tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994643
01.06.2013
Vũ Bằng
Cười trong văn chương Việt Nam (2)

Chuyện đùa bá hộ Non


Ông Nhiêu Tâm có một người bạn là ông bá hộ Non mà vốn ông không ưa. Một hôm, ông Non hỏi thăm ông Nhiêu Tâm về đời sống hiện thời, ông Tâm liền ứng khẩu đọc một bài thơ tứ tuyệt sau đây để trả lời:


Thấy anh, tôi nghĩ lại tôi buồn,


Tôi nhớ, anh giàu đã quá muôn.


Anh vậy, tôi vầy, trời khiến vậy,


Chúc cho con cháu vậy luôn luôn.


Thuật lại chuyện đùa bá hộ “Non” trên đây(1), ông Hoàng Trọng Thược ghi chú như sau:


Phần nhiều người miền Nam đọc chữ “quá” ra chữ “hóa” và chữ “muôn” ra chữ “muông”. Và muông nghĩa là chó. Vậy “quá muông” là “hóa chó”. Và ông Tâm lại chúc con cháu ông Non về sau này cũng “hóa muông” hết. Ít lâu sau, ông Non mới hay Nhiêu Tâm chửi xỏ mình.


Nhiêu Tâm là một nhà thơ trào phúng miền Nam, cùng thời với ông Học Lạc, tên là Đỗ Thành Tâm, biệt hiệu là Minh Giám.


Nhà ông bá hộ Non có rước một ông thầy đồ về dạy học chữ Nho. Ông này ở xa đến tưởng mình là người văn chương nhất ở trong vùng, nên làm mặt kiêu ngạo. Muốn xỏ thầy đồ chơi, một hôm ông Tâm khăn áo chỉnh tề đến ra mắt thầy đồ.


Ông này tưởng ông Tâm là một người xoàng xĩnh, nên dương dương tự đắc cho mình ở vào một địa vị tiên sinh.


Nhân nói về thơ, ông Tâm mới xin thầy một bài thơ để tập làm. Với tính kiêu ngạo, thầy chỉ vào một cục phân, ông Tâm liền ứng khẩu đọc ngay:


CỤC PHÂN


Bao tử là cha mẹ ruột dồi,


Để không nên chỗ để mày trôi


Chặt chân chẳng nỡ, thây nhằm đạp,


Bịt mũi mà qua đã gớm rồi.


Chẳng chó bắt mèo, ngồi ngửa mặt,


Có tong cùng chốt rước trăm mồi.


Lẫn thay cho lão ngồi câu quẹt,


Chấp chứa làm chi những dòng hôi!


Vẫn theo lời ghi chú của ông Hoàng Trọng Thược, nghe thơ xong, ông đồ đỏ mặt vì đã hiểu rằng ông Nhiêu Tâm cho mình là cục cứt. Ở hai câu viết, ông Tâm lại còn trách ông bá hộ Non sao lại đi rước cái hạng người như thế về. Biết kẻ đối thoại với mình không phải là tay vừa, thầy đồ đứng dậy xin lỗi ông Tâm ở chỗ đã lấy đề “cục phân” mà ra cho ông làm.


Lại một hôm, ông Nhiêu Tâm đang ngồi nói chuyện với một người bạn ở trong nhà bỗng nghe tiếng người con trai ông chọc ghẹo cô hàng bán cau ở ngoài ngõ. Ông bạn thấy thế bảo ông hãy làm cho một bài thơ tức cảnh, ông ứng khẩu đọc ngay:


Hỏi con ai bán tiếng nghe rao,


Tốt vóc mà trong biết thế nào?


Giấu để trong buồng e đóng đục,


Phanh ra trước mặt thấy ngon dao.


Dốc mua nên phải coi từ vú,


Có bán thì cho thử chút nào.


Chuốt ngót của mình ai dám chắc,


Biết lòng, biết mặt, xỉa tiền trao.


Vẫn theo ông Hoàng Trọng Thược, chuyên “Thơ đùa ông huyện Lê Chí Thành tuy đã già nhưng có rất nhiều vợ bé, có bà chỉ độ mười lăm hay mười sáu, còn kém cả tuổi con của ông” cho nên có nhiều ông cha vợ chỉ bằng tuổi con của chàng rể mà thôi.


Trước cảnh đời trớ trêu ấy, ông Nhiêu Tâm cảm hứng làm một bài thơ lấy đề là “Trẻ cha già con” để đùa ông bạn… già gân:


Của đời thấy vậy dửng dừng dưng,


Cha trẻ con già, ngộ quá chừng.


Nọ nọ ông già khờ khịt mặt,


Này này chàng rể rụng trơn răng.


Tham vui chịu lận thương vì lão,


Khéo gã làm chi lạ cái thằng.


Chuyện ở giữa đường ai chẳng nói,


Nói chơi, đéo cả đứa cằn nhằn.


Cùng thời với ông Học Lạc và Nhiêu Tâm ở Nam Kỳ lục tỉnh, còn có nhà thơ cười khác là ông huyện Nguyễn Thiện Kế mà tục gọi là ông huyện Móm và ông giáo Nguyễn Trung Hậu có bài thơ “Lấy chồng Chà Và” nổi tiếng đến bây giờ.


Người ta biết ông huyện Móm vì bài thơ “Tế Chiêu Quân” mà Tản Đà dịch ra để tế một người yêu không lấy được:


Cô ơi, cô đẹp nhất đời,


Mà cô bạc mệnh thợ trời cũng thua.


Một đi từ biệt cung vua,


Có về đâu nữa đất Hồ ngàn năm.


Nhưng ít ai biết rằng ông đã cộng tác với báo trào phúng đầu tiên ở Việt Nam là tờ “Duy Tân” xuất bản ở Hà Nội, do Nguyễn Đình Thấu làm chủ nhiệm và Lãng Nhân Phùng Tất Đắc chủ biên với TchyA Đái Đức Tuấn. Chính ông huyện Móm đã viết nhiều truyện cười bằng thơ vô cùng quái ác trên báo đó, mà bây giờ ai cũng còn nhớ những bài như “Anh thợ cạo”, “Trời sinh ra ta để làm chi, trời sinh ta để mà vi đàn bà” và bài “Cô ả đi chợ” có những câu “thần sầu” như:


Tiền bao thịt, thịt bao tiền, tiền thịt


Bán tôi mua, mua tôi bán, bán mua


Thằng đứng bên ngó thấy trò đùa


- Kìa, nó “ấy” kia kìa mà lặng ngắt


…. rút phắt củ từ ra.


Nước gì trong ấy tuôn ra


Văng vào thầy bói đâm ra phát khùng


“Thằng nào quẳng mở mồm ông?!”


Còn đây là bài thơ “Lấy chồng Chà Và” của ông giáo Nguyễn Trung Hậu:


LẤY CHỒNG CHÀ VÀ


(Hạn vận Chà và la ma tà)


Chẳng lấy An Nam lại lấy Chà,


Ăn cơm không đũa để mà và.


Dầu mè em bâu vui lòng ướp,


Thịt mỡ anh chàng thấy sợ la.


Ngày ngắm da đen in hệt quỷ,


Đêm trông răng trắng khác chi ma,


Khá tua chốn khác vầy duyên thắm,


Phòng cậy nhờ nhau buổi xế tà.


Ở Bắc ở Nam đều có những nhà văn cười nổi tiếng, thì miền Trung dễ gì lại chịu kém hay sao? Miền Trung sản xuất rất nhiều nhà thơ nhà văn cười một cách sâu sắc, ý nghĩa. Đơn cử có một thi sĩ có tiếng là Phan Diện mà ông Hoàng Trọng Thược đã ghi chép như sau:


Quê làng Tùng Ảnh, xã Châu Phong, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh, ông Phan Diện (1864-1945) học giỏi, hay chữ, nhưng thi trượt hoài, vì khoa nào cũng phạm trường quy. Ông phải xoay ra làm nghề dạy học. Tính ngông nghênh, hay làm thơ châm chọc kẻ quyền thế.


Ở Thái Hà ấp (Hà Nội), bên cạnh dinh cơ của Hoàng Cao Khải, có đền “Trung Liệt” thờ các liệt sĩ Hoàng Diệu, Nguyễn Tri Phương và Nguyễn Cao. Họ Hoàng cho đổi tên đền thờ “Trung Liệt” ra là “Trung Lương” với hậu ý về sau này mình chết cũng sẽ được thờ chung vào đó vì đền “Trung Lương” là để thờ trung thần và lương tướng.


Ông Phan Diện làm một bài thơ chửi cả họ Hoàng lẫn nhà nho nào đã xúi họ Hoàng đổi tên đền:


Các cụ liều thân bỏ chiến trường


Ai đem “Trung Liệt” đổi “Trung Lương”?


Thờ bên trung trực, bên gian nịnh,


Thế cũng đền đài, cũng khói hương!


Thơm thối lẫn nhau mùi tắc họng,


Ngọt ngào đầu miệng lưỡi không xương.


Nhà nho lại có thằng nào đó


Luồn cúi, ra vô, bợ “cụ” Hoàng?!


Ông Phan Diện không những chửi cụ Hoàng, lại chế nhạo luôn cả bà Bông là vợ lẽ Hoàng Cao Khải. Lúc bà này chết, Phan Diện có làm hai bài thơ sau đây chửi tưới hạt sen:


VỊNH ĐÁM TANG BÀ BÔNG


Hỏi đám nhà ai, ấp Thái Hà,


Người xem nô nức khắp gần xa…


Toàn quyền, Thống sứ nâng tay cụ,


Nam Định, Hà Đông nể mặt cha(1)


Xe điện đông ném người tứ xứ


Ô tô để chật bãi tha ma,


Tàu bay vặn lái bay qua lại,


Cái gái làng Bông sướng dữ a.


Thay cả quốc dân khóc cụ bà


Non sông nay chỉ thấy ông già!


Biết bao đau đớn người Nam Việt


Há những xôn xao đất Thái Hà!


Lầu đá ngàn năm tơ tưởng ngọc,


Cầu ô một dải ngậm ngùi hoa.


Khen con cháu cụ nhà gia pháp(1)


Cụ nghĩ làm sao phải đạo cha.


Khi vua Bảo Đại và Nam Phương Hoàng hậu, trên đường ngự giá ra Bắc, đi qua huyện Đức Thọ (Hà Tĩnh), viên tri huyện bắt trai tráng bên lương dựng cổng chào và cho các cô gái xếp hàng đầu để đón mừng Hoàng hậu. Trẻ nít đi xem rất đông, chen lấn nhau làm đổ một bức tường đè chết mấy đứa. Nhân việc này, ông Phan Diện làm bài thơ dưới đây:


XIẾC


Xiếc vùng Đức Thọ có vui không?


Cóc nhái hôm nay được thấy rồng!


Gái đạo phát tài cười tủm tỉm,


Trai lương phải tội chạy long tong,


Mề đay xiết kể ơn Hoàng thượng,


Tường đổ thương thay lũ tiểu đồng!


Đố biết vì ai nên nỗi thế?


Vì quan sở tại khéo tâng công!


Lúc ông Phan Diện được cụ Thiếu Vân Đình mời về nhà dạy học, ông được đối đãi rất tử tế: nào là cho ở nhà hai tầng, nào là cho con ông quà bánh luôn. Khi vợ ông chết, cụ Thiếu cũng lo chôn cất tử tế. Thế mà khi chủ nhân làm lễ mừng thượng thọ, ông đi hai câu đối như sau:


“Sung sướng thay cụ Thiếu Vân Đình, con đỗ công, cháu đỗ nghè, ngoài bảo hộ, trong triều đình trời riêng một nhà, gặp hội bông dua đà phủ chí.


“Khuôn khổ quá, ông nghè Liêu Bạc(1), chồng một nơi, vợ một nẻo, nay trời Âu, mai biển Á, đặt chung cả nước, mình gánh vác có ai khen!


Xem hai câu đối, cụ Thiếu Vân Đình giận lắm, đuổi ông ra khỏi nhà và thề từ nay không rước thầy đồ Nghệ nữa.


Trước khi ra đi, ông còn làm một bài thơ thay lời cụ Thiếu:


Ông chủ xung lên đụ mẹ thầy,


Cha con mình phải vố này cay!


Quanh năm nhà ở hai tầng mát,


Mỗi bữa cơm bưng một phạn đầy,


Con trẻ lấy đâu quà cáp mãi,


Vợ già hồ dễ chết chôn ngay,


Bao nhiêu tử tế buông xuôi cống


Thanh Nghệ từ đây buộc chỉ tay!


Bị một “vố cay” như thế mà ông vẫn không chừa cái tánh ngông nghênh, cứ làm thơ cười châm biếm người này, xỏ xiên người khác, mà toàn là những kẻ có quyền thế nên không ai dám rước ông nữa, khiến ông lâm vào cảnh túng thiếu. Ông tự thú trong bài thơ sau đây:


TỰ VỊNH


Ăn chơi như Diện hết khôn ngoan


Khen Diện làm thơ chỉ nói càn,


Đếm lại với đầm không kém nước


Ngày ăn chỉ gạo đã hơn “quan”


Hầu xin thay đổi hay thày cửu,


Gác cửa vào ra mấy chú hàn


Một tháng lấy đầu ba lão sứ(1)


Ngoài sân lũ kiến đứng kêu oan.


Còn chuyện ông Hoàng Mạnh Trí con ông Hoàng Cao Khải, lúc còn ngồi ghế Tổng đốc Nam Định, một hôm về thăm quê nội ở Hà Tĩnh đúng vào dịp trong làng đang có lễ tế thần.


Theo tục lệ ở địa phương thì các quan trong triều, dù chức tước to đến đâu, khi ra đình làng cũng phải ngồi dưới các vị có khoa giáp cao hơn.


Vì vậy, trong buổi ra mắt làng nhân dịp tế thần, ông Hoàng Mạnh Trí được xếp ngồi dưới một vị Hoàng giáp. Bị chạm lòng tự ái và vốn nóng tính, họ Hoàng không dằn được căm tức, bèn hăm đốt nhà văn chỉ của làng và đào mả tổ tiên vị đại khoa ngồi trên mình. Họ Hoàng cũng đã từng bắt giam em vợ và đánh cả thông gia nữa. Nên ông Phan Diện mới làm bài thơ sau đây gởi họ Hoàng:


Diện ở Hà Đông mới lại nhà,


Nghe đồn cụ Lớn tính chua ngoa


Lửa tim toan đốt nhà văn chỉ,


Sướng miệng hăm đào mả đại khoa.


Ba tháng bắt giam con bố vợ,


Một trăm đòi đánh chú thông gia.


Muôn tâu cụ Lớn xin đừng cáu,


Có cáu ông Tây mới gọi là…


Về sau này những truyện cười bằng thơ sản xuất mỗi ngày mỗi nhiều, trong số các nhà văn cười lớp mới, ta có thể kể Cuồng Sỹ, Tương Huyền, Trần Vương, Đồ Phồn, Bạch Diện, nhưng nổi tiếng nhất là Tú Mỡ Hồ Trọng Hiếu.


Trong số thơ cười do Tú Mỡ trước tác, có một số lớn có thể coi như là truyện cười bằng thơ, thí dụ mấy bài sau đây:


SƯ ĐI HÁT Ả ĐÀO


Có hai “sư cậu”chùa Bà,


Ăn no rửng mỡ la cà rong chơi.


Tinh chạy mãi cũng chán đời,


Nên sư phá giới nếm mùi phong lưu.


Lần mò đến xóm hồng lâu,


Ở Ngã Tư Sở cô đầu tìm chơi.


Kinh ân ái, Phật mày ngài,


Sư đang tụng niệm lả lơi với tình.


Ngón chầu tom chát đang xinh,


Bỗng thầy Chánh tổng thình lình tạt qua.


Nhác trông bóng sãi kề hoa,


Bạch sư hổ lửa “đâu mà đến đây?”.


Sư rằng: “Chơi gió chơi mây,


Nhỡ đường vào tạm chốn này trú chân,


Rượu chay nhấp chén tẩy trần,


Hát chay di dưỡng tinh thần miên man.


SƯ CÔ Ở CỮ


Chùa Yên Lạc, phủ Khoái Châu


(Tên sao khéo đặt nên câu hữu tình!)


Có bà sư trẻ xinh xinh,


Tuổi chừng ba chục xuân xanh đang vừa.


Vẻ người bầu bĩnh dễ ưa,


Nõn nà tay ngọc, mởn mơ má hồng.


Tuy duyên lộ vẻ mặn nồng,


Sư bà vẫn muốn hết lòng chân tu.


Nhưng rồi một sáng mùa thu,


Người ta thấy vị ni cô sượng sùng.


Bụng đeo cái trống cà rùng,


Đến nhà thương để tìm phòng khai hoa.


Các ngài Bồ Tát, Thích Ca,


Độ trì phù hộ sư bà trẻ son.


Đẻ ra một cậu sư con,


A Di Đà Phật! Mẹ tròn con vuông.


Đẻ xong từ giã nhà thương,


Gởi con nhà nước lên đường lại tu.


Dốc lòng tu… hú, tu… mu,


Tại miền khoái lạc, cảnh chùa yên vui.


Phật thương rồi cứ quen mùi,


Sẽ năm một, ba năm đôi xòn xòn.


Sinh năm đẻ bảy sư con,


Càng ngày quả phúc càng tròn hơn xưa.


Ngẫm ngày mùng tám tháng tư,


Bụt còn đẻ, nữa là sư?! Ngượng gì!


CÁC ÔNG NGHỊ ĐI XEM ĐỒN ĐIỀN DI DÂN


Người ta mời các nghị viên,


Lên Yên Bái xem đồn điền di dân.


Có quan Công sứ đại thần,


Mới về nhà “xẹc” ân cần thết cơm.


Cần thường đặc biệt An Nam


Cỗ tuy lòng dấm, món làm cũng thơm.


Nào là lòng lợn mắm tôm,


Nào là bò tái chấm tương điểm gừng.


Thịt dê nướng chả thơm lừng,


Tiết dê pha rượu vô cùng bổ dương.


Vịt hầm nhừ biến cả xương,


Thịt nhồi mộc nhĩ nấm hương ngon lành.


Cỗ bàn đủ cả tam sinh,


Rượu ngon nhắm tốt thỏa linh các ngài.


Bữa nay được dịp trổ tài,


Với thời khí vụng ăn thời rất hay.


Của ngon thức thức sẵn bày,


Bát này đĩa nọ hết bay rầm rầm!


Tiệc tan khi đã triệt mâm,


Mặt to tai lớn đỏ hăm hồng hào.


Các ngài chếnh choáng lao đao,


Ra ga bước thấp bước cao lên tàu.


Bồi bàn một lũ theo hầu,


Nước chanh, nước đá, chè Tầu, rượu bia.


Bây giờ men ngấm hao ghê,


Sẵn đồ giã rượu hả hê dạ dày.


Kẻ hầu tíu tít luôn tay,


Các “ông dân” cũng ngớt say tỉnh dần.


Đi xem công cuộc di dân,


Hẳn nhìn mọi sự bội phần lớn to.


Khi về nhớ… bữa say no,


Ghi lòng tạc dạ tái bò chả dê.


Sự thực phân loại truyện cười thành loại truyện vè, truyện bằng thơ như chúng tôi đang làm đây, có lẽ chi tiết quá, nhưng chúng tôi cứ làm là vì hình thức cười này đặc biệt, mà cách gợi cười và bố cục khác hẳn truyện khôi hài và tiếu lâm.


Có thể nói loại này bố cục trình bày không mấy xa với truyện khôi hài, lấy lời lẽ văn chương để đỡ cho chuyện, lấy tả hình tả cảnh để làm nổi cái cười lên, nhưng dù sao ta thấy truyện khôi hài hay truyện vè, truyện bằng thơ cũng vẫn có sẵn một tinh thần châm biếm, trào phúng ở bên trong, nếu phân loại truyện cười mà lại chia ra một loại kêu là truyện trào phúng, e rằng hơi thừa một chút.


3. TRUYỆN TIẾU LÂM


Trước khi nói về truyện tiếu lâm, tôi xin trình bày ý kiến của riêng tôi về loại truyện vè, truyện bằng thơ.


Truyện khôi hài là một truyện cười có thể viết dài hơn truyện tiếu lâm và có những đoạn tả cảnh tả tình để làm bật câu chuyện lên, nói một cách khác là tác giả trong câu chuyện có thể “tán” lăng nhăng một tí.


Truyện vè, truyện bằng thơ, tựu trung cũng giống truyện khôi hài, nhưng trong khi kể chuyện, tác giả có xen vào đó một tí triết lý, một ít ý tưởng ngộ nghĩnh của mình vào đó, ngoài chương mục tả cảnh tả tình.


Nhưng đến truyện tiếu lâm thì khác hẳn.


Bàn về truyện tiếu lâm, ông Nguyễn Ngọc Côn đã viết như sau:


Truyện tiếu lâm, thực ra, không phải là một loại truyện vui cười riêng biệt nếu xét về nội dung và mục đích. Theo như cái tên gọi của nó và xét về nội dung và mục đích của nó, nó chẳng qua là truyện vui cười nói chung, dẫu là khôi hài, dẫu là trào phúng.


Theo như truyền thuyết (đã kể lại ở trên) thì truyện được sưu tập theo tiêu chuẩn sau: truyện dân gian có tác dụng gây cười không kể thanh hay tục.


Như vậy thì lúc đầu danh từ “truyện tiếu lâm” có nghĩa rất rộng, và cũng không nhất thiết mang yếu tố tục như chúng ta hiểu ngày nay. Nhưng theo quan niệm thông thường thì phải thấy rằng truyện tiếu lâm là những truyện khôi hài và trào phúng trong đó có yếu tố tục. Ở các truyện tiếu lâm, tác giả thường vạch ra những điều, những việc, những vật thầm kín người ta thường che giấu (ví dụ: ở bẩn, đánh rắm, ăn vụng, v.v…) và nhất là sinh thực khí của nam và của nữ cùng là những việc liên quan đến sự nam nữ phối hợp v.v… Tại sao trong một số truyện khôi hài và nhất là trào phúng, người ta lại thêm yếu tố tục vào?


Chính là vì ở nước ta, lễ giáo phong kiến mà bọn thống trị cố gắng tuyên truyền, củng cố, rất úy kỵ cái tục. Lễ giáo phong kiến muốn trang sức cho trật tự phong kiến một vẻ nghiêm trang bề ngoài, muốn tô vẽ cho nhân vật phong kiến một nét mặt, một tư thế đạo mạo giả tạo.


Nhưng nói những nhân vật trong giai cấp phong kiến sợ yếu tố tục không có nghĩa là chúng sống trong sạch.


Ở chúng, cái thẩm mỹ cầu kỳ bay bổng và những dục vọng hạ cấp là thống nhất. Nhân dân có ý thức về điều đó, cho nên trong khi cười, bản thân cái cười đã phá tan không khí trang nghiêm ấy rồi, lại còn pha thêm vào việc đáng cười yếu tố tục.


Yếu tố tục đó khi được kể lên, đã có tính cách phản phong, bất luận là nó được ghép vào sự việc gì, được ghép cho ai, nhưng khi nó lại được ghép vào các hiện tượng trong cuộc sống của nhân vật phong kiến ở trong truyện thì tính chất phản phong càng mạnh hơn.


Với yếu tố tục kể lên trong truyện vui cười, nhân dân đã ném vào bộ mặt giả đạo đức của phong kiến những cái mà chúng cho là “bùn nhơ”, là “bẩn thỉu”, những cái mà thực ra chúng vẫn giấu giếm một cách thầm kín. Với yếu tố tục có ý nghĩa phản phong, có giá trị tố cáo, có tác dụng khóa họng kẻ thù, nhân dân làm cho tính chất khôi hài và nhất là trào phúng được nâng lên đến độ chót của tinh thần phê phán, làm cho tiếng cười giòn giã hơn, sự chế giễu triệt để hơn. Và đó là đặc điểm của truyện tiếu lâm.


Trở lên trên là ý kiến của ông Nguyễn Ngọc Côn trong sách “Giáo trình lịch sử văn học Việt Nam” tập I. Phải nói ngay rằng, tôi đồng ý với ông Nguyễn Ngọc Côn rằng truyện tiếu lâm, theo truyền thuyết được kể là một loại truyện gây cười bất kể thanh hay tục, nhưng theo quan niệm thông thường thì truyện tiếu lâm phải có yếu tố tục.


Thực tế, không ai có thể cãi rằng chuyện anh chàng dọa “nếu phải tay ông thì ông cất váy vợ từ lúc trời chưa mưa”, chuyện “chủ tịch hội sợ vợ chết cứng trước bàn thờ”, chuyện “ông đồ liếm đĩa mật”, v.v… không phải là chuyện tiếu lâm. Lúc sưu tập các chuyện tiếu lâm thành ba cuốn đề là “Tiếu lâm quảng ký” cụ Thọ An (tức là cụ Phạm Duy Tốn, thân phụ thạc sĩ Phạm Duy Khiêm và nhạc sĩ Phạm Duy Cẩn tức Phạm Duy) đã làm một việc rất đúng với truyền thuyết tiếu lâm, rất đúng với danh từ tiếu lâm mà nhân dân thường hiểu: không phân biệt thanh và tục, chỉ có tính cách gây cười là truyện tiếu lâm. Nhưng ai đã đọc truyện tiếu lâm và rất thành thực với mình, với người, đều phải nhận rằng đọc những truyện tiếu lâm có “tính chất tục tằn một tí” như “nó thú hơn”. Do đó sau này, có người quan niệm rằng “đã là truyện tiếu lâm thì phải tục, nếu không tục không phải là truyện tiếu lâm”.


Quan niệm như thế hơi khe khắt. Muốn cho thực đúng, ta phải nói rằng xem truyện cười nào, nếu có khả năng làm cho ta cười, đều thích thú, nhưng làm cho người ta thường thích thú nhiều nhất là những truyện cười có pha cái tục tằn và càng tục tằn bao nhiêu thì càng được hoan nghênh chừng ấy. Riêng tôi đọc truyện tiếu lâm của cụ Thọ An sưu tập từ lúc lên chín lên mười tuổi. Theo kinh nghiệm mà đến ngày nay tôi rút tỉa được thì bây giờ tôi còn nhớ rõ nhất và thú nhất vẫn là những truyện tục tĩu như “Con mắt dọc”, “Vỡ bình rượu”, “Thơm như múi mít”, “Úm ba la ba ta cùng khỏi”, “Thả cả ra cho nó chết”, “Vết thương sáu mươi năm không lành”, “Mày ỉa ra đây ông cũng chịu” tức truyện “Ăn quen bén mùi”…


Tại làm sao người ta thích những truyện tục tằn như thế? Ông Nguyễn Ngọc Côn cho rằng lễ giáo phong kiến, do bọn thống trị tuyên truyền, củng cố, muốn bịp nhân dân, đưa ra cái vấn đề tục tĩu để tự tạo cho chúng một bộ mặt oai nghiêm giả dối. Lý lẽ đó có lẽ đúng một phần nào. Riêng tôi thấy rằng vượt hẳn lên trên vấn đề giai cấp, bất cứ dưới thời đại nào và bất cứ ở dải đất nào, loài người cũng ưa cái tục. Thêm nữa đạo đức của loài người nói chung - chớ không phải riêng bọn phong kiến, quan liêu - lại cấm cái tục nên người ta nói chung lại càng ưa cái tục, nhưng không dám để lộ ra mặt hay tỏ ra thích thú công khai nên phải tìm cách để che đậy mà thôi. Thảng hoặc cũng có một số người vì thấm nhuần, vì bị đạo đức chèn ép quá nên thành thực chê cái tục, khinh bỉ cái tục, nhưng đó là một thiểu số không đáng kể vì họ, một là những ông thánh, hai là những người không bình thường.


Ngoài ra, như đã nói ở trên, hầu hết mọi người ở trên đời, không kể là tư bản, tư sản, tiểu tư sản, nông công… ai cũng đều thích tò mò, muốn biết cái tục ra sao và thích nghe những chuyện tục, đúng như trẻ con thích nghe chuyện ma quỷ, dù biết rằng nghe chuyện ma quỷ thì sợ lắm, đêm nằm không ngủ được. Ở dưới những chế độ đạo đức, theo lễ giáo Đông phương, người ta cũng thích nghe những chuyện tục tĩu như thế, nhưng biết rằng kể chuyện tục tĩu hay nghe chuyện tục tĩu thì đáng chê nên họ kể hay nghe một cách giấu giếm - mà giấu giếm như thế, sự thích thú lại càng tăng lên bội phần.


Truyện tiếu lâm được thích thú một phần vì yếu tố tục và yếu tố tục là đặc điểm số một của truyện tiếu lâm. Nói như thế không phải bảo rằng những truyện tiếu lâm không tục tĩu không được hoan nghênh; trái lại, có nhiều truyện tiếu lâm không tục tĩu mà vẫn hay như thường, nhưng phải nói thực rằng hầu hết những truyện tiếu lâm hay được hoan nghênh hết sức đều là những truyện có pha mùi tục tĩu liên quan đến sinh thực khí của đàn ông đàn bà, những chuyện giao tình, những mâu thuẫn, éo le, trúc trắc về vấn đề chăn chiếu…


Nhưng yếu tố tục chỉ là một điểm trong truyện tiếu lâm. Có yếu tố tục rồi mà bố cục và thuật lại không theo đúng phương pháp tiếu lâm cũng không thể thành truyện tiếu lâm.


Theo tôi, yếu tố thứ nhì để đúc nên một truyện tiếu lâm là một sự việc nhất định, trong một hoàn cảnh nhất định, kể theo một khuôn khổ nhất định. Có đủ yếu tố tục, có sự việc và hoàn cảnh nhất định rồi mà kể lể dài dòng thì truyện sẽ kém sức hấp dẫn và rất có thể hóa ra truyện khôi hài - mà tác giả không hay.


Thí dụ, truyện “Úm ba la ba ta cùng khỏi” hay truyện “Con mắt dọc”, nếu bây giờ đem kể lể dài dòng như truyện “Người con gái với cây đàn” của nhà văn khôi hài nước Nga thì truyện chắc chắn sẽ nhạt nhẽo. Cái bí quyết kể chuyện tiếu lâm là phải nói hay viết cách nào cho không thừa lời, tựa như “lối văn đánh điện tín” vừa đủ nghe để đánh đùng một cái đi đến cái kết luận không ai biết trước. Thí dụ như cái lầm trong truyện “Con mắt dọc”, người ta đã thấy tác giả sắp xếp cái lầm của người vú già và ông lang ra sao: cái bảng vẽ con mắt không treo ngang lại treo dọc, làm cho vú già đi chạy thuốc cho cô chủ lại tưởng là “cái kia”. Hứng thú là chỗ ông lang đánh màng cho cô nọ rồi cô nọ bật cười té đái ra.


Tất cả những diễn biến ấy người kể chuyện hay viết truyện tiếu lâm chỉ tốn có mươi dòng chữ, nhưng mỗi một chữ là mỗi một hồi hộp, một say sưa. Chính người đọc muốn kéo dài phút hồi hộp, say sưa đó ra, nhưng người kể chuyện hay viết truyện tiếu lâm không chịu kể ngay đến đoạn kết. Nhưng tài nhất là cái đoạn kết, lại không có ai tưởng tượng được: hầu hết đều cho rằng ông lang biết lầm rồi ngã ngửa ra kêu trời đất là xong chuyện, nhưng không, kết ly kỳ và tức cười hơn thế. Ông lang nói:


“Thôi chết tôi, l… rồi!”.


Tức thì ông khạc nhổ, quát tháo và gọi người nhà ầm lên lấy nước để cho ông súc miệng!


Thứ nhất là ông súc miệng kỹ như thế sau khi đã “đánh màng” cho cô gái nọ mấy ngày rồi!!!


Đó là hai điểm đặc biệt của truyện tiếu lâm, không làm cho loại truyện này giống một thể văn vui cười nào khác. Tôi nhận là truyện tiếu lâm có tính cách chế giễu, phê phán, và xỏ ngọt các giai cấp được ưu đãi trong xã hội, những tên tôi tớ của quan liêu, những bọn tay sai của phong kiến, nhưng công bằng mà nói thì truyện tiếu lâm, theo đúng bản chất của nó, phải nhắm trước hết vào việc tạo cười, và gây cười cho bất cứ giai cấp nào trong xã hội bởi vì một ông quan xấu phải cười, một chị ăn vụng phải chế, một anh dê xồm phải giễu, nhưng nếu có một anh lao động, một ông đồ, một nông dân, một chị thợ cấy… mà thối, mà đểu, mà xằng bậy thì cũng cứ phải chế giễu, cười cợt như thường để răn người khác. Vì thế, tôi cho rằng, truyện tiếu lâm là một thứ truyện “nhân loại” nhất trong các loại truyện, không kiêng nể một ai, từ vua chúa đến quan liêu, từ ông quan đến người dân, ai có lỗi đều giễu hết, không sợ ai cả, không bênh ai cả. Có thể nói đó là điển hình của một thứ văn nghệ lấy “lấy công bằng xã hội” làm cứu cánh, bất chấp giai cấp, bất chấp chủ nghĩa, bất chấp luôn cả đạo đức của bọn quan liêu phong kiến đặt ra để mị dân và che giấu cái bộ mặt điếm đàng, giả dối của chúng.


PHẠM DUY TỐN, VUA TIẾU LÂM


Trên kia tôi đã nói về truyền thuyết tiếu lâm do Đặng Thai Mai kể lại trong tạp chí “Trí Tân” xuất bản ở Hà Nội trước khi xảy ra Thế chiến thứ nhì. Hai cha con ông đồ vì “san nhuận” truyện tiếu lâm mà ăn xong bữa thịt chó, bò ra cười đến nỗi đứt ruột ra mà chết, đó chỉ là truyền thuyết, nhưng có thể là chuyện bịa cũng như Trình Giảo Kim ngày xưa sướng quá, cười mà chết. Dẫu sao, thấy cái truyền thuyết như thế, ta cũng nên mừng cho cụ Phạm Duy Tốn sau này cũng sưu tập truyện tiếu lâm mà không đến nỗi đứt ruột một cách oan uổng như hai cha con ông đồ nói trên.


Theo chỗ biết của tôi, Phạm Duy Tốn mới thực là người “chịu chơi”. Sinh vào đúng lúc giao thời, cả nước nghiêm trang theo phong trào Duy Tân, Đông Kinh Nghĩa Thục, ông đã có gan sưu tập loại truyện cười của dân gian thành ba cuốn “Tiếu lâm quảng ký” để bản quyền cho nhà xuất bản Ích Ký phố Hàng Giấy, rồi sau này nhà này lại nhường quyền lại cho nhà Quảng Thịnh phố Hàng Gai Hà Nội.


Mặc dầu không viết tựa và phân loại các truyện sưu tập, cụ Phạm Duy Tốn đã để lại cho người ta thấy rằng các truyện cụ sưu tập, ngoài mục đích gợi cười khiển hứng còn nhắm mục đích chung là chế giễu bất cứ ai trong xã hội có tính xấu nết hư chớ không nhằm riêng giai cấp nào trong xã hội.


Thường thường các truyện tục tĩu vẫn được người ta ưa đọc, như trên kia đã nói, nhưng không phải bất cứ truyện tục tĩu nào cũng được ưa thích cả. Có một số truyện tục tĩu người đọc cảm thấy nhơ bẩn, thấp hèn, ghê tởm. Tại sao lại có sự khác biệt đó?


Theo tôi, đó là tại vì nghệ thuật của người kể chuyện. Có đề tài gợi cười, có cách bố cục lôi cuốn, nhưng muốn cho người ta ưa thích ham mê, người kể chuyện tiếu lâm hay viết truyện tiếu lâm còn cần phải có một cái tài riêng.


ĐỀ TÀI GỢI CƯỜI


Về đề tài các truyện vui cười, ông Nguyễn Ngọc Côn đã viết như sau:


Cũng như đối với bất kỳ một tác phẩm văn học nào, công việc sáng tác truyện vui cười cố nhiên phải bắt đầu ở sự lựa chọn đề tài.


Gây cười là cả một nghệ thuật, nhưng nghệ thuật muốn có được giá trị đầy đủ, đòi hỏi phải có những đề tài lý thú, tự chúng đã có khả năng gây cười, đó là yếu tố đáng cười. Vì thế có người đã nói một cách có lý rằng đề tài có tính chất đáng cười là vật liệu để xây dựng cái cười. Tác giả truyện vui cười do đó thường khai thác đề tài trong những phương tiện phong phú của những mâu thuẫn trái tự nhiên: một anh chàng ngu ngốc, nghênh ngang và đãng trí mà lại đi ăn trộm; một anh lính gửi tiền về cho vợ nhưng lại quá “cảnh giác” đến mức không viết bằng chữ thường mà lại vẽ bốn con chó, một cái bát quái, hai con dê và một cái chũm chọe; một ông quan võ mà lại thích làm thơ; một bực “dân chi phụ mẫu” mà lại sợ vợ; một bà huyện đánh rắm - một sơ suất cũng lặt vặt thôi - nhưng lại cứ muốn đổ “tội” đó cho đầy tớ, v.v…


Nhưng đề tài, nếu là một điều kiện thứ nhất trong quá trình làm ra cười, vẫn chưa phải là điều kiện chủ yếu. Giới thiệu những “mẫu” người như trên mới là bước đầu thu hút sự chú ý của chúng ta mà thôi. Một nhân vật chỉ bộc lộ đầy đủ bản ngã của nó và do đó gây cười được là khi nó ăn nói, đi đứng, hoạt động trong những hoàn cảnh nhất định.


Vì vậy, nghiên cứu phương pháp gây cười, ta thấy đại thể có mấy trường hợp: lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười, và rộng lớn hơn nữa, hoàn cảnh đáng cười.


Một số khá lớn truyện cười đã lấy một lời nói ngộ nghĩnh (nghĩa là trái tự nhiên, không hợp lẽ thường hoặc máy móc) để gây cười. Thí dụ như truyện “Đánh chết nửa người”, “Sao văn tế”, “Mồ hôi sang cả mình con”, v.v… là những truyện chủ yếu dùng những lời nói đáng cười để gây cười.


Một số truyện khác đã lấy một cử chỉ, một tư thế hoặc một hành động ngộ nghĩnh, oái oăm để gây cười. Thí dụ như truyện “Đẻ ra sư”:


Một chị đàn bà lội xuống ao mò cua, chẳng may cua cắp phải bẹn đau quá kêu vang lên. Một ông sư nhân đức đi qua bèn dừng lại để cứu. Sợ uế tạp, không dám mó tay, bèn ghé miệng lấy răng cắn con cua ra. Chẳng ngờ và chẳng may con cua còn một cái càng nữa, quắp ngay vào mồm sư. Có thằng bé đi qua thấy thế reo lên: “A a, mẹ tao đẻ ra sư!”.


Tư thế của nhà sư thật đáng cười, vì nhà sư thường thì phải xa phụ nữ mà ở đây con cua đã cặp bẹn chị đàn bà và môi sư không gỡ ra được. Cử chỉ của sư sợ uế tạp, không dám dùng tay mà lại dùng răng cũng là một cử chỉ vô lý, tức cười.


Những truyện như “Thầy đồ liếm đĩa”, “Con ruồi và quan huyện”, “Bắt chước bố vợ”, v.v… thuộc loại truyện trong đó cái đáng cười chủ yếu là ở cử chỉ máy móc, hoặc trái tự nhiên, vô nghĩa lý.


Lại có những truyện khác nêu lên hoàn cảnh đáng cười. Trong những truyện này, nội dung thường phức tạp hơn hai loại trên. Lấy thí dụ truyện “Cháy”, mà tôi đã thuật lại trên kia và truyện “Nam mô boong”. Truyện “Cháy” - như các bạn đọc sách này đã thấy - bố trí một hoàn cảnh trong đó hai người hiểu lầm nhau. Trong truyện không phải lời nói đáng cười (như truyện “Người không có mồm”(1)) vì xét cho kỹ thấy câu trả lời của đứa bé trong truyện “Cháy” rất tự nhiên: nó đang nghĩ tới tờ giấy (xem lại truyện “Cháy” ở trên). Sự ngạc nhiên của ông khách cũng rất có lý vì ông ta đang nghĩ đến bố đứa bé. Chúng ta cười không phải vì những lời nói, mà vì là được chứng kiến một sự hiểu lầm ngộ nghĩnh. Ở đây có hai luồng ý nghĩ cùng tiến diễn song song và nhập nhằng với nhau. Đứa bé chỉ nghĩ đến tờ giấy của bố nó, tờ giấy sẽ giải quyết mọi việc hỏi han của khách khứa. Nó hồn nhiên theo đuổi ý nghĩ của nó về tờ giấy và trả lời một cách tự nhiên những câu hỏi phù hợp với việc nó làm mất tờ giấy. Trái lại, khách chỉ nghĩ đến bố nó (mà biết sao được việc có mảnh giấy) và càng hỏi càng thấy đứa bé trả lời hợp với câu của mình hỏi, lại càng ngạc nhiên, sửng sốt. Xét cho cùng, cái đáng cười là ở chỗ bố trí một hoàn cảnh trong đó mỗi người đều hành động một cách hợp lý, nhưng lời nói hai người ghép lại thì tưởng là hợp với nhau nhưng thực ra không hợp. Phức tạp hơn truyện này là truyện “Nam mô boong”.


Xét về nghệ thuật gây cười, truyện này còn có lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười và hoàn cảnh đáng cười. Khi lý trưởng kêu “gàn gàn” và nhất là nhà sư kêu “Nam mô boong”, chúng ta cười vì ở đây con người, bắt chước giống vật và đồ vật, nhất là trong câu “Nam mô boong” thì tiếng kêu lại nửa người, nửa đồ vật. Khi thấy thầy đồ vốn xưa nay đạo mạo, lẽ ra cái khăn trót rơi xuống đất thì thôi không thèm đội lên đầu, cái chiếu trên giường lành thì không thèm ngồi, nay chui vào trong hòm váy áo; thầy lý vốn xưa nay thét ra lửa, miệng có gang có thép, ngồi ngất ngưởng chốn đình trung, nay phải chui gầm giường và kêu như chó; nhà sư xưa nay trang nghiêm nay phải treo lên như cái chuông và kêu “boong boong”. Chúng ta cười vì cử chỉ, tư thế của họ có điều trái tự nhiên, không hợp lẽ thường, ngộ nghĩnh, nhất là vì họ là người mà phải giữ tư thế của vật hay sự vật. Ngoài ra bao trùm lên tất cả, được xây dựng bởi tất cả những chi tiết đó hợp lại hoàn cảnh đáng cười: ba anh dại gái ngẫu nhiên lại là ba người tiêu biểu cho thế lực phong kiến, bề ngoài đạo mạo, oai vệ, nay lại lộ nguyên hình, ba lần ba người đều hoảng sợ như nhau, ba lần ba người đều mắc mưu và chịu thua như nhau. Hoàn cảnh oái oăm phức tạp đó thật là ít có, thậm chí khó mà có được, và nếu có thì thật là một sự khác thường. Ba nhân vật lâm vào thế bí, cố gắng sinh động đóng vai của mình trong một màn kịch bất đắc dĩ phải tham gia, hoàn cảnh đó thực là tức cười.(1)


Nói chung các yếu tố kể trên (lời nói đáng cười, cử chỉ đáng cười) ít khi được sử dụng đơn độc, ở trong các truyện ngắn đôi khi có thể chỉ tìm thấy một trong những yếu tố đó, nhưng ở đại đa số các truyện khác là truyện dài, các yếu tố trên được pha trộn để gây cười.


Chúng ta phải nhận rằng ông Nguyễn Ngọc Côn phân tích nghệ thuật truyện vui cười đã công phu, đầy đủ, nhưng theo tôi, điểm đáng kể hơn hết là phương pháp viết truyện cười. Đó là một điều cần phải nghiên cứu.


Đã đành lời nói, cử chỉ, hoàn cảnh càng trái tự nhiên, máy móc bao nhiêu, càng khác thường bao nhiêu thì tiếng cười gây được càng mạnh mẽ bấy nhiêu, nhưng có đề tài và tất cả các yếu tố vừa kể trên mà không viết theo nghệ thuật riêng thì truyện cũng vẫn có thể nhạt nhẽo mà tiếng cười không đậm đà. Cái nghệ thuật viết truyện cười, theo tôi, đòi hỏi một phương pháp đặc biệt: phải làm sao cho truyện không được loãng, bất cứ tình tiết gì xét ra vô ích, không cần thiết đều phải bỏ đi. Vì thế như trên kia đã nói, văn tiếu lâm phải là thứ văn cô đọng, văn “điện tín”, biết nhấn vào những đoạn phải nhấn, biết bỏ những chi tiết tầm thường, nói một cách khác, người kể chuyện tiếu lâm, viết truyện tiếu lâm phải nhậy như điện, làm cho người nghe phải “giựt” lên như bị điện giựt.


Về sau này, có nhiều người viết lại truyện tiếu lâm, nhưng trong các sách tiếu lâm xuất bản kể cho tới bây giờ, tôi vẫn chưa thấy bộ nào - theo ý riêng của tôi - mà lại viết đúng nghệ thuật, đúng phương pháp như bộ “Tiếu lâm quảng ký” của cụ Phạm Duy Tốn. Lúc viết tập này, tôi không có ba cuốn ấy dưới tay, nhưng tôi nhớ chắc chắn ba cuốn ấy xuất bản khổ nhỏ bằng bàn tay mà truyện dài nhất viết chỉ hơn một trang, còn truyện ngắn có khi chỉ mươi mười hai dòng là hết sức.


Các truyện tiếu lâm Tây cũng thế. Cái cười phát ra từ các truyện đó, không bị loãng. Chỉ tiếc một điều, cái kho tàng tiếu lâm ta rất phồn thịnh, mà cho đến tận bây giờ chúng ta vẫn chưa có ai nghĩ đến việc chia ra từng loại như của Pháp, Anh chẳng hạn, nghĩa là xếp cái cười theo từng thành phần xã hội để xem cho đầy đủ. Người ta biết rằng Pháp có không biết bao nhiêu loại tiếu lâm: có thứ tiếu lâm chế giễu các nhà tu, có thứ tiếu lâm đọc trên xe lửa, có thứ tiếu lâm của lính thủy, có thứ tiếu lâm của các cô trong nhà tu kín…


Chúng tôi ao ước rồi đây trong chúng ta sẽ có những người sưu tập thật đầy đủ truyện tiếu lâm ta và cũng xếp hạng như thế để trước là ghi lấy cái tiếng cười thiên tài của dân ta và sau để bảo tồn một kho tàng văn chương dân gian hết sức quý giá mà không thể bất cứ ai cũng có thể sáng tác được.


Bởi vì theo ý chúng tôi thì tạo ra truyện tiếu lâm, không phải một nghệ sĩ, văn sĩ nào cũng có thể làm được. Có kiến thức chở nặng hàng xe không làm gì, nhưng cái cần là phải có thiên tài, mà không phải là ai cũng có thiên tài được. Thiên tài là không phải do sự học mà có, nhưng là cái của báu mà chỉ có một số ít người được tạo hóa cho thọ hưởng. Cái thiên tài ấy là tinh hoa của văn hóa đất nước kết tinh lại và truyền cho dân tộc, và trong dân tộc cũng chỉ có một số ít người được hưởng mà thôi, chớ không phải bất cứ người dân nào biết một vài truyện tiếu lâm nói riêng, truyện cười nói chung, mà cũng thành ra thiên tài về cái cười, về văn thơ được.


Có một điều là cái thiên tài ấy nếu được hướng dẫn đúng đường thì phát triển vô hạn lượng, nhưng nếu bị chèn ép thì sẽ bị thui chột hoặc bị đẩy sang một con đường lầm lạc. Muốn vậy, việc đầu tiên chúng ta phải làm là phải bỏ ngay, tiêu diệt ngay cái quan niệm cho rằng truyện khôi hài, truyện tiếu lâm, truyện vè, truyện cười bằng thơ là những truyện nhảm nhí, không đáng kể - nếu không muốn nói là có hại.


Có bỏ được quan niệm ấy, có nâng văn cười lên một địa vị xứng đáng của nó trong văn học sử, có tìm các cách để cho văn cười phát triển đến tận cùng mức độ của nó thì mới thâu được hết cái lợi của tiếng cười và ý nghĩa nhân sinh của nó.


Nhưng muốn được như vậy, trước hết người ta phải làm thế nào để gạt bỏ hết cả thành kiến cũ rích của bọn giả đạo đức lấy lý do luân lý lễ giáo để cấm truyện tiếu lâm, truyện cười. Chúng tôi muốn tiến hơn một chút nữa: phải đặt văn cười vào trong chương trình trung học và đại học để cho các sinh viên thấu hiểu tác dụng của tiếng cười và khơi sâu thêm thứ văn hóa dân gian đó - thứ văn hóa dân gian mà có người đã lên tiếng, khuyên phải bảo trì và phát triển.


“Chúng ta gạt bỏ châm biếm ư? Không! Châm biếm sẽ mãi mãi cần thiết. Nhưng có mấy loại châm biếm: có cái để đối phó với kẻ thù, có cái đối với bạn đồng minh, có cái châm biếm đối với ngay trong đội ngũ của mình, thái độ thì không giống nhau. Chúng ta, nói chung, gạt bỏ châm biếm lung tung, không có mục đích, không phân biệt bạn thù”.


Chúng tôi đồng ý với những câu trên nhưng dùng chữ “châm biếm” e rằng hơi chật hẹp. Chúng tôi muốn nói chung tất cả các loại văn cười, chúng tôi cho rằng đã cười để xây dựng thì không cần phân biệt thù hay bạn.


Bất cứ cái gì xấu thì cười, cái gì đẹp thì khen chớ không lý gì bạn xấu mà cứ phải khen, còn người khác xấu thì xô nhau lại mà cười. Cười như thế là thiên vị, là kỳ thị. Chúng tôi mong rằng tiếng cười sẽ kéo dài ra từ thế kỷ nọ sang thế kia, từ nước này sang nước khác, từ thái cực này sang thái cực kia và dân gian Á - Âu cũng như Mỹ… đều tiếp tục sáng tác văn cười để đấu tranh cho cái đẹp, đả phá cái xấu, giúp cho sự thắng lợi của tư tưởng mới, nếp sống mới, tình cảm mới và tiêu diệt những chủ trương bất chính, những tác phong bất chính, những mưu toan bất chính của con người nói chung.


 (còn tiếp)


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


____


(1) Thơ ca châm biếm, trào lộng Việt Nam.


(1) Hai con của Hoàng Cao Khải là Hoàng Mạnh Trí, Tổng đốc Nam Định và Hoàng Trọng Phu, Tổng đốc Hà Đông (lời ghi chú của tác giả T.C.C.B.T.L.V.N.).


(1) Trong dịp đám tang này, Hoàng Mạnh Trí đánh Hoàng Trọng Phu trước mặt Hoàng Cao Khải.


(1) Tức ông Nguyễn Thượng Hiền (lời chú giải của ông Hoàng Trọng Thược).


(1) Ba lão sứ: ba nải chuối sứ (lời chú thích của ông Hoàng Trọng Thược).


(1) Truyện do Phạm Duy Tốn kể: Một ông kia râu ria rậm rì che kín cả mồm đi ngoài đường. Có một lũ trẻ trông thấy reo lên: - Ơ ơ, ông kia không có mồm! Ông nọ tức quá, không thèm nói nhưng sau thấy trẻ cứ ơ ơ không có mồm mãi, tức quá, vén râu, vạch mồm ra mà quát lũ trẻ: - Chẳng mồm là l… mẹ chúng mày đây à? (Chú thích của tác giả).


(1) Theo câu chuyện “Sư boong” do anh em báo Công Dân kể lại thì câu chuyện này chỉ có một nhân vật là ông sư.


Một ông sư tòm tem một chị đàn bà. Chị ta ghét ông sư tư lụi muốn làm cho sư ta một phen điêu đứng. Ả bèn hẹn một đêm tối trời gặp nhau. Nhà sư thích quá đúng hẹn đến nhà người đàn bà nọ. Đương tán tỉnh nọ kia thì có tiếng người gõ cửa. Chị đàn bà làm ra giọng sợ nói: “Chết tôi rồi, chồng tôi nó về, biết làm sao bây giờ?”, bèn bảo nhà sư chui vào trong cái bao tải, buộc lại, treo lên xà nhà và bảo phải ngồi yên, chị ta nói dối chồng là cái chuông mới mua để cúng vào chùa, khi nào chồng chị ta đi, chị ta sẽ lấy xuống và lại hú hí với nhau. Sư nghe chịu lắm. Chẳng may hai vợ chồng chị này đã ăn ý với nhau từ trước. Anh chồng hỏi: “Cái gì treo kia”. Chị vợ bảo: “Cái chuông”. Anh chồng à một tiếng rồi khen chuông lớn. “Nhưng không biết chuông có kêu không? Để thử đánh mấy cái xem ra thế nào?”. Anh ta nói xong, cầm một cái vồ đánh choàng mấy cái vào cái bao tải. Trong bao tải, ông sư cuống bắt chước tiếng chuông kêu “boong, boong”. Nhưng sau bị đánh đau quá, cái chuông lên tiếng lậy om lên: “Lậy ông, con là sư ạ. Boong boong! Con là sư… Boong! Boong!” (Ghi chú của tác giả).


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »