tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21269151
Những bài báo
28.05.2013
Tư liệu
hai bài viết về tập thơ Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi

Từ “Người đàn bà ngồi đan” đến “Người đàn bà vẽ”


 Nguyễn Việt Chiến


 


 Trong số những gương mặt thơ nữ nổi trội thời chống Mỹ cứu nước, ngay từ những sáng tác đầu tiên, Ý Nhi đã cho thấy một bản lĩnh thơ luôn hướng tới những chân trời mới của thi ca đương đại. Thơ của chị những năm 80 của thế kỷ trước đã có những chuyển động cách tân lặng lẽ trong thi pháp nhưng cũng khá quyết liệt để làm nên một giọng điệu mới. Tập thơ Người đàn bà ngồi đan của Ý Nhi được trao Giải thưởng loại A của Hội Nhà văn VN năm 1985 đã ghi nhận những cố gắng đổi mới thơ Việt của chị. Những năm ấy, giữa dàn đồng ca trữ tình đều đều và ngòn ngọt cảm xúc của khá nhiều nhà thơ (cả những cây bút nam và nữ), bỗng bùng lên một giọng thơ nữ khỏe khoắn với những chiều kích tư duy khá hiện đại và trí tuệ. Đấy là Ý Nhi của Người đàn bà ngồi đan với những câu thơ giản dị lặng lẽ, trải nghiệm và đau xót: “Giữa chiều lạnh/một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ/ vẻ vừa nhẫn nại vừa vội vã/ nhẫn nại như thể đó là việc phải làm suốt đời/ vội vã như thể đó là lần sau chót/ Không thở dài/ không mỉm cười/ chị đang giữ kín đau thương/ hay là hạnh phúc/ lòng chị đang tràn đầy niềm tin/ hay là ngờ vực/ Không một lần chị ngẩng nhìn lên/ chị đang qua những phút giây trước lần gặp mặt/ hay sau buổi chia ly/ Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay nỗi lo âu/ trong đôi mắt kia là chán chường hay hy vọng/ Giữa chiều lạnh/ một người đàn bà ngồi đan bên cửa sổ/ dưới chân chị/ cuộn len như quả cầu xanh/ đang lăn những vòng chậm rãi”.


 


Bài thơ trên của Ý Nhi như bức tranh lặng lẽ, giản dị về một người đàn bà trong một chiều đông lạnh giá, không thừa một nét vẽ chia sẻ, không thiếu một nét vẽ cảm thông và vượt lên trên cái nền xám lạnh của cô đơn mỏi mệt là gương mặt nhẫn nại và kiêu hãnh của cái đẹp đang âm thầm vượt qua những trắc trở của số phận. Bài thơ “Người đàn bà ngồi đan” của nhà thơ Ý Nhi sau đó đã trở thành một “hội chứng” thi ca với không ít cây bút nữ trẻ bị ảnh hưởng bởi tứ thơ khá đặc biệt này, đã sáng tác khá nhiều bài có tứ thơ “từa tựa, giông giống” với bài thơ của chị. Trong những năm 80 và 90 ấy, Ý Nhi có khá nhiều bài thơ thành công và hay như bài “Người đàn bà ngồi đan” và sức lan tỏa của những bài thơ viết theo thể thơ tự do, vừa mới mẻ, vừa có chiều sâu ấy đã đưa chị trở thành một gương mặt thơ nữ độc đáo cho đến tận hôm nay.


 


 Bài thơ Ý Nhi viết về Thi hào Nguyễn Du từ năm 1983 đến nay, sau 28 năm đọc vẫn thấy mới. Vậy phẩm chất của  thi ca cách tân, thi ca đổi mới là gì nhỉ, tôi tự hỏi? Phải chăng đấy là những câu thơ đạt tới độ giản dị và không bao giờ chịu cũ mòn, phải chăng đấy chính là phẩm chất của tài năng trong thi ca. Chiêm nghiệm về những bước thăng trầm và nỗi day dứt khôn nguôi trong thơ của Thi hào dân tộc Nguyễn Du, Ý Nhi viết: “Không ai trói buộc/không ai gông cùm/không ai đánh đập/không ai chửi mắng/sao ta sống như trong lồng cũi/ Sao ta không thể rượu say như người ta vẫn uống/ không đi săn như người ta vẫn đi săn/không thể yên lòng ngồi nghe ca nữ đàn hát dưới đèn nến/ không thể vui ngắm cúc đầu thu/ không thể hái bông sen bên hồ mà lòng không vướng bận…/Nào còn đâu những lâu đài đồ sộ nghìn xưa/ những thành quách tưởng muôn đời bền vững/ta bước giữa những con đường mới/những đền đài mới/lòng kinh sợ/như đứa trẻ đi trong mưa lạc lối/Những bạn bè cũ đã cáo quan/ ăn măng trúc măng mai ngồi câu bên sông vắng/ làm thơ thưởng hoa/làm thơ vịnh nguyệt/ coi cuộc đời như phù vân…/Đường dài, trời đã về chiều, tìm đâu ra bạn mới /ta chờ đợi điều chi/ mong mỏi điều chi”. Có lẽ phải đọc nhiều và nghiền ngẫm nhiều lắm về thơ cổ của Nguyễn Du thì Ý Nhi mới có thể viết ra những câu thơ mang được cái hồn cốt tư tưởng nhân văn của thi hào dân tộc thủa ấy.


 


 Đọc xong gần 300 trang của tuyển tập “Thơ Ý Nhi”-NXB Hội Nhà văn năm 2000, tôi chợt mong manh nhận ra giọng thơ cách tân của nhà thơ Ý Nhi trong mấy chục năm qua mang đậm dấu ấn của “Thi- pháp-vẽ”. Trong các bài thơ mang tính đổi mới của mình, chị như một họa sĩ tài năng với cây- cọ -ngôn -ngữ độc đáo, đang dụng công vẽ nên những mảng chân dung đời sống ở góc độ trầm lắng và chiêm nghiệm về một số phận, một thời đại, về tình yêu và những đổ vỡ, mất mát của con người. Có vẻ như, với Ý Nhi, mỗi bài thơ là một bức tranh, một khám phá, một thức tỉnh riêng biệt…như bài thơ  “Trước chân dung Akhmatova” dưới đây: “Người từng tìm đến bóng râm của vòm cây trong một bức tranh/người một mình đi qua mưa nắng, bão giông, băng giá/ Người từng ước ao có thể khóc dịu dàng như trẻ nhỏ/ người một mình gánh chịu bao dày vò thóa mạ/ Người từng khuỵu ngã trước tình yêu/người một mình đối mặt cùng bạo lực/ Người từng chờ đợi mỗi chiều nơi bậc thềm một bóng thân yêu/ người một mình thét vang trong tù ngục/ Ôi người đàn bà mảnh mai trong tấm áo đen/người từng qua cõi này/ Người từng bị đày ải/ người từng được dâng tặng/ người từng bị nhục mạ/người từng được tôn vinh/người không tàn lụi trong oán hờn/không tan trong nước mắt/ôi người đàn bà mảnh mai trong tấm áo đen/người từng đi qua cõi này chăng”.Có một liên tưởng nào đó từ “Người đàn bà ngồi đan” đến Người-đàn-bà-vẽ trong thơ Ý Nhi. Nhưng dẫu viết (hoặc vẽ bằng ngôn ngữ thơ) về bất cứ ai và bất cứ đề tài nào nữa của đời sống thì dường như, Ý Nhi vẫn đang viết về chính mình và khắc họa tư tưởng của chính mình trong mạch chảy ngầm dưới các tầng chữ luôn được đổi mới và không chịu cũ mòn.  Suy nghĩ về nghề văn, chị viết: “Mối quan hệ giữa thơ và đời sống sẽ còn được tiếp tục đặt ra, được thảo luận cho đến khi nào người ta còn… làm thơ. Mà tôi thì nghĩ rằng người ta sẽ còn làm thơ khi nào còn con người, còn lo toan, còn yêu thương, còn giận dữ…Có lẽ giờ đây mọi người đều hiểu rằng, không có thứ thơ tách biệt hoàn toàn đời sống. Vấn đề đặt ra là:Cách liên hệ giữa thơ và đời sống. Cái cách của mỗi nhà thơ phụ thuộc vào tài năng, và bản lĩnh thơ của họ. Có cái chung của những nhà thơ cùng thời, cùng khuynh hướng, cùng trường phái. Nhưng trong mỗi nhóm này, cái cách của mỗi nhà thơ để giải quyết mỗi liên hệ giữa họ và đời sống phải độc đáo, riêng biệt…”. Ý Nhi là vậy, bởi thế nên thơ chị có một giọng điệu độc đáo, riêng biệt mà không phải bất cứ nhà thơ nào cũng có được trong dòng chảy của thơ đương đại hôm nay.


 


Thơ và nỗi đau lặng lẽ của tâm hồn


 


Nhà thơ Ngô Thế Oanh sinh ngày 27-11-1944, quê ở Hương Sơn, Hà Tĩnh, tốt nghiệp Khoa ngữ văn Đại học Tổng hợp về làm việc tại báo Tiền Phong, rồi tình nguyện đi chiến trường khu V, làm thơ viết báo cho đến ngày giải phóng. Sau đó hoạt động văn nghệ tại miền Trung, công tác ở NXB Sân khấu, hiện là Phó Tổng biên tập thường trực Tạp chí Thơ của Hội Nhà văn VN.


     Cùng thế hệ thi ca đổi mới với Ý Nhi, Ngô Thế Oanh cũng là một gương mặt thơ đặc biệt của lứa thơ trưởng thành trong chiến tranh chống Mỹ. Cho đến nay, ngoài tập thơ in chung “Tình yêu nhận từ đất” năm 1977, nhà thơ Ngô Thế Oanh chỉ có một tập thơ riêng “Tâm hồn” in năm 1995 và đoạt luôn Giải thưởng về thơ của Hội Liên hiệp VHNT Việt Nam năm đó. Là một người thơ luôn điềm tĩnh, khiêm nhường với vẻ ẩn dật, “đôi tròng” mắt thơ của Ngô Thế Oanh cứ lặng lẽ quan sát vào cái bề sâu của cuộc đời và mỗi con người, để nhận biết, để khắc họa, để liên tưởng và suy tư như bài thơ “Nhà thơ” của anh sau đây: “Đôi lúc anh giống như một mẩu thuốc lá/ Người ta quét khỏi quán cà phê trước giờ đóng cửa/ Đôi lúc anh giống như đồng tiền mất giá/Khó còn giúp được gì giữa chợ/Những trang thơ của anh/Những mộng tưởng của anh/Những lo âu hy vọng của anh/Anh không thể quên nhưng cũng không muốn nhớ/Anh đã học suốt đời để hiểu điều ngay thẳng/Để thú nhận tận lòng những gì nhầm lẫn/Hiểu mỗi ngọn cỏ vô danh cũng bình đẳng với người/ Nhiều cố gắng giờ đây gần như vô ích/ Anh vẫn đi ngược ngọn gió đời/ Những người anh gặp trên đường vẻ vô cảm trong đáy mắt/ Nét mệt mỏi hằn trên gương mặt/ Nhiều thần thánh tắt dần vầng sáng thiêng liêng/ Những hứa hẹn thiên đường đã mất/ Chỉ còn tiếng vọng cô đơn/ Anh viết những dòng thơ/ Có gì được khác hơn/ Những người nguyên thủy cũng như ta đánh viên đá làm ra lửa”.


 


Trong bài thơ trên, trái tim nhà thơ đã rớm máu, đã đập cùng nhịp với những nỗi đau đời thường của con người để nếm trải, để phản ánh những day dứt, nhức nhối và thăng trầm của cuộc sống mà ngôn ngữ thi ca nhiều khi tỏ ra bất lực. Theo tôi, bản chất của sự cách tân và đổi mới thơ không chỉ nằm ở sự tìm tòi về mặt hình thức nghệ thuật cấu trúc của ngôn ngữ thơ mà điều thiết yếu căn cốt là ở sự đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ. Trong rất nhiều thế kỷ qua, các trường phái thơ lớn trên thế giới qua mỗi thời kỳ đều hướng tới sự tìm tòi và cách tân thơ. Điều khác biệt và khu biệt nhất để có thể nhận ra được các nhà thơ cách tân của mỗi thời đại có gương- mặt- thơ khác nhau như thế nào chính là ở nội dung đời sống trong thơ họ ở thời đại ấy đã được phản ánh, khắc hoạ trong một trường- thẩm- mỹ nào.


 


Và theo tôi, có lẽ Ngô Thế Oanh là một trong số rất ít nhà thơ trong nhiều năm qua, đã lặng lẽ bền bỉ và lặng lẽ đổi mới nội dung đời sống được phản ánh trong thơ với những phát hiện rất mới và sâu sắc về tâm thế và thân phận con người, hoặc số phận một nghệ sĩ mà bài thơ viết về họa sĩ Nguyễn Sáng dưới đây là một dẫn chứng: “Anh chạy đến kiệt sức/Trên những khát vọng của mình/ Và anh gục xuống/ Lặng yên như mặt biển lặng yên/ Giữa một thế giới đầy khôn ngoan/ Anh như chỉ chọn những gì khờ dại/ Những khờ dại… đôi khi/ Giúp ta thanh thản bớt/ Bằng thế nào để đạt đến kiệt tác/ Không có câu trả lời/ Ám ảnh không ngừng trong câm lặng/ Cả trong cơn say vùi/ Bằng cách nào để đạt đến kiệt tác/ Bao phác thảo xóa đi trên mặt đất/ Bao phác thảo xóa đi trong tưởng tượng anh/ Trí tưởng tượng-con ngựa bất kham/ Nhiều bạn bè đã chết. Anh rồi cũng phải chết/ Nỗi buồn như phát điên/ Trở về từ Quán Thủy Hử/ Xập xệ như từ một bức tranh Chagall/ Chiếc mũ cát một ánh ấm áp/Hồi niệm ngọn lửa chiều cố hương”.


 


Thi ca và hội họa là hai lĩnh vực nghệ thuật luôn có sự bồi đắp và ảnh hưởng qua lại với nhau, đặc biệt ở những thể nghiệm cách tân đã gắn kết các thi sĩ và các họa sĩ tài danh với nhau trong một trường phái mới. Vì trong “con mắt thơ” của mỗi thi sĩ, sự rung động, thăng hoa trước cái đẹp cũng tương tự như “con mắt mỹ cảm” của mỗi họa sĩ. Với “con mắt thơ” đầy mỹ cảm của hội họa, Ngô Thế Oanh đã vẽ một bức tranh thơ “Khỏa thân” như thế này: “Sự trong vắt của trời/ Sự vĩnh hằng của đất/ Sự mềm mại tưởng chừng không có thực/Và không lặp lại một lần/ Ngọn sóng cho nghỉ ngơi/ Ngọn lửa cho cơn khát/ Thân thể là thơ/Thân thể là âm nhạc/ Tìm kiếm không ngừng/Và luôn luôn mất/Hi vọng là hạnh phúc/ Vô vọng là hạnh phúc/ Những chiếc chuông trong máu/Những chiếc chuông trong máu/ Vang ngân…”. Bài thơ này ngân vọng lên như một khúc tụng ca cái đẹp để nâng cao con người trong một mỹ cảm mới.


 


Tâm sự về nghề văn, nhà thơ Ngô Thế Oanh đã viết như thế này: “ Tôi không nhớ là đã đọc ở đâu, có lẽ từ một nhà văn bậc thầy,  rằng điều đòi hỏi trước hết và chủ yếu ở một người viết là sự lương thiện. Lương thiện trong cuộc đời, lương thiện trên trang viết và với riêng tôi, đằng sau hai tiếng lương thiện này còn hàm ẩn một nghĩa sâu nữa; sự giản dị, sống giản dị, viết giản dị. Cùng với thời gian, tôi hiểu rằng đi theo được lời khuyên này  thực không dễ dàng…Tôi vẫn nghĩ rằng, văn học cũng như nghệ thuật giúp cho con người nhận thức thế giới và nhận thức bản thân. Nhưng là một sự nhận thức đặc biệt, thông qua cái đẹp và mỹ cảm. Cho nên người viết, khi đối diện với trang bản thảo, có lẽ bao giờ cũng có sự trân trọng. Và có thể nói, một chút gì như là sự thiêng liêng. Dĩ nhiên có những con đường khác nhau dẫn đến văn học. Và có những quan niệm khác nhau. Càng về sau, tôi càng hiểu rằng phải viết trước hết cho chính mình, những gì mình thực sự rung động. Những niềm vui cũng như nỗi đau. Những hy vọng cũng như tuyệt vọng. Chỉ có thế mới mong được sự chia sẻ với thế giới xung quanh, với người đọc”. Và bài thơ “Trên một khúc Prelude của Sôpanh” của anh sau đây đã phần nào nói lên những suy nghĩ đó:  “Chậm và buồn/ thật chậm và buồn/ Nét cắt một tháp chuông nhà thờ bỏ hoang/ Biển và núi. Và những ngón tay rớm máu/ Mưa đập mãi trên mái nhà/ Mưa đập mãi trên những cơn mất ngủ/ Trở lại chi những niềm hy vọng cũ/ Ký ức ta dần lãng quên rồi/ Tiếng móng ngựa tắt dần nơi ngõ khuất/ Mùa thu tuôn những lớp lá không lời/ Còn lại gì cho ta sau màn sương tháng chín/ Tất cả như vết thương/ Người hát rong nào lang thang trên đường phố/ Bài hát day dứt mãi trong đêm/ Xin mẹ hãy vì con tha thứ/ Những vinh quang ồn ào đâu an ủi được con/ Nắm đất nhỏ quê nhà con vẫn giữ/ Mong dịu nguôi bao đau đớn trong hồn/ Đâu phải xứ sở nào huyễn hoặc con hạnh phúc/ Sao suốt đời con là kẻ li hương/ Chậm và buồn/ Ôi thật chậm và buồn/ Những dòng mưa cứ từ trời dội mãi/ Những dặm đường của kẻ tha phương”. Bài thơ khép lại như một điệu chuông buồn trên xứ sở âm nhạc của Sôpanh và nhà thơ đang lướt những ngón tay trên phím đàn ngôn ngữ dẫu “Mưa còn đập mãi trên những cơn mất ngủ” của mỗi chúng ta.


 


Nguyễn Việt Chiến


Nguồn: Văn nghệ Trẻ


 


Người đàn bà ngồi đan


Võ Văn Trực


 


Ý Nhi là nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ. Chị đã được giải thưởng thơ do tuần báo Văn nghệ tổ chức năm 1969. Nhưng chị nổi tiếng từ năm 1985 với tập thơ Người đàn bà ngồi đan, giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam.


 


Hồi đó, tôi giật mình đọc câu thơ của Ý Nhi: Tôi là người đàn bà bốn mươi tuổi. Ý Nhi đã bốn mươi tuổi! Mới ngày nào đó, ở vùng quê Quế Sơn (Quảng Nam), chị còn là đứa bé suốt ngày này sang ngày khác bưng rổ bánh đi bán rao để giúp mẹ. Nhưng cô bé này còn xấu hổ, không dám rao một cách thành thạo, bèn chui vào trốn trong bụi cây, đợi chiều tối, bê nguyên rổ bánh về cho mẹ.


 


Ý Nhi vốn rụt rè. Hồi học ở trường học sinh miền Nam tập kết tại Hải Phòng, chị đã làm thơ. Nhưng làm thơ để thỏa mãn tình cảm của mình vậy thôi, không dám gửi cho báo nào. Mấy người bạn thân giục chị gửi đăng báo. Chị đành gửi bài Tặng anh Titov. Hồi đó, các tòa soạn báo rất chu đáo với cộng tác viên, về tận nơi động viên chị. Ít lâu sau, bài thơ được đăng báo Tiền phong. Chị vui mừng và tự tin viết tiếp. Tên tuổi chị dần dần quen thuộc với bạn đọc và trở thành một trong những nữ thi sĩ thời kháng chiến chống Mỹ.


 


Tuy tác giả Ý Nhi xuất hiện chậm hơn những Thúy Bắc, Xuân Quỳnh, Phan Thị Thanh Nhàn, Lâm Thị Mỹ Dạ… nhưng đã có giọng thơ riêng. Người đọc lần lượt được đọc đều đặn các tập của chị: Trái tim nỗi nhớ (in chung), Đến với dòng sông, Lời ru của mẹ (in chung), Cây trong phố chờ trăng, Người đàn bà ngồi đan, Ngày thường, Mưa tuyết, Gương mặt, Vườn…


 


Hai yếu tố quan trọng của thơ là sự và tình. Phải dùng sự việc làm cái đinh để trao bức tranh tâm hồn của tác giả. Trong những năm 50, 60 của thế kỷ trước, thơ ca thường nghiêng về sự hơn là về tình. Chất thực tế đời sống tràn vào thơ, kể lể hết việc này đến việc kia. Có bài thơ như những bài ký bằng văn vần.


 


Thơ Ý Nhi giàu cảm xúc, sức sống nội tâm mạnh mẽ. Như những giọt nắng trên mặt hồ yên lặng, làm run rẩy những cảm xúc ấm áp. Như những giọt mưa trên mặt ao, làm run rẩy những cảm xúc lạnh lẽo. Cảm xúc tràn trên những câu thơ, che lấp chi tiết của đời sống. Viết về ký ức khi trở về miền Trung du, ta ít thấy đồi, ít thấy cây, mà chỉ gặp một chút gì yên tĩnh/ một chút gì chở che thương mến/ trong nắng nôi bão gió của đời mình (Trung du). Trở về thăm trường học cũ ở Thái Nguyên, chị không miêu tả ngổn ngang kỷ niệm mà chỉ bộc lộ nội tâm của người đàn bà ở tuổi bốn mươi/ Cam chịu và cuồng nộ, mong mỏi và buồn nản (Về Thái Nguyên). Viết về thanh niên xung phong, mà không hề ồn ào bom đạn, xe cộ, cuốc xẻng, mà chỉ gặp con đường cũ bây giờ tôi qua/ Vẫn mùa hạ vô cùng dữ dội/ Trời xanh quá xui lòng bối rối/ Hay nỗi buồn vì con đường vắng em (Kỷ niệm về những cô thanh niên xung phong)…


 


Chị tự khai thác tâm hồn mình đến từng mạch từng vỉa quặng. Đã nhiều người viết về mẹ, nhưng đây là những ý tưởng độc đáo. Đời mẹ như bến vắng trên sông/ nơi đón nhận những con thuyền tránh gió/ như cây tự quên mình trong quả/ quả chín rồi ai dễ nhớ ơn cây (Kính gửi mẹ). Đứng trước thiên nhiên kỳ diệu, chị khai thác đến tận cùng mạch cảm xúc của mình: Chiều lắng mình như cát dưới lòng sông/ nước vẫn chảy không yên về phía biển/ như mạch quặng nằm sâu trong đáy giếng/ ánh mặt trời, tiếng gió đã đi qua/ như yêu thương chắt lọc lại bài ca/ như hạt muối mặn mòi sau nghìn cơn sóng vỗ (Chiều)...


 


Tập Người đàn bà ngồi đan khẳng định phong cách thơ Ý Nhi. Nhưng sau khi Hội Nhà văn công bố giải thưởng, một bạn thơ nói: "Tập thơ này ít thực tế đời sống". Xuân Quỳnh, Ủy viên Hội đồng thơ, liền trả lời: "Ông xem thơ Đường đấy, có bê thực tế đời sống vào đâu, mà người ta cũng tán thưởng đến hàng ngàn năm".


 


Có lần, Ý Nhi phát biểu: "Thơ cần lý trí". Một số người phản đối: Thơ cần đến tình cảm hơn là lý trí. Thật ra, cái lý trí mà Ý Nhi muốn nói phải được nhào nặn trong tình cảm. Chị luôn luôn chú ý đến sự cân bằng trong cuộc sống: Cân bằng/ Cân bằng/ hãy lưu tâm đến sự cân bằng (Gửi con nhân sinh nhật lần thứ 20). Chị làm riêng một bài thơ hai câu cho Con: Con - sự cân bằng/ trên sợi dây hạnh phúc cheo leo...--PageBreak--


 


Từ cái ý chủ đạo đó, chị phát triển trong nhiều bài thơ với nhiều cảm hứng đa dạng khi va chạm với những hiện tượng bình thường. Chị tỉnh táo luôn luôn được cân bằng suy nghĩ của mình trên hai cực của trạng thái tâm thần. Thấy con họa mi chết, chị cảm thấy mất đi cùng tiếng hót của nó/ một ít niềm vui một ít nỗi buồn (Chuyện ở vườn). Nhìn chiếc bình sứ lộng lẫy trong tủ kính sáng đèn mà xót xa nghĩ đến lúc chiếc bình sứ âm thầm rạn vỡ. Đọc một bài thơ hay trên báo, chợt lại thấy trang báo bị xé/ buồn tủi/ hân hoan/ bay những cánh bướm cuối ngày hè (Nguyện ước). Nhiều nhà thơ đã bày tỏ cảm hứng của mình trước bóng đá, nhưng với Ý Nhi, thật là độc đáo: Chào nhé/ quả bóng thân yêu/ người từng lăn trước ta như trái táo dẫn đường trong chuyện thần tiên/ Chào nhé/ vuông đất thân yêu/ đã bao lần ngươi như lửa bỏng/ đã bao lần ngươi như nước lạnh/ Chào nhé/ khung thành/ đã bao lần ta cùng kiệt trước người/ đã bao lần ta bừng sáng trước người (Trận đấu giã từ của Olex Blokhin).


 


Đối với chị, dường như không có niềm vui nào trọn vẹn, không có nỗi buồn nào trọn vẹn. Niềm vui đến thì nỗi buồn đang chờ đợi. Cơn bão đến thì đang ào ào đến một cơn bão dữ hơn. Lòng tưởng vừa đi qua/ nỗi đau ghê gớm nhất/ nào biết đâu buồn thương/ còn chờ ta trước mặt (Thơ tặng cháu). Trong tâm hồn chị, luôn luôn tồn tại hai trạng thái đối lập: nắng và mưa, vui sướng và buồn khổ, hân hoan và thương đau... Nội tâm luôn luôn giằng xé. Đang bình yên giữa ngày thường, chị ao ước nghe tiếng gõ bất thường sau cánh cửa. Nghe tin buồn về một người bạn qua đời, chị thảng thốt kêu lên: sao ta cứ luôn phải mất đi những người tốt nhất (Hà Nội tháng 6/1987). Cuộc đời chị như một dòng sông không bao giờ yên chảy về biển cả.


 


Các nhà tâm lý học cho rằng, tính cách của con người 70% là do di truyền, 30% là do giáo dục. Ý Nhi cũng vậy. Thời sinh viên, chị làm Bí thư Đoàn và là đội viên Đội Thanh niên cờ đỏ, rất nghiêm túc. Chị đôn đốc đoàn viên thực hiện giờ giấc đâu vào đấy: Giờ nào thì tập thể dục, giờ nào thì làm vệ sinh, giờ nào thì học tập cá nhân… Khi đã trưởng thành, trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, chị tự rèn luyện mình phải xứng đáng với tư cách một hội viên, chị hành động quyết liệt khi đã được nhận thức, có thể có người cho chị quá cứng rắn. Có lần nhận được tiền tài trợ sáng tác của Hội Nhà văn, chị mạnh dạn trả lại với lý do: Nên chuyển số tiền ấy cho đồng bào miền Trung bị bão lụt. Đến tuổi nghỉ hưu, chị viết đơn xin nghỉ chức vụ chi nhánh trưởng phía Nam của Nhà xuất bản Hội Nhà văn, "Tôi cũng sẽ không sinh hoạt trong Hội Nhà văn Việt Nam mà sẽ dành hết thì giờ cho những công việc của riêng mình (…). Thơ là công việc hoàn toàn mang tính cá nhân nên không có gì thay đổi sau khi tôi đã nghỉ các công việc có tính xã hội" (Báo Thanh niên số 34 (2254) thứ bảy 23/2/2002). Chị viết đơn xin ra Hội có lẽ vì một lý do tế nhị nào đó, Ban chấp hành Hội không thông báo chị ra Hội như một số trường hợp khác. Cho nên anh chị em hội viên thành phố Hồ Chí Minh vẫn tưởng chị là hội viên, bầu chị là đại biểu đi dự Đại hội khóa 7 của Hội Nhà văn Việt Nam. Nhiều người giục chị đi dự Đại hội cho vui. Chị khăng khăng từ chối với lý do đơn giản: "Tôi đã ra Hội rồi".


 


Phờlôbe nói: "Gia đình là nơi ẩn náu an toàn nhất để chống với mọi tai ương của số phận". Cuộc đời của Ý Nhi đã từng trải nghiệm và cọ xát qua hai cuộc chiến tranh. Cuối cùng, trở về với tổ ấm gia đình: Em đã đợi chờ anh suốt cuộc đời mình/ Như đá xám chờ tay người tạc tượng/ Sông khô cạn chờ mùa mưa lớn/ Cây giữa rừng đợi ánh mặt trời lên (Tìm về Chiêm Hóa). Chăm sóc chồng con. Chị làm tròn phận sự của một người vợ, người mẹ. Nuôi chồng ốm yếu. Bày dạy con cái… Tính cách chị vẫn quán xuyến quả quyết như thuở ban đầu. Tuổi trẻ, chị luôn luôn chủ động trong mọi tình huống. Bây giờ đã luống tuổi, chị vẫn vậy. Giữa phố xá ồn ào, chị vẫn tạo cho mình một môi trường tĩnh lặng: Những con đường hàng cây những dòng người xe cộ/ Nào có gì không nhắc nhớ về anh (Tháng ba). Giáo sư Nguyễn Lộc đã đem đến cho chị sự say mê trong những trang Kiều từ thuở sinh viên. Bây giờ chị vẫn giữ trọn niềm thủy chung.


 


Đọc thơ chị, ta hình dung một người đàn bà đứng tuổi, nền nã, giữa chiều lạnh, ngồi đan bên cửa sổ? Dưới chân chị cuộn len như quả cầu xanh/ Đang lăn những vòng chậm rãi. Nhưng đáng quý hơn, trong sự yên ả kia, vẫn cồn cào bao nhiêu suy nghĩ: Trong mũi đan kia ẩn giấu niềm hân hoan hay lo âu (Người đàn bà ngồi đan)


 


Võ Văn Trực


cand.com.vn

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Văn hóa ẩm thực: Phở - món đồ ăn bằng bánh thái nhỏ nấu với thịt bò - Trịnh Quang Dũng 11.12.2017
Văn hóa Ẩm thực: Phở Việt - Kỳ 3: Phở - Trịnh Quang Dũng 10.12.2017
Boris Pasternak Giải Nobel về văn học năm 1958 - Thân Trọng Sơn 09.12.2017
Bộ Tư lệnh Vùng 5 Hải quân - Tư liệu sưu tầm 02.12.2017
Pilates là gì? Lịch sử môn thể thao thời thượng Pilates - Triệu Thiên Hương 01.12.2017
Vĩnh biệt nhà văn Nguyễn Gia Nùng - Triệu Xuân 27.11.2017
Kỳ vọng cường quốc của Trung Quốc chỉ là 'lâu đài trên cát'? - Tư liệu 25.11.2017
Goncourt 2017 thuộc về nhà văn kiêm đạo diễn Eric Vuillard - Tư liệu 25.11.2017
Nhà văn Nguyễn Thị Anh Thư - Người luôn ẩn mình sau những trang văn - Đỗ Ngọc Yên 24.11.2017
Thầy trò đời nay với thầy trò xưa - Phan Khôi 19.11.2017
xem thêm »