tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19994687
21.05.2013
Vũ Bằng
Tôi đã đánh mất một bản thảo quý nhất của Tô Hoài

Nếu tình cờ bài này đến tay Tô Hoài, chắc chắn anh ngẩn ra không biết là tôi đã đánh mất bản thảo nào của anh. Ngồi mà kiểm điểm lại từ khi anh bắt đầu viết truyện đăng trên Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Truyền Bá, Phổ Thông Bán Nguyệt San, Lịch Sách Tân Dân, tác phẩm dài cũng như ngắn của anh viết ra kể đã nhiều, nhưng tất cả các tác phẩm ấy không chóng thì chầy cũng đều đăng tải cả không thiếu một tác phẩm nào. Thế thì sao lại có chuyện tôi đánh mất một bản thảo quý nhất của Tô Hoài?


Vậy mà câu chuyện đó đã xảy ra thật mà chính Tô Hoài không biết (hay không nhớ). Nhưng muốn cho bạn đọc hiểu hết cả đầu đuôi câu chuyện, ta phải bắt đầu từ chỗ bắt đầu.


 


Biết nhau từ chuyện con dế mèn


Tôi biết Tô Hoài từ lúc anh còn trẻ lắm, có thể nói là trẻ nhất trong các nhà văn lúc bấy giờ. Anh là bạn tâm giao của Nam Cao, đi đâu cũng có nhau nhưng so với Nam Cao anh cũng kém tuổi. Lúc Tiểu Thuyết Thứ Bảy ra khổ nhỏ ngoài bìa vẽ cái tượng bán thân và một xếp báo, anh cũng như Nam Cao chưa viết. Phải đợi đến lúc Tiểu Thuyết Thứ Bảy đổi ra khổ lớn, ngoài bìa vẽ toàn thể nàng Mỹ thuật cụt tay, Tô Hoài và Nam Cao mới có truyện ngắn đầu tiên đăng tải. Bây giờ tôi không còn nhớ rõ, chỉ còn mang trong trí óc là truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài tôi chọn lựa để đăng là truyện Đôi chim gi đá. Sau truyện này đăng rồi, Tô Hoài thêm mấy truyện ước lượng đăng ba bốn kỳ báo Tiểu Thuyết Thứ Bảy mới hết. Chưa biết tính làm sao thì vừa lúc đó ông Vũ Đình Long cho xuất bản tờ báo nhi đồng Truyền Bá, giao cho tôi phụ trách về bài vở. Tôi lấy truyện “vừa vừa” đó đăng trên Truyền Bá, và truyện ấy đã đánh dấu cái bút hiệu Tô Hoài. Truyện ấy là truyện Dế mèn phiêu lưu ký. Bây giờ, những bạn cũ của Tô Hoài - trong số có cả thầy học cũ của Tô Hoài nữa, mỗi khi nói đến các tác giả chuyên viết về loài vật, nhắc đến Tô Hoài, vẫn còn ca ngợi cái lối nhận xét và lối trình bày các con vật của anh trong truyện và nhấn mạnh rằng tả những con cào cào mặc áo xanh áo đỏ, những con bọ ngựa, châu chấu, dế mèn như anh thì tuyệt tác, khó có một nhà văn nào viết về loài vật trên thế giới tả được xác thực, giản dị và ngây thơ đến thế.


Sau khi truyện Dế mèn phiêu lưu ký đăng tải, bao nhiêu anh em viết Tiểu Thuyết Thứ Bảy đều ngạc nhiên sao lại có anh mới viết mà tài đến thế, tìm đến báo quán hỏi Thanh Châu và Ngọc Giao xem Tô Hoài là ai. Vì lúc ấy mặc dù phụ trách về bài vở cho Tiểu Thuyết Thứ Bảy Truyền Bá, tôi ở nhà (cách báo quán chừng năm chục bước) ít khi sang báo quán, Thanh Châu và Ngọc Giao chạy sang nhà tôi hỏi lại và tôi thú thực tôi cũng không biết Tô Hoài là ai cả. Mãi sau khi Truyền Bá bán được độ chừng một hai tuần gì đó, một hôm Tô Hoài mới tìm đến nhà tôi và chúng tôi bắt đầu quen biết nhau từ hôm đó.


Anh không đi một mình nhưng cùng đi với Nam Cao, vẻ mặt bẽn lẽn, cử chỉ ngại ngùng như một người con gái. Bây giờ không biết thay đổi ra sao, chứ lúc thiếu thời Tô Hoài là một thứ người mỏng manh, gần như yếu ớt, da trắng, tóc chải theo cái kiểu mà bấy giờ kêu là “thủy ba sóng lượn”, giọng nói nhỏ nhẹ, rụt rè, thỉnh thoảng nói đến đoạn nào khó diễn tả hay không tiện diễn tả bằng lời thì chỉ nhoẻn miệng ra cười. Tô Hoài và Nam Cao xấp xỉ bằng tuổi nhau (lúc đó Tô Hoài chừng hai mươi mà Nam Cao chừng hai mươi ba, hai mươi tư tuổi) nhưng khác nhau kỳ lạ về cách viết cũng như về cách nói năng đi đứng: Tô Hoài là một thiếu niên ngây thơ dí dỏm, có vẻ yêu đời, mà trái lại Nam Cao thì từ đầu tóc bồm xôm đến cách đi đứng, nói năng, viết lách đã có vẻ một người lớn tuổi, chán chường và sống với nhiều nội tâm hơn những người cùng một lứa tuổi với anh.


 


Tại sao lại lấy bút hiệu Tô Hoài?


Từ lúc biết nhau cho đến khi quân phiệt Nhật lật thực dân ở Đông Dương, Tô Hoài bỏ họ hàng, bè bạn, bỏ bút mực, ra đóng góp phần tranh đấu cho độc lập và công bằng xã hội, tôi thường gặp Tô Hoài tại nhà tôi hoặc nhà báo, chứ ít khi cùng phùng trường tác hí với nhau ở ca lâu, tửu quán như đối với Ngọc Giao, Thanh Châu, Hiên Chy, Nguyễn Trẩm Dự, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân…. Là vì nhiều lẽ: Tô Hoài có vẻ “chân chỉ hạt bột” - nói một cách khác có vẻ là một người… lương thiện trong khi chúng tôi là… quỷ sứ nhà trời; Tô Hoài không được sung túc về tiền nong (vì anh viết được đồng nào thì phải đem về bỏ vào quỹ gia đình), lại nữa, anh không ở “trên phố” như đa số anh em lúc bấy giờ, mà ở ngoài thành phố - làng Bưởi - nếu láng cháng lên phố sâm sẩm tối không về thì hết xe điện, mà nếu đi xe sắt hay cao su thì… tốn lắm. Từ chỗ hết xe điện Thụy Khuê phải đi một quãng khá dài mới đến cổng làng; mà từ cổng làng vào đến “xóm Giếng” là nhà anh còn phải đi thêm một quãng khá dài nữa bằng đường đất; cây cối bùm tum, dù là can đảm không tin ma quỷ cũng cảm thấy hơi rờn rợn. Đối với “xóm Giếng”, tôi cũng là một người quen. Thường thường, một tháng đôi ba lần tôi hay về đấy, vì ngoài Tô Hoài ra, tôi còn một người bạn ở gần Tô Hoài. Bây giờ, còn sống thì cũng bảy mươi tư, bảy mươi nhăm: đó là Bảo Sơn Phùng Bảo Thạch, một người đàn anh của tôi trong nghề báo; thêm nữa, ở giữa khoảng nhà Phùng Bảo Thạch và Tô Hoài, tôi có một cái trại nằm ngay chính giữa. Cái trại này bỏ trống vì ủng nước cho nên về Thụy Khuê, các bạn hữu và tôi thường đến phá nhà Phùng Bảo Thạch, ăn cơm dưa muối, hôm nào giàu thì kêu thịt bò thui ăn (vì ở đây nổi tiếng thịt bò thui chấm với tương gừng và rau răm, rau mùi). Tô Hoài ít khi sang nhậu với chúng tôi. Vì lẽ lúc ấy anh chưa quen biết Phùng Bảo Thạch, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng, Vũ Liên, Nguyễn Đình Lạp, Nguyễn Quốc Ấn. Ăn nhậu xong, tôi thường một mình tà tà sang chơi bên nhà Tô Hoài tán chuyện lăng nhăng, nhưng chính vì đoạn đời ăn chơi láo lếu này, tôi mới được biết Tô Hoài hơn một chút.


Anh ở một căn nhà lá ba gian, tối tăm nhưng sạch sẽ, bên ngoài có một mảnh vườn to bằng cái mùi xoa bao bằng một hàng rào ô rô, trong lỉnh kỉnh mấy cây bưởi, cây khế, có những con chim gi đá kêu tích tích ở đầu hồi, những con chào mào hót toác toác ở trên cây và rất nhiều bươm bướm bay chấp chới ở trong bóng lá cây xanh ngăn ngắt. Không bao giờ tôi hỏi về tình trạng kinh tế gia đình anh ra thế nào - nhưng tôi biết rằng gia đình anh túng lắm - cũng như không bao giờ tôi hỏi gốc gác của anh, tuổi anh và tên thực anh là gì.


Cho nên đến tận bây giờ, hơn bốn chục năm đã trôi qua rồi - biết anh, làm việc với nhau, có khi ăn bánh cuốn, phở hay bánh bèo với nhau - tôi vẫn không biết tên thật anh là gì. Tôi không bao giờ hỏi bởi vì theo tôi đối với một người văn nghệ cái tên Nguyễn Văn Tý, Trần Văn Hội, Hoàng Văn Dầu không có nghĩa lý gì. Tôi chỉ cần biết bút hiệu của anh thôi. Vì thế có một lần tôi đã nói chuyện về bút hiệu ấy và hỏi xem ai đã đặt cho anh (là vì có nhiều nhà văn đã nhờ những nhà Nho học tra cứu đặt những bút hiệu để cho có nghĩa lý và đúng sách vở). Tô Hoài cho biết anh chẳng nhờ ai đặt cả. Thấy người ta viết có bút hiệu, anh cũng tự tìm một bút hiệu cho mình. Vì làng Bưởi là nơi anh ở có một con sông nổi tiếng là sông Tô Lịch chảy qua, mà ở đấy lại thuộc về phủ Hoài Đức (tỉnh Hà Đông), anh lấy hai chữ đầu, đặt bút hiệu là Tô Hoài. Thế thôi. Giản dị hết sức: giản dị như đời anh, giản dị như lời văn anh.


Bật lên từ thuở Dế mèn phiêu lưu ký, bút hiệu Tô Hoài từ đó bắt đầu ký một cách hãnh diện dưới nhiều bài truyện ngắn đăng Tiểu Thuyết Thứ Bảy, Truyền Bá. Vì vấn đề sinh sống, chừng một năm sau đó, anh viết truyện dài vì truyện ngắn ít tiền. Bạn đọc báo từ đó bắt đầu thấy tên Tô Hoài xuất hiện trên Phổ Thông Bán Nguyệt San, “Những tác phẩm hay” và thấy rằng: bên lề các con vật làm bạn với anh hàng ngày ở căn nhà làng Bưởi, anh bắt đầu đề cập tới đám người hiền lành chất phác, sống đầu tắt mặt tối, rất cần cù mà chẳng đủ ăn ở chung quanh anh, trong bùn lầy nước đọng. Bước sang địa hạt này, Tô Hoài cũng thành công ngay với những cuốn truyện đầu như Cỏ dại, Xóm giếng ngày xưa, Giăng thề


Thường thường trong mươi mười lăm năm làm văn nghệ - chỉ tạm kể thế thôi để làm thí dụ - một nhà văn thường có khi lên và có khi xuống, có những tác phẩm trội mà cũng có những tác phẩm xoàng, nghĩa là khó mà “đều tay” được. Tô Hoài không thế.


Về sau này, tôi cũng có đọc một ít tác phẩm của Tô Hoài; xin miễn bàn đến lúc này. Riêng nói về những tác phẩm mà anh đã trước tác trước 1945, 1946 do nhà Tân Dân hay nhà khác xuất bản (vì về sau, Tô Hoài còn bán tác phẩm cho vài nhà xuất bản khác nữa), riêng tôi nhận xét thì bao nhiêu tác phẩm của Tô Hoài, nói về người cũng như về loài vật, hay đều đều.


 


Nghệ thuật viết của Tô Hoài dưới mắt tôi


Bây giờ, anh em cách biệt, tôi ít có dịp đọc Tô Hoài và không biết là cách viết của anh thay đổi ra sao, tôi lại cũng nghe thấy nói rằng hình như chính anh cũng tự viết về nghệ thuật viết của mình. Rất có thể anh nhận xét về mình đúng nhưng cũng rất có thể sai. Vụ đó, sau sẽ “hạ hồi phân giải”.


Riêng tôi thấy rằng Tô Hoài thuộc về loại văn nghệ sĩ viết dễ dàng. Khác hẳn một loại khác viết khó khăn, cần cù lắm mới viết nên câu, nên bài vì phải chọn chữ, sắp xếp ý kiến, vì phải gọt rũa từng câu, từng chữ. Thuộc vào loại thứ nhất, ta có thể kể ra làm thí dụ nhiều nhà văn Trung Hoa như Bồ Tùng Linh, Thi Nại Am… còn kể về các nhà văn Âu Mỹ thì có Pearl Buck, Joland Foldes, Somerset Maugham… Đọc những nhà văn này là có cảm giác họ viết văn như họ ăn cơm, họ thở khí trời, nghĩa là những công việc tự nhiên của trời đất chớ không bóp óc nặn tim một cách cần cù khổ sở. Nói như thế không phải bảo rằng công việc trước tác không đòi mồ hôi xương máu; có một điều khác hạng văn nghệ sĩ loại hai, nghĩa là họ nghĩ ngợi sắp xếp, thai nghén tác phẩm của họ ra sao không biết, nhưng họ viết như ta nói chuyện, lời văn không một chút cầu kỳ.


Văn của Tô Hoài, ngay từ cuốn sách đầu tiên, thuộc vào loại bình dân, viết như nói chuyện, không áp dụng một lối hành văn gì, đặc biệt không dùng những danh từ, động từ, tính từ cầu kỳ hay đầy những chữ mới khó hiểu. Nhờ lối trình bày tự nhiên, với những danh từ giản dị như thế, văn của Tô Hoài có một chất trong sáng lạ, cho nên tới bây giờ, dù là ở xa xôi, văn Tô Hoài vẫn được trích ra để làm mẫu mực quốc văn cho các trường trung học ở đây, không ai lấy làm lạ.


 


Rất có thể chính Tô Hoài không biết tôi đã đánh mất bản thảo nào của anh


Trong khi tôi phụ trách mấy tờ báo của ông Phong Di Vũ Đình Long, chủ nhà xuất bản Tân Dân, bao nhiêu bản thảo của Tô Hoài gửi đăng đều chuyển hết cả cho tôi đọc và quyết định. Tôi nói ra mà không sợ sai lầm, tất cả những tác phẩm đều lần lần đăng hết, không thiếu một tác phẩm nào.


Vậy sao lại có tác phẩm của Tô Hoài, một tác phẩm quý mà tôi đánh mất? Nếu tình cờ bài báo nhỏ này lọt vào tay Tô Hoài ở chốn xa xôi, tin chắc Tô Hoài cũng không biết tác phẩm đó là tác phẩm gì, nhan đề là gì, trong nói cái gì - và mất trong trường hợp nào và mất ra sao.


Đó là vào khoảng 1950-1952 gì đó tôi không nhớ kỹ, một số lớn anh em hợp tác với mấy tờ báo của nhà xuất bản Tân Dân đột nhiên vắng mặt Hà thành, trong đó có Tô Hoài, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân, Trần Cư, Liêu Dương, Từ Thạch… Trong thời loạn mỗi người dân có đầu óc phải có một trách vụ để chống xâm lăng, người này không cần biết công tác của người kia làm gì. Tô Hoài là một anh em trong số đó. Thấy vắng mặt anh, tôi không lạ và cũng không để ý; duy có đôi khi mây chiều gió sớm ở Hải Phòng, nhớ các bạn cũ bây giờ không biết ăn đâu, ở đâu thì cũng biết tí ti thôi. Ấy thế mà một buổi chiều mưa phùn gió bấc kia, ngồi trong một căn nhà tối ở đường Lạch Tray, tôi chợt thấy có hai thanh niên lạ mặt đẩy cửa đi thẳng đến trước mặt tôi và nói huỵch toẹt như những người quen biết cũ:


- Chúng tôi lại đưa anh cái này! Anh vẫn mạnh khỏe?


Rồi họ đi, không cho tôi kịp có thì giờ mời ngồi chơi uống nước. Đó là một tập giấy đã nhàu khổ lớn, ước lượng sáu bảy chục trang, viết chữ nhỏ li ti như kiến. Vừa trông, tôi biết ngay là của Tô Hoài, vì trong chín mười năm tôi đã quen nét chữ của các nhà văn lúc đó quá rồi. Thường thường, trong các bản thảo, chữ của Tô Hoài không lớn, không nhỏ, viết rất rõ ràng. Lần này, chữ đọc vẫn rõ nhưng nhỏ lắm. Dù sao tôi cũng nhận ra ngay. Và cảm giác đầu tiên của tôi là hơi ngạc nhiên một chút vì Hiệp định Genève ký rồi, đất nước chia đôi, báo chí đóng cửa gần hết - trong đó có mấy tờ báo của Tân Dân - mà Tô Hoài còn gửi bản thảo cho tôi làm gì, để đăng tải vào đâu.


Lập tức, tôi bỏ dở cuộc đánh bài, lên căn gác hẹp ở đường Lạch Tray, vặn một ngọn đèn ở đầu giường lên đọc.


Thì ra đó là một bức thư. Bảo là một bức thư, không đúng, phải gọi là một tác phẩm đúng hơn, vì trong bảy mươi trang giấy viết chữ nhỏ li ti đó, Tô Hoài đã gói ghém cuộc đấu tranh của các bạn tôi quen tôi với bao nhiêu đau khổ ở những vùng nước độc ma thiêng… Nếu sau này văn học sử cần có một tác phẩm viết lại diễn tiến của cuộc đấu tranh gian khổ diệt Nhật chống Pháp và công lao của các anh em cầm bút - bọn người mà Vũ Hoàng Chương kêu là “sinh lầm thế kỷ” bị anh em đất nước khinh khi - thì tác phẩm Tô Hoài gửi cho tôi dưới hình thức lá thư đáng kể là một tác phẩm quý giá và đặc biệt.


Thế nhưng Tô Hoài gửi tác phẩm ấy cho tôi làm gì? Tôi không hiểu. Có lẽ anh cho tôi biết thực chất của cuộc cách mạng chăng? Hay là anh yêu tôi muốn cho tôi biết lòng can đảm, óc kiên trì của các anh em văn nghệ để tôi rút tỉa lấy chất liệu sau này viết một cái gì?


Ra kháng chiến tôi không gặp Tô Hoài một lần nào, chỉ biết tin tức của anh qua Nam Cao - vì Nam Cao có hai lần từ Việt Bắc về thăm tôi ở Đọi Đệp - nên không biết gì hơn. Về Hà Nội, thỉnh thoảng tôi cũng được tin tức của anh. Và, có một vài lần có anh em ở Pháp về Sài Gòn, làm quà cho tôi một vài tác phẩm của anh trước tác sau 1955. Đọc xong, nhớ Tô Hoài quá, tôi tìm lại bức thư tác phẩm anh gửi cho tôi ở Cảng thì mất rồi. Bấy giờ, tôi mới mang máng nhớ rằng tôi đã đánh mất tác phẩm của Tô Hoài lúc mới vào Nam, chính phủ(1) đánh Bình Xuyên, bao nhiêu tài liệu tôi mang theo bị cháy ở đường Nancy.


*


* *


Lúc anh em Tiểu Thuyết Thứ Bảy còn sống đầy đủ với nhau, có một số báo đăng một bài truyện nhan đề là Nước chảy mây trôi ký tên là Song Nguyệt, trong tả một nhà văn hết thời, thấy những nhà văn trẻ lên hương, buồn quá thắp một ngọn đèn khóc với dĩ vãng của mình.


Số báo ấy in ra, một hôm Tô Hoài đi với Thâm Tâm lại thăm tôi, hỏi:


- Bài ấy tác giả tên thật là gì, hở anh?


Nguyên Nam Cao, Tô Hoài, Thanh Châu và tôi cùng theo một văn phái với nhau, có cách hành văn gì mới, ý tưởng gì lạ, cách bộ kết cấu nào đặc biệt thì hay đem ra nói cho nhau nghe. Có lẽ thấy cách hành văn trong bài Nước chảy mây trôi cũng na ná giống cách hành văn của chúng tôi, Tô Hoài hỏi thế. Tôi trả lời:


- À, đấy là của một lính mới ký là Song Nguyệt, tên thật là Lý Văn Hoa ở Thanh Hóa gửi ra đăng. Anh thấy thế nào?


Tô Hoài không nói gì cả. Anh có vẻ tin là thực. Anh tin Song Nguyệt là Lý Văn Hoa. Bây giờ, đã đến lúc tôi thấy cần phải nói thực. Lý Văn Hoa là tôi, hai chữ Nguyệt đứng cách nhau thành chữ “Bằng”. Tâm trạng anh văn sĩ hết thời khóc với dĩ vãng khi thấy các nhà văn trẻ tuổi lên hương, văn sĩ đó chính là tôi.


Tôi phải nói thực ra như thế là vì hôm nay ngồi viết về Tô Hoài, sau khi đọc những tác phẩm mới của anh và tìm hiểu diễn tiến đấu tranh bằng ngòi bút của anh, tôi thấy rõ rệt cái anh văn sĩ hết thời ngồi khóc quá khứ trước các nhà văn trẻ tuổi lên hương.


Quá khứ đã qua rồi, nhắc lại vô ích! Biết như thế mà sao cứ buồn. Buồn nhất trong khi bao nhiêu nhà văn nhà báo trẻ tuổi ở đây sống chết cho những mục đích cao thượng, đáng yêu thì cái anh văn sĩ  hết thời trong truyện Nước chảy mây trôi chỉ lo chạy gạo, dầu lửa, than, đầu tắt mặt tối để lo sống cho vợ con gà chó!


Tháng Hai năm 1974


Văn Học số ra ngày 5-5-1974


Nguồn: Vũ Bằng Toàn Tập. Tập 4. Triệu Xuân sưu tầm, biên soạn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info








(1) đây là chính quyn Ngô Đình Dim.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ngô Tất Tố: Ba tính cách trong một con người - Phan Quang 14.07.2017
Nguyễn Tuần: Cỏ Độc lập - Phan Quang 14.07.2017
12 người lập ra nước Nhật (13) - Sakaiya Taichi 05.07.2017
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
xem thêm »