tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19002258
Tiểu thuyết
29.05.2013
Hoài Anh
Đuốc lá dừa

Vừa nói Đờ la Gờ-răng-đi-e vừa giương cặp mắt xanh lè nhìn thẳng vào hai vị quan Nam triều để uy hiếp. Y đã biết thóp các vị quan này cứ đánh đòn phủ đầu thiệt mạnh là họ phải chùn. Thấy đối phương hơi biến sắc, y lại càng làm già:


- Hiện nay, bọn làm nghịch cứ đem quân đánh thọc vào ba tỉnh miền Đông xong lại rút ba tỉnh miền Tây một cách an toàn.- Y xoè rộng hai bàn tay ra hai bên. Cứ để nguyên cho các ông cai quản ba tỉnh miền Tây có khác nào nuôi cái nhọt bọc hay không. Nhiệm vụ của chúng tôi là phải trừ bỏ mối họa ở cạnh nách để để đảm bảo sự an toàn cho những miền đất thuộc quyền người Phú Lang-Sa.


Phan Thanh Giản bực bội:


- Các ông chỉ viện cớ để vi phạm hòa ước Nhâm Tuất mà thôi. Chúng tôi đã cố gắng hết sức mình trong việc ra lệnh cho nghĩa binh không được xâm phạm đến ba tỉnh miền Đông, để giữ mối tình giao hảo vời người Phú Lang-Sa. Đến các ông có binh lực hùng hậu trong tay mà không ngăn cản được họ, huống hồ là chúng tôi. Ngay cả công việc của hoàng gia nước Cao Miên mà các ông cũng trách cứ ở chúng tôi thì lạ thiệt!


 Đờ la Gờ-răng-đi-e vừa nói vừa đưa mắt nhìn lên boong tàu:


- Người Phú Lang-Sa có toàn quyền trong việc tự bảo vệ lấy mình. Chính các ông mới là người vi pham hòa ước Nhâm Tuất.


Phan Thanh Giản gay gắt:


- Thì chính việc các ông đem tàu chở khí giới đến trước thành Vĩnh Long này là chứng cớ sờ sờ của việc vi phạm hòa ước…


Bỗng Đờ la Gờ-răng-đi-e nhìn thấy các tàu chiến khác của Lang-Sa đã tiến nhanh về phía bờ thành và nhanh nhẹn đổ quân lên bờ. Những khẩu trọng pháo được kéo tay dàn cả trước mặt thành.


Rồi một đoàn quân Lang-Sa từ hai bên khoang tàu tiến vào bao vây lấy phía trước và phía sau Phan Thanh Giản cùng Võ Doãn Thanh, súng ống lăm lăm trong tay. Giữa lúc đó Đờ la Gờ-răng-đi-e trở mặt, giọng đe dọa:


- Cuộc thương thuyết dưới tàu không thành xin mời hai ngày vào thành ta sẽ bàn tiếp.


Đờ la Gờ-răng-đi-e vừa dứt lời, một võ quan Lang-Sa nắm lấy cánh tay Phan Thanh Giản ra vẻ như để dìu ông già hơn bảy mươi tuổi bước qua bậc cầu lên bờ. Võ Doãn Thanh cũng bị một võ quan xốc nách như thế. Tất cả bọn chúng quan và quân, võ trang đầy đủ, đi theo sau lưng Phan Thanh Giản và hai quan Nam triều, tiến vào thành như tổ ong và chia từng toán trấn giữa các nơi.


Trương Văn Uyển và Huỳnh Chiêu đang chờ phái bộ trở về xem cuộc thương thuyết dưới tàu ra sao rồi mới tìm biện pháp đối phó. Lúc này họ đang đứng trên vọng lâu quan sát thấy dường như hai quan ta đã bị bắt làm tù binh và tên soái Lang-Sa dẫn họ vào thành cùng với quân đội chúng. Biết xử trí ra sao khi thấy phái bộ cùng đi vào với quân Lang-Sa? Nếu nổ súng ngăn chặn lại e thiệt mạng lây đến hai vị quan ta. Phan Thanh Giản là viên quan cao cấp nhất, có tất cả mọi quyền hành. Mà họ cũng chưa biết kết quả cuộc thương thuyết! Thế là Trương Văn Uyển đành thiêu hủy tất cả mọi tài liệu mật rồi ra cửa thành xem tình thế.


Vào tới trong thành, sau khi quân Lang-Sa đã canh gác bên ngoài, Đờ la Gờ-răng-đi-e hạ lệnh cho Phan Thanh Giản nộp thành. Một khi giặc đã lọt vào nhà, kháng cự làm sao được. Thế là Phan Thanh Giản đành phải nhận lời tạm giao thành trì, nhưng chỉ xin Tây đừng quấy nhiễu dân chúng, đừng vội chiếm kho tàng để ông tạm quản, đặng ông tính trả một năm bồi thường chiến phí.


Đờ la Gờ-răng-đi-e vờ nhận lời. Nhưng bắt ông phải viết thư cho các quan hai tỉnh An Giang, Hà Tiên cũng nộp thành, gọi là để tránh sự đổ máu vô ích.


Lúc này Phan Thanh Giản mới hối hận, biết mắc mưu kẻ địch thì đã muộn. Nước cờ đã lỡ, từ nay ông chỉ còn là một quân cờ trong tay kẻ địch! Thành Vĩnh Long đã mất, còn biết ăn nói làm sao với triều đình. Ông lờ mờ cảm thấy cái tội của mình quá đỗi lớn lao, không phải chỉ với hôm nay mà hình như với cả hậu thế…


Viết xong bức thư cho hai tỉnh An, Hà ông quăng vội bút, không dám nhìn lại tờ giấy ác hại kia nữa. Có phải đó là bức văn tự bán đứng sự nghiệp, danh dự, tương lai mà ông đã thò bút ký tên hay không. Ông thấy chóng mặt, ù tai, hai mắt đổ đồng quang nhìn thấy trời đất quay cuồng rồi tối sầm trước mặt.


Về phía Đờ la Gờ-răng-đi-e thì cứ đắc chí cười mãi. Thế là không tốn một viên đạn mà chúng lấy được phần lớn của cải vùng Hậu Giang tập trung tại thành Vĩnh Long.


*


Vừa nghĩ tới Huỳnh Tấn, Trần Bá Lộc vội đập tay xuống bàn:


- Đ. hỏa! Vậy mà chút nữa mình không nghĩ ra.


Từ khi mang ơn nhà nước Lang-Sa thăng chức Tri phủ, Trần Bá Lộc đã tự nhủ mình phải ráng giữ phép lịch sự, vậy mà những lúc xuất kỳ bất ý, vẫn cứ lộ ra cái bản sắc của một chú mã-tà như thường. May phước những lúc đó không có mặt các “quý quan”.


Tự mình là một con chiên ngoan đạo với cái tên thánh Ăm-ma-nu-en, không biết Lộc xưng tội với Chúa thế nào khi phạm tội với y là chuyện thường như cơm bữa. Đối với những nghĩa binh không chịu ra đầu thú và thường ẩn mình nơi thâm sơn cùng cốc, Lộc sai bắt cha mẹ vợ con người ấy đóng gông cầm tù. Một mặt bố cáo trong ngoài kỳ hạn bao nhiêu ngày phải ra nạp mạng, bằng không thì: cha mẹ và vợ sẽ bị bêu đầu làm lịnh, trẻ con thì bỏ vào lòng cối giã gạo, sai lính dùng chày lớn quết như quết nem. Y chém nguười như chém chuối không chừa đứa con nít đỏ hỏn…


Được nhà nước Lang-Sa cử đi tiễu cái loạn ở Hòn Chông, Lộc cảm thấy gian nan hơn mọi lần. Chỉ biết người cầm đầu là viên thành thủ úy Hà Tiên, còn lai lịch ra sao, vẫn chưa rõ.


Khi mới tới Hà Tiên, Lộc đã cho thám thính biết Hòn Chông là một dãy núi thấp ở phía nam tỉnh lỵ, trông xéo ra hòn đảo Phú Quốc. Phía trước là vịnh Xiêm La, phía sau là dãy đồi thấp. Thừa lúc người Lang-Sa còn mắc thiết lập các ban hội tề ở những nơi mới chiếm được, viên thành thủ úy Hà tiên liền cướp lấy thời gian thu thập tất cả những quân sĩ triều đình ở vùng Hòn Chông để dấy lên cuộc khởi nghĩa và một mặt ông chiêu mộ các dân đinh nhập ngũ. Chỉ trong một thời gian ngắn, ông đã có một đội quân khá đông. Ông biết rằng không lâu thể nào quân Lang-Sa cũng kéo xuống miền này nên cho bố trí nghĩa quân làm ba mặt, một mặt ở vùng Cây Dương để ngăn chặn quân Lang-Sa đi theo đường thủy từ Kiên Giang kéo lên, một mặt ở phía tây Hòn Chông để ngăn giặc từ Hà Tiên đổ xuống, và một mặt ở dãy đồi để tránh bộ binh giặc.


Từ đó ông thường phóng các cuộc tập kích vào các nơi có quân Lang-Sa đóng ở chung quanh tỉnh lỵ Hà Tiên. Các ban hội tề Lang-Sa dựng lên ở nhiều nơi thường bị giải tán bất thình lình.


Với tài đánh hơi của giống chó săn, khi mới được Đờ la Gờ-răng-đi-e cử về đây, Lộc đêm ngày sục sạo và không bao lâu y dò ra được Nguyễn Trung Trực chỉ là một cái tên giả của viên thành thủ úy Hà Tiên mà chính tên ông là Quản Chơn. Quản Chơn! Cái tên nghe cũng lạ hoắc. Lộc kiên nhẫn cho đi điều tra tiếp và cuối cùng y được biết Quản Chơn cũng là một tên giả nốt. Mà tên thiệt của người đó, úy châu ôi, không phải ai xa lạ mà chính là Quản Lịch, người đã đốt cháy chiếc tàu Êt-xpê-răng-xơ trên sông Nhật Tảo ngày trước.


Thiệt đúng là oan gia gặp nhau, hẳn có ma dẫn lối quỷ đưa đường chớ chẳng không. Với Quản Lịch, nếu đường đường đem quân vây quét thì sẽ nhiều chật vật khó khăn, âu là kiếm cách dụ hàng tiện hơn. Lộc nhớ trước đây Huỳnh Tấn là bạn cùng cơ ngũ với Lịch, vai vế lại suýt soát nhau, đứng ra dụ hàng thì chắc ăn. Biết đâu họ chẳng có tình thân từ trước. Lộc cũng từng chứng kiến Định và Lịch đi đâu cũng có Tấn đi theo. Tấn từng thổ lộ dầu mình hơn tuổi Lịch mặc lòng nhưng vẫn kính trọng Lịch như bậc anh. Tấn đã từng thành công trong việc lừa mưu hạ sát Định thì sao lại không có thể thành công trong việc dụ hàng Lịch?


Nhận được thư mời của Lộc, Tấn tới ngay Hà Tiên. Vừa gặp nhau, Tấn đã hỏi ngay:


- Có chuyện chi mà huynh kêu tôi tới vậy?


Lộc cười lấy lòng:


- Thì hãy cứ ngồi chơi đã, đi đâu mà vội. Cố nhơn bao lâu nay mới hội ngộ, ta hãy hàn huyên cho bõ những ngày xa cách. Hà hà… Đại ca cữ này ngọc thể có được khang cường chăng?


Tấn sốt ruột:


- Có gì thì nói phứt cho rồi, cà kê dê ngỗng hoài, nóng ruột thấy bà!


Lộc mơn trớn:


-Thầy đội, chết xin lỗi, đệ trót quen miệng, quan Lãnh, đệ mời đại ca tới coi cuộc đá cá thia lia, đệ tính xổ ngày mai. Đệ mới lựa được con cá Rạch ở miệt U Minh, con này hay lắm, giỏi chịu đòn, không chạy bậy, lại biết đánh đòn “hồi mã thương”, biết chơi “cú đờ tết”([1]), biết “câu nước hàm trên, câu nước hàm dưới”([2]) lại vừa giỏi nín hơi…


Tấn ngắt lời:


- Tôi không ham loại cá ấy mà thích loại cá răng thiệt bén, cắn dữ, để nếu có bị cắn bị đòn rát quá thì chạy ngay, chớ những miếng “hồi mã thương”, “câu hàm”, “bỏ chạy dụ địch”đều có phần nguy hiểm vì trong khi “chạy dụ địch” nếu có một bóng lạ, một tiếng động thình lình, cá chạy luôn không chừng…


- Cũng bởi cái tánh đó mà khi làm việc quan, đại ca dùng cái chánh sách dữ dằn, bắn gãy xương sống Lãnh Định chớ không dụ hàng mất công, phải không?


- Trương Định thì đến vua, đến quan kinh lược họ Phan cũng không dụ được, huống hồ là tôi…


Viên thư ký của Lộc từ ngoài vô cúi đầu chào Tấn rồi lại gần bẩm khẽ điều gì khiến nét mặt Lộc đang đăm chiêu bỗng tươi lên. Đợi viên thư ký lui ra. Tấn hỏi Lộc:


- Lạ thiệt, tôi trông thầy này quen quen, in tuồng đã gặp ở đâu rồi. Ai vậy huynh?


Lộc đáp:


- À đó là thầy Ký Hườn, giúp việc cho đệ, thầy ấy trước dạy học ở Thang Trông…


Tấn lắc đầu:


- Tôi nhớ đã từng gặp người này ở một nơi khác chớ không phải ở Thang Trông…


Thì ra viên thư ký của Lộc chính là Nhiêu Bổn. Tấn đã gặp Nhiêu Bổn ở đại bản doanh của Trương Định một lần nên hơi ngờ ngợ. Tuy vậy y vẫn chưa nhận ra vì Bổn vốn là người liên lạc bí mật cho Trương Định, nên các nghĩa quân khác ít khi gặp giáp mặt. Từ ngày có cô Xuyến đảm nhiệm thay việc liên lạc, Bổn lại đi lo chuyên chở khí giới từ các thuyền buôn nên Tấn càng không có dịp gặp…


Thấy Tấn mãi nhíu mày nghĩ ngợi, Lộc nóng ruột:


- Đại ca nghĩ chi hoài cho mất công. Thầy đó là viên thơ ký đắc lực nhất của đệ. Đệ đã có dịp thử thách lòng trung thành của thầy rồi. thầy vừa nhận lịnh tới nhà Đỗ Hữu Phương ở Chợ Lớn coi thủ khoa Huân có yên phận dạy học ở đó không hay lại mưu chuyện khác. Phủ Phương cho hay Huân thực tâm quy thuận tân trào. Cũng vì vậy đệ càng thêm tin vào chính sách dụ hàng bọn làm nghịch. Lúc này, mình không đánh có bài bản mà cứ làm tùm lum thì hư hết công chuyện. Đệ muốn nhờ dại ca lấy tình thân dụ dùm Quản Lịch không biết đại ca có chịu không?


Tấn kêu lên:


- Biết ngay mà! Tôi biết huynh kêu tôi tới không phải để coi đá cá đá gà gì hết trơn mà có việc cần đến tôi. Sao không nói phứt cho rồi còn vòng vo Tam quốc hoài! Mệt dữ ha!


- Thì muốn đá cá rồi có đá cá, khỏi lo. Đệ nhờ đại ca viết giùm một lá thơ dụ Quản Lịch ra đầu hàng, công ấy thiệt không nhỏ. Người Lang-Sa đã hứa thưởng 18 vạn đồng bạc con cò([3]) cho ai dụ hàng hay bắt sống được Quản Lịch.


- Sao huynh không làm mà lại nhờ tôi?


Lộc cười xòa:


- Thì đệ nhớ lời Phủ Ba Tường nói ngày trước, con gà có đủ năm đức trong đó có đức Nhơn, có cái ăn thì kêu đồng loại tới, nên không dám hưởng một mình mà muốn chia ngọt sẻ bùi với cố nhơn đó chớ!


Tấn dịu nét mặt, cũng cười theo:


- Không biết trời đi vắng hay sao mà Phủ Lộc lại thảo với anh em quá xá! Bộ tình thiệt không phải đòn “hồi mã thượng” chớ cha!


- Đệ mà nói dối huynh thì cứ cho là Thiên Lôi đánh chết tươi không kịp ngáp…


- Nói giỡn chơi vậy thôi, chớ kẻ nào dám qua mặt Tấn này thì đời kẻ đó coi như mạt…


Lộc tâng bốc:


- Đệ vẫn biết huynh chơi ngon mà.


Tấn đắc ý:


- Thôi đi cha nội. À, lâu nay không gặp Phủ Ba Tường, không biết hồi này dả ở đâu.


- Dả đang ngồi chủ quận Vũng Liêm. Để đối phó với những thơ văn xách động chống người Lang-Sa của bọn Tú Chiểu, Cử Trị, đệ cũng mới cậy dả soạn giùm một bổn Lời truyền thị cho rao khắp mọi nơi.


Tấn vội hỏi:


- Đâu? Đâu? Huynh đưa tôi coi. Tôi cũng muốn sao một bổn đem về rao ở Gò Công.


Lộc giở hồ sơ lấy ra một tờ giấy:


- Vậy là đại ca chưa giúp đệ, mà đệ đã giúp đại ca rồi đó nha.


Tấn cầm giấy đọc:


Xứ Gia Định là đầu sáu tỉnh


Sau những Đại đồn Lãnh Định


Cùng là Mỹ Quý Tháp Mười


Có lương có súng sẵn đông người


Làm hết sức cũng không nên dáng.


Chẳng những là thiên mạng


Cũng hiệp với nhơn mưu


Nên triều đình trước đã hòa hưu


Sau kinh lược cũng đành giao cát


Có chăng phường đạo kiếp


Bày ra việc mộ quyên


Ấy là chước kiếm tiền


       Ấy là mưu trốn nợ


Kiêm chỗ vắng mà bắt lính đòi lương tở mở


Khoe tài trong rừng bụi


Khen cho hay múa gậy vườn hoang


Lừa hở cơ mà phất cơ dống trống nhộn nhàng


Muốn địch với quan binh


Ví chẳng khác bắc cầu qua biển cả.


Thấy Tấn có vẻ trầm ngâm, Lộc hỏi:


- Đại ca thấy bài văn này ra sao?


Tấn lắc đầu:


- Tôi tuy ít chữ nhưng thấy lời lẽ như vậy không tài nào địch nổi những bài văn xúi dân làm nghịch của Tú Chiểu.


- Đệ cũng thấy như vậy. Không những chưa sánh kịp Tú Chiểu mà còn thua xa Cử Trị…


Với Cử Trị, Lộc có một mối hận thấu xương tủy, Lộc mê đá gà nhưng từ ngày làm quan, đi đâu không tiện ôm gà đi theo, nên chuyển sang chơi đá cá thia thia cho “thanh nhã” hơn. Một lần y về Cần Thơ tổ chức cuộc thi đá cá thia thia với bọn quan lại tay sai của Lang-Sa. Ngay hôm sau, ở ngoài cổng dinh quan tỉnh có dán một bài thơ như sau:


Đồng loại sau ngươi chẳng ngỡ ngàng,


Hay là một lúc phải nung gan!


Trương vi so đọ vài gang nước,


Đấu miệng hơn thua nửa tấc nhang


Ráng sức giây lâu đà trốc vẩy,


Nín hơi trót buổi lại phùng mang.


Ra tài cửa võ không nên mặt


Cắc cớ khen ai khéo nhộn nhàng!


Bài thơ được người qua lại tranh nhau đọc và được truyền bá ngay tức khắc. Bị một phen ê mặt ngay chiều hôm đó Lộc phải cuốn gói khỏi Cần Thơ. Từ đó mỗi lần nhớ tới bài thơ là bất giác Lộc lại thấy mặt mình nóng ran như bị một cái tát.


Đợi Tấn viết thư dụ hàng Nguyễn Văn Lịch xong, Lộc rủ y đi coi đá cá thia thia. Không biết “tổ trác” hay sao mà cuộc đá độ bữa nay y bị thảm bại. Giữa lúc cá y đang liến thoắng đảo bên này rồi đảo bên kia lội tung tăng theo địch thủ, hết lội sau rồi bọc ra phía trước mặt, giương kỳ, xòe đuôi, khoe mã, giáp thì lẹ như chớp, con cá bên địch vừa lúc cá y uốn mình trước mặt khoe bộ vẩy óng ánh như sao, nó bỗng phóng hết mình tới trước, cắn một miếng thật mạnh vào bụng bở, mạnh cho đến đỗi bọt nước văng tung té và nghe rõ ràng một tiếng “bóc” rung rinh mặt nước hồi lâu. Rồi một sự bất ngờ diễn ra như điện chớp, cá y bị một vố đau quá, giựt mình chạy xếp đuôi cuốn giáp không còn dám trở đầu nghinh chiến.


Hôm sau, đang ngồi coi hồ sơ tù nhân, thì lính hầu mang vào một bức thư. Y vội giở ra coi. Thì ra là phúc thư Nguyễn Văn Lịch, vỏn vẹn có mấy hàng chữ ngang tàng:


Bao giờ Tháp Mười hết cỏ thì nước Nam mới hết người chống Tây. Các người đừng giở trò dụ hàng vô ích”.


Đọc xong thư, y cảm thấy trên thân thể mình bỗng đau nhói, hệt như cái đau của con cá bị cắn đến nỗi lòi thịt gần thấu xương ngó thấy bên kia, phải vội vàng hát bài “tẩu mã”.


(còn tiếp)


Nguồn: Đuốc lá dừa. Tiểu thuyết. Rút từ bộ Tuyển tập truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info







[1] Biết quay mình dùng đầu đánh trái lại đầu con cá kia khi chưa đề phòng.




[2] Cắn ngay hàm trên hay dưới của con cá kia ngậm chắc và trì sát xuống tận đáy.




[3] Hồi đó Pháp cho tiêu tiền Mễ Tây Cơ đúc hình con ó, ta thường gọi là đồng bạc con cò. 18 vạn đồng bạc con cò hồi đó trị giá ba ngàn lượng vàng.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguồn gốc Mã Lai của dân tộc Việt Nam - Bình Nguyên Lộc 26.04.2017
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 16.04.2017
Chuyện kể năm 2000 - Bùi Ngọc Tấn 06.04.2017
Hà Nội xưa và nay - Bạch Diện Nguyễn Văn Cư 04.04.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 30.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
xem thêm »