tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21056525
23.05.2013
Vũ Bằng
Cái mộng của Tô Hoài[i]

 Nhắc đến Tô Hoài, các bạn ham học và ham đọc ở đây - nhất là các sinh viên, từ trung học trở lên đang học về văn Tô Hoài - hầu hết chỉ biết anh về một khía cạnh: nhà văn trẻ chuyên viết về loài vật. Báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy và báo Truyền Bá, hai tờ báo anh cộng tác đầu tiên lúc mới ra trường thường vẫn “đẻ” ra những nhà văn loại đó. Nam Cao, nhà văn chuyên viết về những người nghèo, Lý Văn Sâm chuyên viết về rừng rú, Phan Du chuyên viết về các quan liêu xứ Huế hết thời, Bùi Hiển chuyên viết về những cảnh khổ não miền Trung… Tô Hoài nổi tiếng là nhà văn chuyên viết về loài vật ngay với truyện đầu tay của anh với cái đề hấp dẫn Dế mèn phiêu lưu ký đăng trên Truyền Bá. Phải nói rằng trước Tô Hoài, làng văn Việt Nam, kể từ Nam ra Bắc, chưa có người chuyên viết về loại văn đó mà văn lại ngây thơ, dí dỏm, mà nhận xét lại tế nhị, tinh vi, xác thực cho nên chỉ một thời gian ngắn, địa vị của Tô Hoài trong làng văn Bắc Việt đã vững vàng, chắc chắn và được các anh em lớn tuổi lúc đó mến chuộng và có cảm tình đặc biệt.


Là vì bước vào làng văn, Tô Hoài lúc ấy mới chỉ độ mười sáu, mười bảy tuổi. Suốt thời gian hợp tác với Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Truyền Bá, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Tô Hoài khơi sâu khía cạnh loài vật cho nên bây giờ các sinh viên nam nữ học văn anh, chỉ biết anh dưới khía cạnh đó, không có gì lạ hết. Nói đến Tô Hoài ở đây người ta biết anh đã viết Dế mèn phiêu lưu ký, O chuột, Truyện loài vật, cùng lắm biết anh qua mấy truyện tình của đám người nghèo sống đơn thuần và khổ sở ở bên lề Hà Nội như Xóm Giếng ngày xưa, Giăng thề… chớ không mấy ai biết rằng ngoài khía cạnh loài vật, Tô Hoài là một nhà văn chuyên tìm tòi, học hỏi và chung sống với các đồng bào thượng du Bắc Việt để viết về đời sống vật chất và tinh thần của họ. Các sách truyện của Tô Hoài viết về đời sống của các đồng bào ấy cũng phong phú như những sách truyện mà hiện nay các sinh viên trung học đang học tập trong những giờ quốc văn.


 


Tô Hoài bắt đầu lưu ý về các đồng bào Thượng từ lúc nào?


Sau khi Nhật đổ bộ lên Đông Dương, Bắc Việt sống trong một cơn xáo trộn. Thực dân Pháp mặc dầu còn tại vị, nhưng không có thực quyền. Nhật lén lút bắt những thanh niên trí thức chống họ, còn thực dân Pháp mặt khác lại bắt giam và thủ tiêu những người không theo chúng và bị ngờ là đi với Nhật. Người dân sống trong một cảnh hãi hùng thê thảm vô cùng. Nhưng đó cũng chính là một hoàn cảnh rất thuận lợi cho những người yêu nước đứng ra làm việc đánh Pháp đuổi Nhật để giành lấy tự do, độc lập cho xứ sở.


Tô Hoài lúc ấy viết một mặt cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Truyền Bá, mặt khác tham gia kín đáo phong trào Thanh niên Dân chủ. Nhưng đến một lúc xét rằng không thể sống trong gọng kìm Pháp Nhật thêm nữa, cũng vì công tác, mỗi ngày đòi hỏi người thanh niên yêu nước phải hoạt động tích cực hơn, Tô Hoài bỏ đi. Lúc ấy tôi thấy anh vào Nam cùng với Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính, Hoa Thu (Hoàng Cầm), nhưng sau này tìm hiểu kỹ hơn thì anh đi khắp cả miền Trung Nam sau khi hoạt động ở Bắc và anh có sang Campuchia nữa, nhưng ở xứ sở này không lâu. Trong những ngày tháng sống “phất phơ” như thế, Tô Hoài dạy trẻ học, bán và chữa giày dép, nhưng không lúc nào anh không chú tâm nhận xét thu thập tài liệu để làm một cái vốn cho công việc trước tác của anh ngoài công việc hoạt động chính trị nhằm đem lại độc lập, tự do thực sự cho xứ sở.


Chính trong thời gian này, Tô Hoài đã tìm hiểu rất kỹ về đồng bào thượng du Bắc Việt và cũng bắt đầu từ đấy anh thành một nhà văn chuyên nghiên cứu, tìm tòi, nhận xét về đời sống vật chất tình cảm của anh chị em vùng núi ở thượng du Bắc Việt.


Tô Hoài là một nhà văn rất ưa thích đào sâu những vấn đề địa phương. Trước đây, những con cào cào, châu chấu, những con bướm, con ong, những con mèo, con chó, là những người bạn hàng ngày bay lượn, đi lại trước mặt anh trong một căn nhà lá có một cái thềm gạch trông ra một mảnh vườn rộng bằng một cái mùi xoa ở Bưởi (Nghĩa Đô).


Theo phong trào kháng chiến chống Pháp, Tô Hoài ra đi và công tác đẩy anh đi lên miền thượng du Bắc Việt. Anh sống với đồng bào người Thượng cũng như anh đã sống hồi tấm bé ở Hoài Đức và việc tất nhiên phải đến đã đến: Tô Hoài hiểu các đồng bào Thượng rất tỉ mỉ, rất đầy đủ ngay trong những năm đầu kháng chiến, nhưng anh chưa viết vội. Ở ba cùng với người Tày và người Mán vùng Việt Bắc, Tô Hoài cho là vẫn chưa đủ, anh đi lên Tây Bắc và ở luôn tại đó nhiều lần và mỗi lần trong nhiều tháng với người Thái và người Mèo.


Tô Hoài nói thạo tiếng Mèo và tiếng Thái, với tư cách một phóng viên chiến trường, anh có dịp len lỏi vào nhiều vùng kháng chiến ở Sơn La của người Thái, người Mường, trong những rừng núi ở Lai Châu của người Mèo và tới ở luôn cả vùng Điện Biên Phủ, nhiều khi chiến cuộc lan tới nơi này. Đó là vào khoảng từ 1948 đến 1952.


Sau đó tự thấy là đã hiểu biết “kha khá” về các đồng bào Thượng, Tô Hoài mới bắt đầu viết về họ. Các truyện này đăng lần lần trên báo rồi sau sắp xếp lại thành một tập truyện ngắn kiểu O chuột, Truyện loài vật và được dịch ra ngoại ngữ với tên đề Récits du pays Thái. Nên nhớ rằng récits (truyện) chứ không phải contes (truyện ngắn). Chữ récits có ý là truyện, lại có ý là ký sự, nói một cách khác là có thể có thật, chớ không phải tưởng tượng như contes (truyện  ngắn), vì thế có người cho rằng các truyện ký về xứ Thái của Tô Hoài có thật, nhân vật là nhân vật thật và có lần đã đem ra hỏi Tô Hoài có phải A Phou và Mong là người thật phải không, chuyện của hai người ấy là chuyện có thật phải không.


Văn nghệ khác chụp hình ở chỗ chụp sự thật mà lại có thêm công trình và tư tưởng của người sáng tác, vì người chụp hình là nghệ sĩ, nhưng nhà văn, không những là một nghệ sĩ mà lại còn là một ông trời bé nhỏ. Tô Hoài đã thu địa hình địa vật của miền Thượng vào trong truyện ký của anh, và thu luôn những nhân vật của miền Thượng vào trong đó nhưng không phải chỉ thu một cách đơn thuần và vụng dại, trái lại anh lại lấy cái chất ấy mà tạo ra nhân vật điển hình của riêng anh. Nói về phương pháp sáng tạo đó, Tô Hoài đã tâm sự với một người bạn như sau:


- Có người cho rằng người Mèo A Phou và ông già Mong là người có thật từ đầu đến cuối truyện của tôi. Lời nói đó đúng mà không đúng. Sự thật, có một người Mèo quen biết, anh tên là A Phou thật và sống một cuộc đời na ná với nhân vật của anh. Các nhân vật khác cũng thế. Nhưng hầu hết đều chỉ cho mượn cái tên thôi, chớ bảo rằng truyện này hay truyện nọ tôi viết ra là đời sống của một người nhất định thì không đúng.


Nói một cách khác, Tô Hoài sống với nhiều người và đã tìm những người cùng một tâm lý, tâm trạng, hoàn cảnh, ngưỡng vọng như nhau đúc lại thành nhân vật điển hình.


 


Muốn đạt được tới mức nghệ thuật đó cần phải làm sao?


Muốn đạt được tới mức nghệ thuật đó lẽ tất nhiên là phải sống thật sâu xa và hòa mình sống cùng với những người mình muốn hiểu chớ không hời hợt được. Bởi thế ta không lấy làm lạ hồi 1942-1943 Tô Hoài chỉ là một thư sinh bé nhỏ, mà đến 1948-1950 anh thông suốt xứ Thái hơn ai hết. Nói về xứ Thái, anh xúc cảm như là anh nói về Nghĩa Đô nơi chôn nhau cắt rốn của anh.


- Ai mới đặt chân lên vùng Tây Bắc thường cảm thấy một ấn tượng kỳ lạ là bị lạc lõng ở ngay giữa lòng nước Việt Nam. Các bạn cứ tưởng tượng một vùng đất tốt đẹp thơm tho rộng mênh mông có tới hơn mười dân tộc thiểu số sống một cách êm đềm chất phác. Người Mèo trồng thẩu ở trên núi, người Mán cất nhà ở bên sườn, người Thái người Mường cày ở trong những thung lũng xanh tươi. Chỉ là những thiểu số quan trọng mà nhiều người biết tới. Không có một thiểu số nào ở trong một vùng cố định và nhất định. Họ sống chung với nhau, thiểu số này ở lẫn với thiểu số kia. Phong tục tập quán của họ thường khác hẳn những người trung châu.


Xứ Thái đó là tiếng hát êm dịu, não nùng của những cái nhà làm bằng ống tre kết lại, tiếng hát cao vút đến mây xanh của người Mèo hát theo tiếng sáo, đó là những điệu vũ “xòe” mê ly. Đối với người ở đồng bằng đó là cảnh nên thơ man rợ. Có thác nước reo, có rừng cây đổ lá, có những người Mèo người Thái, da thịt đỏ như áo tàu, đánh nhau với cọp và bắn tên tẩm thuốc giết chết hoẵng, nai, tê, gấu như chơi… Đó là mùi thơm của đất cây, của muôn loài hoa lạ tiết ra một hương thơm kỳ lạ dễ làm cho người ta say sưa.


- Vậy xứ Thái là thiên đường?


- Đâu có. Đời sống của các đồng bào ấy hết sức là cơ cực. Hiện nay họ vẫn còn vất vả, nhưng so với hồi Pháp thuộc thì tương đối hơn nhiều, là vì dưới thời Pháp thuộc, trừ mấy họ lang ra, còn tất cả đều bị áp chế, đánh đập, bóc lột và đói kinh niên, đói cơm, đói tình thương và đói luôn cả muối nữa. Nhiều nơi phải đốt bương nứa lên để lấy tro ăn với cơm. Chuyện đó là có thật chớ không phải bịa.


 


Vài nét về địa vật và phong tục xứ Thái


Ở làng xứ Thái người ta mới có thể phân biệt được thiểu số này với thiểu số kia. Muốn biết người Mèo trắng, Mèo đỏ, Thái trắng, Thái đen, người ta thường nhìn màu sắc cái yếm của người đàn bà. Có người Mán tiền (sở dĩ có tiền như vậy là vì phụ nữ đeo đồng tiền ở ngực), có người Mán sơn đầu, có người Lolo… Thực ra, giữa tất cả các thiểu số không có sự khác biệt gì quan trọng lắm, nhưng thực dân Pháp cũng như các đế quốc ngày nay lúc nào cũng tìm các cách để gây mâu thuẫn căm thù giữa họ để cho không thể có sự đoàn kết nhất trí, có thế mới dễ bề cai trị. Vì thế dưới thời Pháp thuộc luôn luôn người Thái trắng đến phá nhà cướp của người Thái đen. Thực dân lợi dụng điều uất ức của người Thái đen xúi họ đi lính cho Pháp giết lại người Thái trắng. Đối với các thiểu số khác, thực dân Pháp cũng chơi trò ma giáo đó, vì thế sau một trăm năm bị thực dân thống trị, có một số người thiểu số - tương đối ít đinh - đã bị tiêu diệt lần lần hay bị thu hút vào các thiểu số khác lớn hơn.


Xứ Thái ngày nay trong thời “thái bình thịnh trị” cũng sống gần như cô lập. Trừ một số “châu mương”, “châu đoan” làm đày tớ cho ngoại bang xuân thu nhị kỳ được “các quan lớn Pháp” cho về kinh kỳ ăn chơi bậy bạ, thưởng thức các lạc dục chết người, gia đình Thái nào cũng phải tự túc: cày cấy, giồng giọt lấy mà ăn, dệt vải may áo lấy mà mặc, ốm đau vào rừng kiếm lá lấy mà uống, mà có cọp beo về lởn vởn chung quanh nhà vồ người mang đi thì chống cự lấy, sống chết không ai cần biết. Sau Cách mạng tháng Tám, xứ Thái tương đối khá hơn trước, nghĩa là tạm đủ muối để ăn nhưng hủ tục vẫn còn, một số dân chúng vẫn còn sợ thầy mo và nhờ thầy mo trừ tà ma quỷ quái thay vì đưa tay cho người y tá chích hay uống thuốc ký ninh để trừ bệnh sốt rét rừng chẳng hạn…


Tuy nhiên, nói một cách chiết trung, xứ Thái vẫn là một xứ mơ mộng làm cho nhiều người Kinh mơ ước. Tại sao? Là vì xứ Thái tương đối nghèo hơn và buồn hơn Kinh kỳ thật, nhưng thật ra người ta sống hiên ngang, tự do hơn, đói thì vào rừng đào củ mo ăn, không hệ lụy ai, không phiền phức ai. Còn đến ngày hội ngày hè, tiếng khèn nổi lên, trai gái hò hát với nhau, tung cầu, múa lượn, dưới bóng lá xanh dưới chân núi tím, đẹp và thơ mộng không tả được.


Tất cả những phong tục tập quán đó người Thái vẫn giữ được, nhưng cũng như tất cả các nước trong xã hội mới có tiến bộ và có điều thay đổi, người ta nhận thấy sự thay đổi, tiến bộ ấy rõ rệt nhất ở người phụ nữ.


Về phía người Mèo, theo tập tục ngàn xưa để lại thì người thanh niên muốn lấy vợ phải cùng bạn hữu đến cướp người yêu mang đi. Ông bố vợ đành phải buộc lòng nhận cho cậu con trai kia lấy con gái mình làm vợ, nhưng cái lệ treo cưới thách cũng “cắt cổ” như ở tỉnh. Cũng vì tục “cướp vợ” này, người ta thuật lại chuyện trước đây có một ông chức sắc Mèo cướp một cô gái nọ về làm vợ lẽ. Cô ta không có cách gì yêu được tên nọ, tự tử cho rồi đời. Hiện giờ, tục cướp vợ vẫn còn ở xứ Thái, nhưng công việc cướp đã được “nhà trai, nhà gái” thỏa hiệp với nhau từ trước. Công việc cướp vợ chỉ còn là một cách “rước dâu”, hơi đường đột và kỳ cục.


 Còn người đàn bà Thái thì không đợi đến bây giờ, cả trăm năm nay ai cũng phải nhận là xinh có tiếng, đẹp nõn nà mà lại thêm cái đức tính khéo nuôi con chiều chồng. Nhìn ngoài mặt thì đời sống của họ dường như thanh thản tự do hơn các phụ nữ khác ở trên đất nước Việt Nam. Phải chăng là họ sinh sống trong một vùng mà lễ giáo cổ truyền bắt buộc họ lúc lớn lên phải hiểu biết công việc yêu chồng, nuôi con và múa vũ cho dẻo cho mềm, cho hấp dẫn? Thực ra thì người đàn bà Thái không sung sướng, tự do như ta vẫn tưởng. Cũng như tất cả các phụ nữ khác trên đất Việt, người đàn bà Thái cũng bị lệ thuộc tam tòng, tứ đức. Công chuyện gả bán hoàn toàn thuộc về người làm cha mẹ. Lễ giáo đó là nguồn gốc của nhiều mối tình tan vỡ. Thay vì giải phóng người đàn bà, thực dân Pháp lại cùng với các tay sai phong kiến khai thác sự lệ thuộc của người đàn bà Thái. Người ta đã từng thấy có nhiều viên quan cai trị, nhiều châu đoan, châu mương, nhiều phú hộ lấy tiền để mua những cô gái nõn nường trong trắng, và có người lại đổi vài vò rượu hay một con trâu mà được một nàng hầu xinh như mộng. Ấy vậy mà còn là khá đấy, chớ nếu họ cướp không thì cũng chẳng làm gì nổi họ.


Tô Hoài đã diễn tả tâm trạng và tình cảm chân xác của người con gái Thái trong nhiều truyện của anh viết về xứ Thái. Điển hình là Ính và nàng quả phụ Yên cùng ở trong truyện Mường Giơn. Người ta còn thấy hé nở tư tưởng cấp tiến của người đàn bà Thái trong truyện Thao và một vài truyện khác tả một vụ án mạng trong làng hay nói về “thời cuộc đã thay đổi” không còn lắng đọng một chỗ như ngày trước nữa.


 


Tô Hoài: một nhà văn phong phú


Tô Hoài cùng viết vào một thời với Nam Cao.


Trước kháng chiến, hai anh cùng viết vì vấn đề sinh sống. Sau đó, hai anh viết vì tin tưởng nhiều hơn, nhưng Nam Cao không may mất sớm nên tác phẩm trước tác được, tuy là phong phú nhưng tương đối không phong phú bằng Tô Hoài. Bây giờ, Tô Hoài vẫn còn trước tác. Theo chỗ biết của riêng tôi, lúc còn kháng chiến chống Pháp, anh đã nuôi một cái mộng viết một cuốn truyện trường thiên nhan đề là Mười năm. Hình như đến bây giờ Tô Hoài đã viết được tám cuốn tám năm. Tập truyện trường thiên này gợi lại những đề cũ mà Tô Hoài trìu mến trước kháng chiến: đời sống cơ cực và tâm tính hồn nhiên của những người sống ven đô, trong những căn nhà lá lụp xụp, làm bạn với ruộng đất với những cái sa kéo sợi và những cái hồ tráng giấy bản và giấy moi…


Nhưng đừng tưởng viết truyện Mười năm như thế mà Tô Hoài quên mất đất Thái thân yêu. Có người hỏi:


- Anh quên các người bạn thiểu số hay sao?


- Quên làm sao được. Tôi sống ở các vùng sơn cước như là sống một tuổi thiếu thời thứ hai.


Tô Hoài xây nhiều mộng lắm: viết Mười năm nhưng lại mơ đào xứ Thái sâu hơn nữa. Anh cho biết là anh tha thiết mong có sức khỏe và thời giờ để viết một cuốn truyện về Bắc Sơn khởi nghĩa - vùng Bắc Sơn anh dũng của người Nùng và người Tày đã đứng lên thành lập từ 1941 chiến khu đầu tiên của Việt Nam để chống Pháp và diệt Nhật.


Để hoàn tất công cuộc đòi hỏi nhiều thời giờ lâu lắc, Tô Hoài mong có dịp trở lại Bắc Sơn để biết và hiểu Bắc Sơn kỹ hơn nữa. Anh nói:


- Đó không hẳn là xứ Thái nhưng chung quy vẫn là những miền đồi núi chập trùng mà các đồng bào thiểu số ăn ở với nhau trong tình ruột thịt. Tôi muốn sống lại với những nhân vật mà tôi định viết về đời sống của họ, tâm tình của họ và ước mong của họ.


Không. Muốn viết và muốn thành công quả thật là phải sống như Tô Hoài. Bây giờ tôi không lấy làm lạ tại sao trong các sách giáo khoa trung học ở đây, các giáo sư trích nhiều đoạn trong Cỏ dại, Xóm Giếng ngày xưa, Truyện loài vật, Giăng thề của Tô Hoài để cho các thiếu niên tập viết văn và giảng văn. Và tôi cũng sẽ không lấy làm lạ nếu ngày kia đất nước thanh bình, con em chúng ta sẽ học giảng và tập viết văn qua những sách như Mười năm hay Truyện xứ Thái.


Tháng Giêng Giáp Dần 1974


Văn Học, Giai phẩm, Sài Gòn, 5-6-1974


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








[i] Bài này được Vũ Bằng ký bút danh Đồ Nam - (NBS).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Món riêu của Bà - Lê Phương Liên 18.11.2017
12 người lập ra nước Nhật (12): Matsushita Konosuke - Kinh doanh kiểu Nhật và triết lý kinh doanh - Sakaiya Taichi 10.11.2017
Sơn Nam - Hơi thở của miền Nam nước Việt - Tạ Tỵ 10.11.2017
Dương Nghiễm Mậu - Tạ Tỵ 10.11.2017
Phóng sự Hoàng Đế của Ryszard Kapuscinski - RYSZARD Kapuscinski 06.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (3) - Trần Đức Thảo 05.10.2017
Những đám khói - Võ Phiến 05.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (2)/ Chuyện Nguyễn Tuân đãi TĐT chầu hát chui! - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Trần Đức Thảo - Những lời trăn trối (1) - Tri Vũ - Phan Ngọc Khuê 01.10.2017
Văn tài Võ tướng Trần Độ - Võ Bá Cường 09.08.2017
xem thêm »