cụ cười, có lẽ là vì chính đời tình ái của cụ đã là một cái… cười khổng lồ rồi chăng?…


Nguyên cụ Sơn Phong Bùi Đức Long làm bạn với một cụ bà so với thời ấy thì được kể là “mô đéc” nhất. Cụ bà ghen có tiếng, giằn vặt cụ ông đủ tình đủ tội, làm cho cụ ông ra ngoài pha trò vui tính thế mà về đến nhà thì mặt ủ mày chau, như phải trèo lên đỉnh núi Can Ve vậy.


Cụ Bùi Đức Long, tức quá, bèn tìm cách dĩ độc trị độc. “Ờ, bà mày đã hay ghen như thế, ta cho biết tay!”. Bèn lấy ngay một bà hai, cho mà biết! Bà hai là một người Thổ. Chẳng ngờ hai bà này lại “hợp quần thành sức mạnh” càng làm khổ cụ hơn, cấm đoán đủ mọi thứ. Cụ lại “dĩ độc trị độc nữa” lấy luôn một bà ba người Mường! “Vợ cả, vợ hai, vợ ba, ba vợ cùng là vợ cả”. Cụ Long suy nghĩ lung, định “dĩ độc trị độc” nữa nhưng anh em vừa kịp ngăn cản lại:


- Anh mà dĩ độc trị độc nữa thì người chỉ còn bằng cái tăm, rồi ho lao mà chết!


Cụ Bùi Đức Long đành phải nghe lời bạn, đóng cửa lại “nằm chuồng trâu” viết sách khảo cứu về hát chèo, và lấy rượu và thuốc phiện làm thú khiển hứng trong những ngày tàn bóng xế.


Ngoài Hì Đình và Sơn Phong ra, trong bảng các cây cười tiền chiến, đàn anh của các thi sĩ hoạt kê trào phúng như Cuồng Sỹ Tạ Mạnh Khải, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, Đồ Phồn Bùi Huy Phồn và các Trạng như Trạng Mút, Trạng Hút, Trạng Hít và các Tú như Tú Phe, Tú Suýt, v.v… chúng ta không thể quên được một cây cười nữa là Kim Xuyên Trần Vượng và Yên Sơn Nguyễn Đình Quế, tác giả nhiều tập văn cười do nhà Tân Dân (lúc ấy mới ra đời ở Hàng Bông Cửa Nam) xuất bản.


Thực ra, những cây cười tiền chiến kể ra như thế không đủ một phần nào, bởi vì trong mỗi nhà văn đứng đắn vẫn có một cây cười tiềm tàng ở bên trong. Ai đạo mạo bằng cụ phó bảng Hoàng Tăng Bí (tức là cụ thân sinh ông Hoàng Minh Giám đã có một thời làm Bộ trưởng Văn hóa và Bộ trưởng Ngoại giao ở Bắc Việt)? Cụ nổi tiếng là nhà xã thuyết đạo đức nhất của báo Trung Bắc Tân Văn thời bấy giờ, ấy vậy mà cười cợt cũng vào hạng “không chê được”. Cụ có cái tính hay “đố” anh em. Gặp lúc trà dư tửu hậu, gió mát trăng thanh, cụ đố đông đảo anh em:


- Tôi đố ai mời tôi lên Đông Hưng Viên nhậm sà.


- Dạ, cái gì chứ cái ấy thì được quá. Mời cụ!


Nhậm sà xong, cụ lại đố:


- Tôi đố ai ra Hàng Buồm mua biếu tôi một bao chè thật ngon.


Anh em lại nói:


- Dạ, vui lòng.


Xong rồi, cụ lại đố:


- Tôi đố ai dám mời tôi đi ăn một bữa cơm tây.


- Xin bằng lòng. Rước cụ đi ngay bây giờ.


Ăn cơm tây xong, cụ lại đố:


- Tôi đố ai thuê xe giờ cho tôi đi chơi.


- Tưởng là gì chứ cái ấy thì không khó.


Đi xe giờ đi chơi chán, cụ lại đố:


- Đố ai mời tôi đi hát cô đầu!


Anh em lại xin vâng.


Hát một lúc, cụ lại đố:


- Tôi đố cụ nào bảo bà chủ vào quạt màn giải chiếu cho tôi!


Cụ Nguyễn Bá Tụng giơ tay:


- Tôi xin nhận câu đố ấy. Nhưng thưa cụ, cụ đố nhiều quá rồi, xin cho đố lại cụ một câu, chẳng biết cụ có cho phép hay không?


- Sẵn lòng.


- Tôi đố cụ nghe hát xong rồi, cụ dắt chúng tôi về nhà gặp cụ bà.


- Ớ, để làm gì vậy?


- Để đố cụ có dám cho chúng tôi trình với cụ bà là cụ vừa nằm với Đào Huệ không?


Tức thì cụ bảng Hoàng mất vui:


- Ấy, tưởng gì chứ cái ấy thì không nên. Để mai, tôi mua hụi gấp trả lại hết tiền cho các ông, chứ các ông mà bảo bà nhà tôi như thế thì tôi chết bỏ bà nhà tôi!



II. CUỒNG SỸ TẠ MẠNH KHẢI, KIM XUYÊN TRẦN VƯỢNG
VÀ TƯƠNG HUYỀN VŨ ĐÌNH TƯỜNG HIỂU CÁI CƯỜI RA SAO?


NHỮNG CÂY CƯỜI CHUYỂN TIẾP


Viết đến đây, có một vài bạn thân đọc bản thảo này, đã thành thật nói với tôi là họ hơi thất vọng. Họ thất vọng không phải vì nội dung của bài, nhưng thất vọng vì không ngờ những nhà văn như các cụ Hoàng Tăng Bí, Nguyễn Đỗ Mục, Sơn Phong, bác sĩ Nguyễn Bá Tụng, Phạm Duy Tốn… nổi tiếng là những nhà văn đạo mạo của lớp Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh, Phạm Huy Lục lại có thể viết văn cười cợt, nói chuyện tiếu lâm.


Chúng tôi không dám trách các bạn đọc ấy, là vì từ xưa đến nay nước ta vẫn chưa hết thành kiến cho rằng văn cười, văn hoạt kê, văn trào phúng là văn chơi, còn văn bình luận, văn than thời khóc thế, văn khảo cứu mới là văn chương chân chính và bổ ích. Chính Phạm Quỳnh đã nói như thế trong bài giới thiệu Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu trên báo Nam Phong.


Sự thực đâu có thế. Từ xưa, các cụ nhà ta đã am hiểu hơn ai ý nghĩa và giá trị của tiếng cười, cho nên có văn chương Việt Nam là có tiếng cười của Yên Đổ, Dương Khuê, Nghè Tân, Ba Giai, Tú Xương, với những bài thơ phú đọc lên bây giờ còn thích thú hơn cả chục bài bình luận, hay những sách buồn bã, khóc than, giận dỗi, có hại hơn có lợi. Bây giờ, người Âu mới tìm ra rằng là cáu giận, buồn bã gây nên bệnh phát phì, đau phổi và hư bao tử, chớ từ ngàn xưa, trong đạo Khổng đã có tám điều then chốt để làm người. Đó là: chính tâm, tu thân, thành ý, thận độc, trí ngôn, trung, thứ và dưỡng khí.


Nuôi lấy chính khí của trời phú cho, há chẳng phải là sống ung dung, nhã nhặn, an vui, thư thái đó sao?


Buồn bã, uất giận, nộ khí xung lên đến cực điểm thì máu chạy quá mạnh phải trào ra, có thể làm cho người ta chết trong khoảnh khắc. Đó là trường hợp Đô đốc Đông Ngô Chu Công Cẩn, bị Khổng Minh chọc tức hộc máu ra mấy lần.


Chính vì am hiểu luật dưỡng khí hơn ai nên các cụ nhà ta, ngoài văn chương nghiêm chỉnh, lúc nào cũng lấy văn cười để khiển hứng tiêu sầu, để tiết sự cay cú ra trang giấy, để cười cợt với ẩn ý sửa đổi phong hóa và chấn chỉnh nhân tâm.


Bên phương Tây, những văn gia, bác học lỗi lạc như Einstein, Marie Curie, Jefferson, Roosevelt, Churchill… đều là những cây cười có tiếng. Ai cũng biết nước Pháp năm 1922 đã lập ra Viện Hàn lâm Hoạt kê gồm ba mươi ông bất tử, trong số có Gabriel de Lautrec và Georges Dacquois, nhưng có lẽ ít ai để ý rằng bản Tuyên ngôn Nhân quyền của Mỹ bắt đầu bằng một câu chuyện cười.


Sách chép rằng khi người Mỹ phá tan gông cùm, xiềng xích nô lệ mà người Anh cố đeo vào cổ họ thì tại hội nghị Philadelphia, các nghị viên lỗi lạc, trẻ tuổi (trong đó có John Adams, Washington, Franklin) bàn nên thảo một bản Tuyên ngôn Độc lập để cho thế giới hiểu rõ người Mỹ với những nguyên cớ phát sinh ra cuộc khởi nghĩa chính đáng.


Jefferson, được toàn thể hội đồng tín nhiệm, giao trọng trách ấy cho làm. Xong rồi, tác giả bản Tuyên ngôn Độc lập đưa cho Franklin xem bản thảo. Ông này sửa đổi lại mấy chữ. Đến khi họp hội đồng khoáng đại, ông nào cũng đưa ra ý kiến, bàn ra tán vào, kẻ thêm khoản nọ, người bớt điều kia, cứ nhao lên.


Nhìn thấy tác giả tuyên ngôn tức bực về nỗi bản Tuyên ngôn Nhân quyền mình viết bị mổ xẻ nhiều quá, Franklin bèn bảo Jefferson:


“Việc hôm nay làm tôi hồi tưởng lại câu chuyện khi tôi còn đi tập việc như sau:


“Một người bạn tôi muốn mở một ngôi hàng bán nón, có đặt làm một cái biển “X… hàng nón, làm và bán nón tiền ngay”. Ở dưới hàng chữ, có vẽ một cái nón.


“Anh ta đưa cho bạn hữu coi.


“Người thứ nhất nói:


“- Hà tất còn để chữ hàng nón làm gì. Vì anh đã nói làm nón, bán nón rồi kia mà! Như thế có phải là thừa không?


“Người thứ hai nối lời:


“- Không cần phải đề chữ “làm” nữa, khách chỉ muốn có nón dùng, chứ nào có để ý tới kẻ nào làm ra nón.


“Người thứ ba nói:


“- Mà chẳng cần phải “bán tiền ngay” vì lột trần sự thật ra quá, e mất lòng khách. Anh nào không trả tiền ngay, mình không bán, việc gì phải lôi thôi.


“Người thứ tư nói:


“- Thế thì chữ “và” thừa. Xin bỏ luôn! Vậy là chỉ còn mấy chữ “X… bán nón” đủ rồi!


“Người thứ năm ngắt lời luôn:


“- Chữ “nón” cũng thừa. Vì ở dưới đã có vẽ cái nón rồi”.


Nét mặt Jefferson tươi hẳn lên. Ai nấy cười rộ, dập tắt hẳn cuộc thảo luận huyên náo hơn đám cháy. Sau đó, mọi người đều bỏ phiếu tán thành nguyên văn bản “Tuyên ngôn Nhân quyền”, không hề thay đổi một chữ nào.


CUỒNG SỸ TẠ MẠNH KHẢI


Vì cái cười có một giá trị đặc biệt như thế, nên từ lâu chúng tôi lấy làm lạ sao trong văn học sử Việt Nam, các nhà biên khảo có vẻ như không mấy chú ý đến văn cười.


Có lẽ một phần vì thế cho nên bây giờ vẫn còn có những bạn đọc yêu văn đã quan niệm một cách lầm lạc về văn cười như vài ông bạn tôi đã nói ở trên kia. Bởi vì chúng tôi muốn cho văn cười bảo thủ được nguyên vẹn giá trị của nó, chúng tôi đã nói về văn cười và đã lần lượt kể ra những nhà văn cười tiền chiến (sau lớp Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Nghè Tân, Ba Giai) mà chúng tôi lấy Phạm Duy Tốn, Nguyễn Đỗ Mục, Sơn Phong, Bùi Đức Long làm tiền phong.


Đó là thời kỳ báo giới của nước ta mới phôi thai, về báo định kỳ có Đông Dương Tạp Chí, Nam Phong, Hữu Thanh, còn báo hàng ngày thì có Trung Bắc, Thực Nghiệp Khai Hóa.


Về sau này, nhiều người cho rằng sau đó nhóm Phong Hóa lên ngôi trong ngành văn hài hước, nhưng lầm. Nhóm Nguyễn Tường Tam, Tứ Ly, Khái Hưng chỉ ra trò sau khi nhóm Hoàng Tích Chu, Phùng Tất Đắc, Chu Mậu, Đỗ Văn về nước và đưa ra một cuộc cách mạng báo chí với những tờ Đông Tây, Cri de Hanoi, Dân Mới, Duy Tân. Nhưng từ những cây cười như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Đỗ Mục, Bùi Đức Long, qua đến lớp Văn Tôi, Lãng Nhân, Trúc Đình, làng văn cười Việt Nam còn trải qua một thời kỳ chuyển tiếp không phải là không quan hệ.


Đại biểu cho thời kỳ chuyển tiếp này, chúng tôi muốn kể ra ba nhà văn cười mà ít ai còn nhớ: đó là Cuồng Sỹ Tạ Mạnh Khải, Kim Xuyên Trần Vượng và Tương Huyền Vũ Đình Tường.


Từ trước, các nhà văn cười như Phạm Duy Tốn, Nguyễn Đỗ Mục viết văn cười nhưng cũng tham bác nhiều thể văn khác như bình luận, đoản thiên, tham khảo, dịch thuật; riêng có Cuồng Sỹ Tạ Mạnh Khải thì chỉ chuyên có một mặt văn cười mà thôi.


Cái bút hiệu anh chọn lựa chính là để dùng vào loại văn đó: cười, chỉ cười thôi, cười như điên như cuồng. Chúng tôi tiếc rằng vì chiến tranh, hai ba thư viện ở đây không còn sách cần thiết để tra cứu tài liệu, nên không thể ghi được những truyện cười anh đã viết mấy chục năm trên các báo Trung Bắc, Thực Nghiệp, Khai Hóa hồi đó; chúng tôi chỉ còn nhớ anh có để lại ba cuốn Trò đời do nhà Tân Dân xuất bản.


Lúc đó, ông Vũ Đình Long, chủ nhà xuất bản Tân Dân, hãy còn làm giáo học ở Hà Đông, bắt đầu in thêm sách trong những giờ rảnh rang. Nhà xuất bản của ông hồi ấy chỉ là một hiệu sách nhỏ ở Cây Đa Cửa Quyền (Hà Nội).


Ba cuốn Trò đời của Cuồng Sỹ là những cuốn sách đầu tiên do nhà xuất bản Tân Dân ấn hành cùng với những truyện ngắn đầu tiên của Nguyễn Công Hoan (lúc đó cũng là giáo học ở Nam Định). Bây giờ, tôi còn nhớ ở bìa mấy cuốn Trò đời, Nam Minh Ngô Đăng Đĩnh có vẽ một cái tẩu thuốc phiện rất to, bên cạnh có một anh ghiền đang co giò chạy tới để chui vào trong cái nhĩ. Dưới bức vẽ có đề hai câu thơ:


Cái vành nhĩ tẩu cong cong


Kẻ hòng ra khỏi, người mong chui vào


Cả ba tập này gom góp những truyện cười, thơ cười đăng trên các báo, hầu hết đều là những truyện vui, những câu châm biếm, hài hước về thuốc phiện. Bởi vì thuốc phiện là mối quan tâm chính yếu của Cuồng Sỹ Tạ Mạnh Khải.


Là người Bắc Ninh, thuộc huyện Yên Phong, Cuồng Sỹ sống về nghề viết, nhưng từ khi tôi được biết anh, anh không bao giờ có một căn nhà hay một cái phòng để mà viết văn, viết báo. Lúc nào cũng kẹp một tập giấy và đút túi một cây viết chì vót nhọn, anh toàn sống và viết ở tiệm thuốc phiện, làm thơ cười mau lẹ như làm văn xuôi, nhưng đặc biệt là vừa viết vừa chửi đổng nhà nước bảo hộ và quan lại, mà lúc viết không mấy khi phải dập dập xóa xóa quá hai câu hoặc năm sáu chữ. Cả một cuộc đời anh là một cái “hố” bi đát, mà người bây giờ gọi là “ra-tê”; nhưng Cuồng Sỹ có vẻ không lưu ý đến thành công cũng như thất bại. Anh chỉ cần hai thứ: làm thơ cười cho hay và hút làm sao cho “đã”, mặc kệ cha đời sắc sắc không không. Người anh cao, đi lò dò như con cò, đeo kiếng trắng, tóc chải lật, túi lúc nào cũng rỗng nhưng quần áo thường giữ gìn cẩn thận và đều may theo lối “croisé” trông hơi dơ bẩn. Đến tiệm, việc thứ nhất của anh là cởi quần áo xếp lại cẩn thận cho có nếp, đặt lên trên kệ cẩn thận rồi mới nằm hút. Hút xong thì viết. Nếu có tiền thì tà tà đi ra một cái quán cóc nào gần đó “ăn cái gì” và nhắm nháp một hai ly rượu đế.


Đây là cái thứ văn nghệ sĩ hút và uống chết thì thôi, nên Cuồng Sỹ rất nhiều thứ bệnh trong người. Nhưng cản trở anh nhiều nhất trên đường văn nghiệp là lúc trở về già, mắt anh “kéo mây”, gần như hỏng một bên, tuy là đã đeo kính “loạn thị” nặng gớm nặng ghê. Mặc dầu vậy, hễ khi nào có tiền, anh vui như phá, cùng như thơ cười và trào phúng của anh. Gặp chuyện gì buồn quá, anh cứ trơ ra chớ không ai thấy một nét cảm động hay sầu đau gì trên mặt và cứ như thế cho đến khi chung cục. Cuồng Sỹ, trong những ngày cuối cùng, không còn cách gì viết lách kiếm ăn được nữa, ở nhờ nhà một người bạn văn, ông Phượng Minh Vũ Công Nghi, anh ruột Vũ Công Định, chủ nhiệm Tiểu Thuyết Tuần San. Vũ Công Nghi đã từng sống với Cuồng Sỹ Tạ Mạnh Khải lúc ông cộng tác với Phạm Quỳnh trên tạp chí Nam Phong, Tứ Dân Văn Uyển của René Crayssac và Việt Thanh của Hội đồng An dân. Sau này, vì vấn đề vợ Định khó tính, Vũ Công Nghi đã đưa Cuồng Sỹ về nuôi ở nhà riêng tại phố Hàng Than, gần Bót Hàng Đậu và tại đây Cuồng Sỹ đã chết một cách ai oán, trên một cái chõng tre, bạn bè thân thích không ai, sau mấy chục năm nuốt nước mắt vào lòng để tạo những câu văn cười cho thiên hạ khiển hứng những lúc trà dư tửu hậu.


Cùng vào lớp đó, Kim Xuyên lại khác hẳn. Cùng một lứa tuổi với Cuồng Sỹ, Kim Xuyên, tên thật là Trần Vượng, là một thú y sĩ (anh em thường gọi đùa là đốc-tờ chó), sống tương đối an nhàn, đầy đủ, nếu không muốn nói là phè phỡn.


KIM XUYÊN TRẦN VƯỢNG LÀM VĂN PHÚNG THẾ,
CƯỜI CỢT VÌ UẤT HẬN AI?


Nói tới đây, chúng tôi không thể buồn rầu mà nhắc để các bạn biết một điều: Thú y sĩ Trần Vượng tức là nhà văn cười Kim Xuyên, đã mệnh chung hồi mới đây (1969) tại Gia Định, thọ bảy mươi sáu tuổi. Đau đớn cho nhà thơ văn “suốt đời chỉ biết cười mà không biết khóc” đó, là trước đấy dăm tháng, người con trai yêu quý nhất của anh là bác sĩ Trần Anh, giáo sư đại học, đã bị mấy người lạ hạ sát bằng súng lục trên đường đi từ trường đại học về nhà.


Theo một người bạn thân của anh là Nguyễn Quỳnh, chuyên viết về kịch lịch sử cho đài phát thanh, từng giao du thân mật với Trần Vượng từ lúc Vượng còn trẻ, làm thú y sĩ ở Đông Triều là nơi Nguyễn Quỳnh dạy học, Trần Vượng để lại được hai trai và mấy gái.


Riêng tôi được biết Kim Xuyên Trần Vượng từ lúc anh viết bài cho tờ Ngọ Báo của Bùi Xuân Học. Cũng như trên tờ Đông Tây của Hoàng Tích Chu sau này, Kim Xuyên Trần Vượng thường viết những bài hoạt kê thời sự ngắn, kiểu hài đàm, và cũng như Hif Dinhf Nguyễn Văn Tôi, cuối mỗi bài thường có hai hay bốn câu thơ kết luận.


Ngoài ra, Kim Xuyên cũng có những bài thơ cảm khái và những đoản thiên tiểu thuyết có tính cách nhạo đời, thời sự kiểu “Mặt trái đời” của Ngọc Thỏ Dương Mầu Ngọc. Về thơ, anh ưa đọc cho bạn nghe bốn câu thơ xứng ý mà anh đã cảm khái viết ra lúc đi từ Bắc Ninh, qua Phả Lại, về Đông Triều là chỗ anh làm việc. Lúc ấy, nước lớn, dân phu bị chánh phủ bắt đi hộ đê, cơm nắm muối vừng, canh gác và làm việc suốt ngày đêm không nghỉ. Cũng lúc ấy, chính lại cũng là lúc chính phủ Pháp vừa đàn áp xong cuộc cách mạng Yên Bái, Nguyễn Thái Học và mười hai nghĩa sĩ bị đưa lên đoạn đầu đài. Trước cảnh tình ấy, Kim Xuyên cảm khái:


Mưa sao mưa mãi thế này,


Chân đê mặt nước càng ngày càng cao;


Anh em liệu tính làm sao?


Càng trông thấy nước càng ngao ngán lòng!


Bình thường, Kim Xuyên Trần Vượng ít khi buồn ngoài mặt. Anh hơi thấp, mập, tóc bợp, có vẻ tinh nghịch, trông phảng phất như Georges Milton trên màn bạc, cho nên anh em kêu anh là “Min Tôn lô can”. Lúc nào ăn mặc cũng lịch sự, Trần Vượng có dáng đi bệ vệ, nói năng với bọn nha lại, tri huyện, tri phủ hách lắm và thích “xổ” tiếng Tây ra “chộ” họ; nhưng đối riêng với anh em văn bút chơi bời thì lại chiều bạn, nể bạn và chịu lép vế hơn là lý sự ra đầu ra đũa. Điển hình cho tâm tính đó là vụ Trần Vượng diễn kịch Ông tham đánh vợ mà anh thủ vai chính.


Thực ra Trần Vượng là một kịch sĩ rất hay ngoài đời, thủ bất cứ vai gì, muốn đóng vai gì cũng được; hiền lành tử tế, xỏ lá ba que, nghiện hút, rượu chè, cờ bạc, đĩ bợm, thôi chẳng còn thứ gì không thông thạo. Thành phố Đông Triều muốn tổ chức vở kịch Ông tham đánh vợ để lấy tiền làm việc nghĩa, mời Trần Vượng đóng vai chính, nhưng dù là việc nghĩa, anh cũng không chịu lên sân khấu. Là vì việc nghĩa ấy lại do Tây đứng giựt dây. Trần Vượng không chịu đóng một vai gì hết, mặc dầu công sứ Wintrebert, năm lần bảy lượt cho người mời anh đứng ra tổ chức và thủ vai chính trong vở cho buổi hát “thập phần viên mãn”.


Mặc kệ, đã không chịu là không chịu. Tây không bằng lòng thì cứ đuổi về nhà, nhịn đói ít lâu không chết đâu mà sợ. Nhưng đến lúc các anh em cùng làm việc hay chỉ giao du với anh thôi đến điều đình và khẩn khoản anh giúp cho một tay, “nếu không thì công việc khó mà thành tựu”. Vượng nể anh em, đành phải nhận lời và anh đã thủ vai ông Tham đánh vợ, cử chỉ nói năng tài tình có một không hai khiến cho cả Đông Triều hồi ấy phải chịu anh là một thú y sĩ “số dách”, một kịch sĩ đại tài, một văn gia chua chát.


Ai đã biết Trần Vượng đều còn nhớ giọng văn chua chát, xỏ xiên ấy trong nhiều bài thơ như nói về hai nhà giáo, một nam một nữ ở Bắc Ninh “Kiki Toto, Toto Kiki” giễu cái thói giẫm phải phân Tây, vợ chồng gọi nhau như Tây “Eh Ky!” - bởi vì một người là Kỷ, và “Eh Tô” - bởi vì một người là Thọ.


Các đoản thiên tiểu thuyết của Kim Xuyên Trần Vượng cũng đều bàng bạc một tinh thần cười cợt, phúng thế như vậy. Trong tất cả các tiểu thuyết ấy, Nguyễn Quỳnh ưa nhất truyện Đánh bạc với Rockefeller, trong đó Kim Xuyên tả mấy người ngồi đánh bạc với một anh Mỹ “kẹo”, đánh cò con chỉ “mi” đến một “đô” là hết sức. Anh em thấy thế tức quá bèn bảo cho anh Mỹ đánh như thế không bõ bèn gì, thà giải tán còn hơn. Anh Mỹ không thay đổi nét mặt, nói: “Tôi muốn chơi lấy vui, nhưng các ông không chịu, bắt đánh to, tôi cũng xin chiều ý”. Và rút túi lấy một tập “séc” ký một “mi” xoàng một triệu đô la. Cả bàn bạc muốn ngất đi, liếc mắt nhìn xem thì thấy ở dưới “séc” ký một cái tên Rockefeller - tức là ông vua dầu hỏa Mỹ!


Truyện này viết ra không phải là không có một ẩn ý ở bên trong: Trần Vượng thích đánh tổ tôm nhưng góp nhỏ, vì muốn đánh lấy vui. Ai cũng chê anh là kẹo. Thực ra anh không kẹo, ví có muốn đánh góp năm mươi, anh cũng thừa tư cách - vì lúc ấy lương tháng hai trăm bạc là to lắm - nhưng anh chỉ góp năm hào mà thôi. Bài văn phúng thế trên kia chính là để nói chuyện gián tiếp với những ông muốn đánh tổ tôm to vậy.


TƯƠNG HUYỀN, MỘT CHUYÊN VIÊN
CƯỜI QUA THƠ VUI VÀ HÀI KỊCH


Tôi tiếc mấy lúc gần đây không được gặp bà Vũ Đình Tường và các con nên không hỏi được có còn giữ được những thơ vui nào của Tương Huyền hay không, nhưng tôi biết Tương Huyền Vũ Đình Tường lúc sinh thời có làm nhiều thơ hoạt kê, nhưng ít đăng trên các báo. Chính Tam Lang Vũ Đình Chí là em ruột anh Tương Huyền Vũ Đình Tường cũng không nhớ được bài thơ hoạt kê nào của anh Tương Huyền, duy chỉ còn nhớ có bốn câu lúc anh lâm chung, viết trên giường bệnh:


Đêm qua chợt tỉnh cơn mê,


Bỗng dưng hai má đầm đìa lệ rơi.


Khóc mình, khóc bạn, khóc đời,


Khóc chiều xuân xế, non mai, nhạc rừng.


Tương Huyền - bút hiệu của Vũ Đình Tường - là một nhà văn trong những giờ rảnh rỗi. Một phần lớn thời giờ trong đời anh dành cho việc chữa trị các đau đớn vật chất của người ta: anh là bác sĩ đầu tiên bênh vực Đông y và đã từng đệ một đề án chủ trương Hoa Đà là thủy tổ khoa mổ xẻ.


Về văn, anh nghiêng về mặt phúng thế. Ngay từ lúc còn đi học trường Bảo hộ, Tương Huyền đã đả kích chế độ thực dân Pháp qua một vở kịch nhan đề là Chim lồng cùng soạn với em là Tam Lang Vũ Đình Chí. Kịch này không in, nhưng viết tay trên hai tập vở “paladium” dầy, do Trần Quang Trân, bút hiệu là NgyM, hoạt họa. Bản thảo tập kịch này đã mất. Trong kịch, hai ông Vũ Đình Tường và Vũ Đình Chí nói về cảnh tù đày cực khổ của các chính trị phạm và cố nhiên, không bao giờ được đưa lên sân khấu.


Tương Huyền là bạn nối khố của Kim Xuyên Trần Vượng. Cũng như Kim Xuyên, Tương Huyền cũng viết nhiều đoản văn phúng thế, hài đàm, nhưng biết rằng có đưa cho báo chí, Tây cũng chẳng cho đăng nào, nên Tương Huyền cất giấu một chỗ. Người ta chỉ còn giữ được của Tương Huyền hai vở kịch đả kích và chế giễu những cái rởm của xã hội mới theo Tây, bọn giàu nổi, bọn bợ đỡ chủ mới để mưu cầu công danh: Đó là vở Nặng nghĩa tớ thầy và vở Kim Sinh. Vở Nặng nghĩa tớ thầy đã được trình diễn ở Nhà hát Lớn Hà Nội, do Trương Đình Thi, kịch sĩ số một của Bắc Việt thủ vai chính và được các báo hồi ấy hoan nghênh nhiệt liệt.


Ngay cái nhan đề Nặng nghĩa tớ thầy cũng đã bàng bạc một ý nghĩa chế giễu, khôi hài rồi. Kịch tả một chuyện thực ở Hà Nội hồi đó: Một cô con gái con nhà quan lớn, giàu có, ăn không ngồi rồi, bắt chước mẫu quốc tập cầm lái ô tô. Thế rồi tớ và thầy nặng nghĩa với nhau quá mức, bụng cô gái cứ to phè phè ra, làm cho một vai phụ trong kịch phải ngâm:


Mùi hương sao để pha mùi ét xăng?


Tương Huyền mất năm 43 tuổi. Sinh năm 1900, anh mất năm 1943 vì một bệnh ác liệt, bệnh chí rận (typhus) mà anh đã bị lây trong khi anh săn sóc các tù chính trị. Anh nấc ba ngày liền. Đến lúc mệt quá, anh làm bốn câu thơ trên kia. Có một điều hận nhất là cả mấy vở kịch của anh cũng không còn, mà những thơ cười, thơ phúng thế cũng như thơ dịch Pháp văn của anh viết ra lúc sinh thời bây giờ, anh em cũng chỉ còn nhớ mang máng chớ không ai giữ được. Người ta biết rằng thơ dịch Pháp văn của Tương Huyền cũng khá nhiều, mà thi nhân Pháp anh ưa nhất và dịch nhiều nhất là thi hào Beaudelaire.


Tương Huyền sống một cuộc đời tương đối đầy đủ vì nghề thuốc, chớ không phải vì nghề văn bút; nhưng bạn bè trong làng báo, làng văn rất nhiều và đều có cảm tình với anh. Là vì Tương Huyền là một người rất lịch sự, rất vui tính, ưa đùa cười. Có lẽ trong suốt cả đời anh chỉ có một người giận anh - mà có lẽ vì không hiểu ý nghĩa sự đùa cười của anh, đã tưởng lầm rằng anh nuôi ác ý. Sự thật, Tương Huyền cười cợt như người ta ăn, người ta thở, cười cợt để quên lãng đau khổ, buồn thương của kiếp người mà anh phải chứng kiến hàng ngày, chớ không phải để tiết sự oán hận lên bất cứ đồng bào nào - ngoài thực dân Pháp lúc đó ra.


Đó là câu chuyện đùa giữa Tương Huyền và Nguyễn Đình Thấu, chủ nhiệm báo Duy Tân, tờ báo trào phúng, vui cười đầu tiên bằng Việt ngữ ở Việt Nam. Một ông chủ báo chuyên đả kích người ta, không chê một hạng người nào không “chửi”, ai chẳng tưởng là “chai” lắm và chịu đựng hơn ai hết những câu đùa cợt của bạn bè, ấy thế mà không ngờ chỉ vì có một câu - một câu thôi - Tương Huyền và Nguyễn Đình Thấu giận nhau cho đến chết. Nguyễn Đình Thấu là con trai cụ Thượng Quỳ, giàu có, hách dịch, được bố mẹ cho sang Pháp ăn học. Đến lúc về nước, Nguyễn Đình Thấu trả lời các câu hỏi của anh em, vẫn nói rằng anh sang Pháp học nghề đúc chữ (trong khi Đỗ Văn nói rằng ông đỗ kỹ sư nhà in).


Tương Huyền, bạn Nguyễn Đình Thấu, cười mà bảo:


- Anh học nghề đúc chữ mà về nước chẳng làm gì, uổng quá, phí cả cái tài đúc đi. Thôi thế nhưng mà vẫn không cần: mình đúc con cũng được, vì đúc chữ hay đúc con cũng là đúc cả!


Ấy đó, câu chuyện chỉ có vẻn vẹn một câu như thế, vậy mà không hiểu Thấu nghĩ xa xôi thế nào đã cho là Tương Huyền “xỏ chín” mình, sinh sự, muốn ăn thịt nhau, và đôi bạn thâm niên ấy chỉ vì một câu hài hước vô hại mà đổi tình ra thù cho đến chết.


MỘT GIAI ĐOẠN MỚI BẮT ĐẦU


Cả ba cây cười “chuyển tiếp” bây giờ đã hóa ra người thiên cổ. Nhưng nếu đời là một cuộc “tiếp tục” trường kỳ thì ngành văn hoạt kê, cười cợt đến đây cũng chưa kết thúc. Một thời kỳ mới bắt đầu: một bọn mới lên thay đem nhiều mới lạ hơn đến cho văn hoạt kê phúng thế. Đó là thời kỳ của nhóm Lãng Nhân Phùng Tất Đắc, Nguyễn Đình Thấu với những tờ báo trào phúng “Castigat ridendo mores” như Duy Tân, Cri de Hanoi, tờ Dân Mới của Chu Mậu, tờ Chiếu Bóng của Đặng Trọng Duyệt, Đông Tây của Hoàng Tích Chu, Ngọ Báo, Việt Báo với những bài văn cười của Tam Lang.


Thực ra, Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu, nhà thơ vui số một của báo Phong Hóa xuất hiện trước thời này, nhưng vì “đơn thương độc mã” trong tập san kỷ yếu của “Việt Nam Thanh niên hội” nên không thể bật được lên và phải đợi đến lúc Nguyễn Tường Tam ra tờ Phong Hóa mới thành được tên tuổi trong làng thơ vui cười, phúng thế.


(còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Le rire est le propre de l’homme.




(1) Le rire franc, large, spontané séduit et récenforte (Dale Carnégie).




(2) Le rire est non seulement un pulssant thérapeutique mais une véritable source de Jouvence (James Sully).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »