tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20509325
Truyện ngắn
20.05.2013
Vũ Bằng
Lucungđô

Viết theo một câu chuyện do Edward Lucas White kể.


Ông Tôn nói:


– Người ta tin ở mắt mình, khi mắt mình và tai mình đồng ý với nhau thì không còn nghi ngờ gì nữa về trí óc của mình. Người ta có thể tin tưởng ở cái gì mình đã nghe và đã thấy. Như thế là hợp lý, là khoa học, là duy vật biện chứng pháp chứ gì!


Ông Sinh cười và nói:


– Chưa chắc.


Tất cả mọi người đều quay lại nhìn Sinh. Tôn, đứng thẳng, dạng hai chân ra, lưng quay vào lò sưởi. Như thường lệ, ông ta có vẻ chi phối những người nghe chuyện. Và ông Sinh, cũng như thường ngày, ngồi thom thỏm trong một xó. Nhưng đến lúc ông cất tiếng nói thì chắc chắn có điều khác thường.


Chúng tôi nhìn ông ta, im lặng một cách nể vì. Sau đó một giây, ông nói:


– Tôi nói thế là vì tôi chợt nghĩ đến một sự việc mà tôi đã được nghe và thấy tận tai, tận mắt ở Phi châu.


Cho tới giờ phút này, chúng tôi cứ tưởng rằng không dễ gì thúc đẩy ông Sinh nói ra những kỷ niệm thành thật và chắc chắn của ông về các kinh nghiệm ở Phi châu. Ông chỉ nói sơ sơ cho biết là ông đã đi Phi châu rồi và ông đã trở về. Vì thế câu nói của ông vừa đây làm cho chúng tôi chú ý liền.


Ông Tôn rời khỏi cái lò sưởi và không có người nào có thể nói chắc là ông đã bỏ đi lúc nào.


Không khí trong phòng thay đổi hẳn. Ông Sinh thành ra cái đích cho người ta nhắm và người ta đốt vội mấy điếu xì gà. Sinh cầm một điếu, cắn cái đầu, quẹt lửa hút một hơi rồi để cho thuốc tắt, không châm lại.


*


Chúng tôi ở trong Đại Lâm để kiếm giống người tí hon, tên khoa học là “pích mê” [1]. Theo thuyết của Van Rieten thì những người chim chích (tí hon) mà Stanley tìm thấy là những người lai giống của mọi da đen và những người píchmê chính cống. Stanley hy vọng kiếm ra được một giống người cao lắm là chín mươi phân. Chúng tôi không bao giờ thấy những người tí hon như thế.


Thổ dân không nhiều, thú vật lại hiếm. Mà ngoài thú vật dùng làm thức ăn ra, không còn có gì để nhét vào bao tử. Chung quanh chúng tôi, rừng rậm mênh mông, bát ngát, ẩm thấp mà lại nhớt nhát. Không một thổ dân nào mà chúng tôi gặp gỡ đã từng trông thấy một người da trắng.


Tự nhiên có một hôm, vào lúc xâm xẩm tối, một người Anh tiến đến cái lều vải của chúng tôi. Y có vẻ kiệt sức. Chúng tôi không hề nghe nói tới y bao giờ, trái lại y không những đã biết tiếng chúng tôi lại còn đi bộ năm ngày đằng đẵng để kiếm chúng tôi là khác. Người dẫn đường và phu khuân vác của y cũng mệt đừ. Mặc dầu quần áo rách bươm và râu mọc tùm lum trên mặt, người ta có thể nhận thấy dễ dàng là bình thường y chải chuốt, sạch sẽ và ăn mặc cẩn thận. Thoạt trông, ai cũng biết y thuộc hạng người cạo râu hằng ngày. Nhỏ thó và gầy, y có vẻ lạnh lẽo, không có tình cảm gì hết. Người Anh đó có vẻ muốn đi khắp địa cầu mà vẫn giữ gìn “cho ra vẻ” mà không làm phiền bất cứ ai.


Y tên là Cham. Y tự giới thiệu một cách nhũn nhặn và ăn uống giữ gìn hết sức: nếu phu khuân vác không nói cho phu khuân vác của chúng tôi được biết, không bao giờ chúng tôi lại có thể ngờ rằng trong năm ngày y chỉ ăn có ba bữa cơm, mà cơm nước nào có ra hồn cơm nước. Đến lúc chúng tôi đốt điếu thuốc, y mới nói tại sao y đến kiếm chúng tôi.


– Ông trưởng đoàn của chúng tôi đau. Ổng sẽ không thể qua khỏi được, nếu không có người cứu chữa. Tôi nghĩ rằng rất có thể...


Y nói lặng lẽ, giọng trầm trầm, dìu dịu, nhưng trên môi y lấm tấm mấy giọt mồ hôi. Nghe y nói cẩn thận hơn, người ta biết rằng y cố nén xúc cảm mà chúng tôi nhận thấy tiết ra trong giọng nói của y. Một người bạn cùng ở trong đoàn chúng tôi, tên là Rinh, không biểu lộ một tình cảm nào hết, hoặc nếu y có tình cảm thật, y cũng không để lộ cho ai biết. Nhưng y chú ý hết sức nghe những lời của Cham. Tôi rất ngạc nhiên vì Rinh là thứ người không vừa ý là từ chối liền, không một hai gì hết. Rinh nghe những lời nói ngập ngừng của Cham và hỏi:


– Ông trưởng đoàn của anh là ai?


– Là ông Tuynh.


Chúng tôi đều ngạc nhiên và chúng tôi cùng reo lên một lúc:


– Lữ Tuynh?


Cham gật đầu.


Trong giây phút, Rinh và tôi ngồi lặng im. Rinh không hề thấy Lữ Tuynh bao giờ, nhưng tôi thì đã từng theo ông ta đi thám hiểm một vài nơi. Chúng tôi thường nói đến Lữ Tuynh trong các cuộc đốt lửa ban đêm.


Trước đó hai năm, ở phía nam miền Lu Bô, tại lãnh thổ Ba-Lu-Đa, ông Lữ Tuynh đã mở một chiến dịch chống một viên phù thủy, kết cục viên phù thủy bị thua, bộ lạc của y đầu hàng, đến bây giờ người ta còn nhớ. Thổ dân đã bẻ tay vị thiên thần của họ và dâng cho Lữ Tuynh mấy mảnh làm kỷ niệm.


Chúng tôi nghĩ rằng nếu Lữ Tuynh còn ở Phi châu thì ông ta không ở cùng một vùng với chúng tôi. Ấy vậy mà đột nhiên, chúng tôi hay tin ông đã đến vùng này trước chúng tôi và sứ mạng của ông ta đã tiến trước chúng tôi một bước.


*


Cái tên Lữ Tuynh, thốt từ miệng Cham ra, nhắc chúng tôi nhớ lại chuyện ly kỳ đời ông, những thành tích lạ lùng của ông, cha mẹ ông chết ra sao, những khám phá siêu việt của ông, tiếng tăm lừng lẫy của ông cũng như vụ ông bỏ gia đình, của cải bách vạn ra đi với một nữ ký giả lừng danh, mà lại có duyên và đẹp. Kế đó, ông ta ly dị vợ, hứa hôn với một cô khác, rồi lại trở lại lấy người vợ đã ly dị, rồi lại cãi nhau, rồi lại ly dị lần thứ hai, tiếp đó, ông đi Phi châu... Tất cả những chuyện ấy lởn vởn quay cuồng trong đầu óc tôi và chắc chắn Rinh cũng băn khoăn về những chuyện cũ đó như tôi, bởi vì y im lìm, không nói năng gì hết.


Sau mãi, y mới hỏi Cham:


– Vinh bây giờ ở đâu?


– Y chết rồi. Y chết trước khi tôi nhập đoàn của Lữ Tuynh.


– Thế anh không hợp tác với ông Tuynh ở Lu Bô à?


Cham trả lời:


– Không. Sau này tôi mới gặp ông ta. Ổng ở thác nước Sít-Tân-Lê.


Rinh hỏi:


– Có ai cùng đi với ổng?


– Chỉ có các người Zan-zi-Ba theo hầu cùng các phu khuân vác.


– Phu khuân vác loại nào?


– Những người Mang.


Câu trả lời ấy tạo cho chúng tôi một cảm giác mạnh. Nó xác nhận uy thế của Lữ Tuynh. Ông ta quả là một người tài giỏi lạ lùng, khéo chiếm được lòng người ta, bởi vì cho tới lúc đó, không có một ai xử dụng được giống người Mang, ngoài quê hương của họ làm kẻ hầu hoặc phu khuân vác – thậm chí cũng không thể dụ họ đi theo các cuộc thám hiểm lâu dài và khó nhọc.


Rinh lại hỏi:


– Anh có ở với người Mang lâu không?


– Ở vài tuần. Lữ Tuynh lưu tâm nghiên cứu họ. Ổng đã viết được một cuốn sách ghi ngữ pháp của người Mang. Theo ông, người Mang thuộc dòng Ba-lu-đa và thuyết ấy đã được phong tục, tập quán của người Mang xác nhận.


– Các ông sinh sống bằng gì?


– Bằng thú vật và rễ cây.


– Ông Lữ Tuynh đau từ bao giờ?


– Hơn một tháng nay.


– Mà ông thì đi săn thú để cho những người trong đoàn sinh sống?


Cham hơi đỏ mặt:


– Tôi bắn không giỏi, nhưng thỉnh thoảng cũng được một vài con thú đem về xài.


– Ông trưởng đoàn của anh bệnh gì?


– Hình như là bệnh mụn nhọt, đầu đinh, nhọt bọc chi đó.


– Vậy thì không nặng. Vài cái nhọt, trị cũng dễ.


Cham giải thích:


– Thực ra không phải là mụn nhọt hay đầu đinh. Mà ông Tuynh không phải chỉ có hai ba cái, mà có tới vài chục cái, có khi năm sáu cái liền một chỗ. Nếu là đầu đinh hay nhọt làm độc, rất có thể ổng chết đã lâu rồi. Tôi không biết trình bày ra sao: bịnh của ông không trầm trọng, nhưng nguy hiểm một cách khủng khiếp.


– Anh nói thế là làm sao?


Cham ngập ngừng một giây, đoạn nói:


– Bịnh kỳ lắm, hai ông à. Nó không có vẻ nặng ra và tấy lên như mụn nhọt hay đầu đinh thường. Ông Tuynh không đau đớn lắm mà ít khi sốt nhưng người ta có cảm giác bịnh ấy hủy hoại trí óc, tinh thần của ổng. Ông ta để cho tôi băng bó cái nhọt đầu tiên, nhưng cái nhọt sau thì ổng giấu chúng tôi và giấu cả các người hầu hạ. Ổng nằm ở trong lều và khi nào nhọt bể, ổng không cho tôi thay băng, gạc mà cũng không cho lại gần...


– Anh có nhiều băng, gạc dự trữ không?


– Có một ít, nhưng ổng không muốn dùng. Ông ta dùng những băng, gạc cũ sau khi giặt giũ.


– Ổng trị các mụn nhọt ấy ra sao?


– Ổng lấy một lưỡi dao bào mổ ra và cắt ngang da thịt.


– Sao? Anh nói sao?


Cham không đáp, nhưng nhìn thẳng vào mặt Rinh:


– Tôi tưởng đã nói với ông rằng đấy không phải là mụn nhọt.


– Nhưng chắc hẳn ổng điên.


– Tôi cũng nghĩ như ông vậy. Tôi không thể gì kiểm soát ổng mà cũng chẳng khuyên lơn được ổng.


– Ổng đã trị bao nhiêu mụn nhọt theo cách đó?


– Theo tôi biết thì hai cái.


– Hai?


Cham đỏ mặt lên và thú nhận:


– Tôi thấy vậy trong khi nhìn qua một lỗ thủng trong lều. Tôi thấy có nhiệm vụ phải canh chừng ổng.


Rinh tán thành.


– Tôi đồng ý với ông. Và ông đã trông thấy Lữ Tuynh trị bịnh như thế hai lần rồi?


– Tôi ngờ rằng ổng cũng trị các mụn nhọt khác như thế.


– Ổng có cả thảy bao nhiêu cái?


– Tôi đã nói là có cả vài chục cái.


– Ổng có ăn uống được không?


– Ăn như quỷ. Ăn khỏe bằng hai ba người phu khuân vác.


– Có đi đứng được không?


– Ông ta bò lết và rên khe khẽ.


– Anh vừa nói là thỉnh thoảng ông có sốt?


– Ít khi sốt, nhưng đã sốt thì sốt dữ.


– Có nói mê không?


– Chỉ có hai lần. Một lần vào lúc bể cái nhọt thứ nhất, và một lần nữa. Vào những lúc đó, ông không muốn cho ai lại gần. Nhưng chúng tôi nghe thấy ổng nói. Thổ dân nghe thấy, tái cả mặt đi vì sợ quá.


– Ổng nói tiếng của thổ dân trong khi mê sảng?


– Không. Nhưng ổng nói một thứ tiếng từa tựa như tiếng của thổ dân. Có người bảo là ổng nói tiếng Ba Lu Đa. Tôi học các thứ tiếng ngoại không dễ dàng. Ông Lữ Tuynh học tiếng Mang trong một tuần bằng tôi học cả năm. Nhưng tôi cảm giác là ổng nói tiếng Mang. Dù sao, những phu khuân vác người Mang nghe thấy đều hết hồn hết vía.


– Họ sợ?


– Cả những người ở Zan-zi-Ba cũng sợ luôn. Tôi sợ là cố nhiên. Nhưng tôi sợ vì lý do khác. Tôi sợ vì ổng nói hai thứ tiếng.


– Hai thứ tiếng? Ổng nói hai thứ tiếng?


– Đúng vậy. – Cham trả lời với một vẻ xúc động hơn khi nãy. Hai thứ tiếng trong một cuộc đàm thoại. Một tiếng nói của chính ông, còn tiếng nói kia thì nhỏ, nhát gừng, rụt rè, một thứ tiếng mà tôi chưa hề nghe thấy bao giờ. Tôi cảm giác là giữa những tiếng do giọng ồ ồ phát ra, có những tiếng Mang mà tôi được biết như Nedru, Metababa, Nedo nghĩa là đầu, tai, háng và hình như có tiếng Matomipa, Angunzi và Kamoman nghĩa là giết, chết và thù hận. Có một bạn cùng đi với chúng tôi nói rằng y cũng nghe thấy những tiếng ấy. Y giỏi tiếng Mang hơn tôi nhiều.


Rinh hỏi:


– Những người phu khuân vác nói sao?


– Họ nói “Lù cung đô! Lù cung đô!” Tôi không biết Lù cung đô là gì. Bạn tôi bảo tiếng Mang Lù cung đô nghĩa là con beo.


Rinh nói:


– Đó là tiếng Mang dùng trong bùa phép.


– Tôi không lấy thế làm lạ. Chỉ nghe thấy chữ “Lù cung đô, Lù cung đô” tôi có cảm giác ngay là bùa phép, ngải, chài, ếm, thư...


Rinh hỏi:


– Thế có tiếng nói nào trả lời tiếng nói kia không?


Mặt Cham tái hẳn đi:


– Có khi cả hai giọng cùng nói một lúc.


– Cả hai thứ tiếng cùng nói một lúc?


– Vâng. Ai cũng nhận thấy thế. Ngoài ra lại còn chuyện khác nữa.


Nói đến đây, Cham ngưng lại và nhìn chúng tôi với hy vọng rõ rệt là chúng tôi có thể giúp đỡ anh.


Anh hỏi:


– Có ai vừa nói mà lại vừa huýt sáo được không?


– Anh nói thế là ý nghĩa gì?


– Chúng tôi nghe thấy Lữ Tuynh nói với giọng ồ ồ, và đồng thời chúng tôi lại nghe thấy một tiếng huýt gió rít lên. Thật quả từ lúc cha sinh mẹ đẻ tôi chưa hề nghe thấy một tiếng nào như thế. Huýt sáo kỳ cục lắm. Anh cứ tưởng tượng đứa con gái nhỏ nhất thế giới huýt sáo liên miên, không ngừng, và cứ đều đều một giọng, không cao, không thấp, không trầm, không bổng, ấy đó cái tiếng phát ra từ miệng của ông Tuynh cũng y như thế, nhưng nhức óc hơn, soắn vào lỗ tai ta ác liệt hơn và người ta nghe thấy rõ ràng qua giọng ồ ồ của ông Tuynh.


– Như thế mà ông không hề lại gần ông Tuynh sao?


– Bình thường ông Tuynh không hăm dọa ai hết, vậy mà chính ông đã hăm dọa chúng tôi, không phải hăm dọa theo kiểu một người bực tức hay một người đau ốm, nhưng hăm dọa một cách nhẹ nhàng mà cương quyết với giọng vô cùng nghiêm nghị. Ông lại bảo chúng tôi rằng nếu trong bọn chúng tôi có người nào lại gần ông trong lúc ông lên cơn thì người ấy sẽ chết oan. Nghe như thể một vì vua ra lịnh cho mọi người phải để cho mình được chết yên lành ở trên giường, không ai được trái ý.


Rinh kết luận vắn tắt:


– Tôi thấy rồi...


Cham nói:


– Ổng nguy kịch lắm. Tôi nghĩ rằng rất có thể...


Tình bạn kèm tình thương của Cham đối với ông Tuynh hiện hẳn ra trên mặt, mặc dầu Cham cố làm ra vẻ phớt tỉnh.


Cũng như nhiều người có khả năng, Rinh nuôi trong lòng một tính ích kỷ lạ lùng, kiên quyết và tính ích kỷ ấy biểu hiện ngay khi đó. Ông nói rằng bọn ông sống ngày nào hay ngày ấy, đúng như ông Tuynh, rằng ông không quên được những dây liên lạc giữa hai nhà thám hiểm, nhưng không vì lý do gì chúng tôi lại đem đoàn của chúng tôi vào chỗ hiểm nghèo để hy vọng cứu một người mà có lẽ chúng tôi không giúp nổi, rằng đi săn thú vật để nuôi một đoàn cũng đã vất vả quá rồi, rằng nếu bây giờ hai đoàn hợp lại, vấn đề lương thực sẽ nguy ngập gấp hai, rằng cái mạng con người như ngọn đèn trước gió, chết đói lúc nào không biết...


*


Văn Rinh có lý luận riêng của ông ta, ngoài ra, ông đã từng thoát nhiều trường hợp khó khăn một cách tài tình. Cham xin lỗi kiểu một người học trò đứng trước mặt thầy.


Rinh kết luận:


– Tôi giống người chim chích tí hon mà không quản trăm ngàn nguy hiểm. Tôi chỉ cần theo đuổi người chim chích.


– Nếu như thế, có lẽ cái này làm anh đắc ý. Cham nói chậm và rất bình tĩnh.


Anh rút ở trong túi áo bành tô ra hai vật đưa cho Rinh. Hai vật ấy tròn, lớn hơn một trái mận, nhỏ hơn trái đào. Người ta có thể cầm dễ dàng trong lòng một bàn tay bình thường. Hai vật ấy đen sẫm sụi, thoạt đầu tôi không biết là gì.


Van Rinh reo lên!


– Người chim chích! Người chim chích! Phải rồi. Đúng thế, không sai! Hai cái đầu này của hai người cao ngót sáu mươi phân. Có phải anh cho rằng đây là những người đứng tuổi?


– Tôi không đoán định gì hết. Thực tình tôi cũng không biết mô tê gì. Chính anh, anh rút tỉa lấy kết luận.


Rinh đưa cho tôi một cái đầu. Mặt trời bắt đầu lặn và tôi coi rất kỹ cái vật mà Rinh đưa cho tôi. Đó là một cái đầu khô không khốc, giữ gìn rất cẩn thận mà thịt thì rắn như đá. Một miếng xương răm tòi ra ở chỗ mà những bắp thịt ở cổ teo lại thành nếp nhăn. Cái cằm bé tí xíu, hàm nhô ra, răng nhỏ li ti như hạt tấm mà trắng và đều, mũi dẹp, trán hẹp và xếch. Ở trên sọ của người chim chích, có nhiều túm len xoắn lại và cằn cỗi. Cái đầu ấy không có vẻ gì là trẻ, nó gợi cho ta ý nghĩa trưởng thành, hay già nhiều hơn.


Rinh hỏi:


– Hai cái đầu này ở đâu ra?


Cham đáp:


– Tôi không biết. Tôi kiếm được trong xếp đồ của Lữ Tuynh, lúc tôi kiếm thuốc cho ổng – nói cho đúng, kiếm bất cứ cái gì có thể giúp tôi làm cho ổng giảm phần đau đớn. Tôi không biết ông lấy những cái đó ở đâu. Nhưng tôi nói quả quyết với anh Lữ Tuynh không có hai cái đầu này lúc chúng tôi mới tới đây.


– Có chắc vậy không?


– Chắc chắn như thế.


– Nhưng sao Lữ Tuynh có hai cái đầu này mà anh cùng sống với ổng, anh lại không biết?


– Thỉnh thoảng chúng tôi cách biệt nhau chín mười ngày, lúc tôi đi săn thú. Lữ Tuynh ít nói. Ông không hề nói cho ai biết ổng làm gì. Còn người bạn tôi là Ha-Mết thì y im lìm như con cá và bắt luôn những người của y cũng phải ngậm miệng luôn.


Rinh hỏi:


– Anh đã xem kỹ hai cái đầu này chưa?


– Rất kỹ, rất tỉ mỉ.


Rinh lấy cuốn sách nhỏ trong túi ra. Ông ta quả là một người ngăn nắp, làm việc có phương pháp. Ông xé một trang, gấp lại, và xé ra làm ba mảnh bằng nhau, đưa cho tôi một, cho Cham một và giữ cho mình một.


– Tôi muốn các ấn tượng của tôi được xác nhận. Tôi mong hai anh mỗi người viết riêng lên mảnh giấy tôi vừa đưa, ý kiến của mỗi anh và cho biết hai cái đầu này nhắc nhở ta cái gì. Sau, tôi sẽ so sánh lời ghi của hai anh.


Tôi đưa cho Cham một cây viết chì và y viết. Sau, y đưa trả cho tôi cây viết và tôi cũng viết.


Rinh đưa tờ giấy của ảnh và bảo:


– Anh đọc cả ba tờ, coi!


Văn Rinh viết: Một phù thủy Ba-lu-đa.


Chạm Viết: Một ông già linh ứng giòng Mang.


Và tôi viết: Một thầy bùa Ka-Tông-Gô.


Rinh nói:


– Đấy, các anh coi. Hai cái đầu này không có dấu gì tỏ là của người Hoa-Ga-Bi, Bát-va, Va-Bu-tư hay Văn-buýt-tu. Mà cũng không có dấu gì tỏ ra là của người chim chích.


Cham nói:


– Tôi cũng nghĩ như vậy.


– Có phải anh bảo rằng, trước đây, Lữ Tuynh không có hai cái đầu này phải không?


– Không, Tuynh không có. Tôi chắc chắn như thế.


– Vụ này đáng để cho chúng ta theo dõi. Tôi sẽ đi với hai anh. Và trước hết, tôi sẽ cố gắng hết sức để cứu sống Lữ Tuynh.


Vừa nói, Văn Rinh vừa đưa tay cho Cham. Y bắt tay chặt chẽ, lòng tràn trề sự biết ơn.


*


Trong khi sốt sắng đi tìm chúng tôi, Cham đã đi mất tất cả năm ngày. Để trở về bên cạnh Lữ Tuynh, chúng tôi phải đi mất tám ngày. Chúng tôi không có cách gì đi mau hơn. Tuy nhiên Cham luôn luôn thúc giục chúng tôi vì y nóng ruột quá sức, không phải chỉ vì vấn đề bổn phận đối với người thủ trưởng, mà còn vì lòng thương yêu một người bạn gái.


Lữ Tuynh được săn sóc chu đáo lắm. Ở chung quanh trại, Cham đã trồng một hàng rào cây có gai nhọn. Những cái chòi đất, mái rơm, đắp rất cẩn thận. Chòi của Lữ Tuynh nằm chính giữa, chung quanh căng bạt vải dầy.


Ha-Mết, bạn của Lữ Tuynh và Cham, là thầy pháp của đoàn. Nhờ có y, không có thổ dân nào bỏ trốn, mà trại lúc nào cũng bình yên, trật tự. Ngoài ra, Ha-Mết lại còn là một khán hộ khôn khéo, một tôi tớ trung thành. Hai người Zan Zi Ba khác đi săn giỏi lắm. Ai cũng đói, thật vậy, nhưng cả trại không ai chết đói.


Lữ Tuynh nằm trên một cái phản gỗ, gần giường có một cái bàn có ngăn kéo gấp lại theo kiểu Thổ Nhĩ Kỳ, trên có một chai nước, vài cái keo, cái đồng hồ đeo tay của Lữ Tuynh và con dao cạo để trong cái hộp.


Lữ Tuynh sạch sẽ và không gầy ốm. Nhưng ông ta có vẻ xa cách chúng tôi. Không, ổng không mất trí, nhưng có vẻ sống trong một thế giới mù sương, dường như không nhận thấy chúng tôi đi vào mà cũng không biết là chúng tôi đứng ở cạnh giường.


Phần tôi, tôi nhận ra ổng liền, bất cứ ở đâu. Đã đành là vẻ tráng kiện và duyên dáng lúc trẻ trung không còn nữa, nhưng nhìn nghiêng, ổng có cái tướng sư tử, tóc vẫn rậm và đen, loăn xoăn gợn sóng. Râu quăn lại, mọc bừa bãi vì bịnh tật không cạo hàng ngày nhưng không phải vì thế mà già đi hay xấu đi. Lữ Tuynh cao lớn, ngực vẫn nở và bắp thịt rắn chắc. Mắt mờ đục, mất tinh thần. Ông lẩm bẩm ú ớ một mình và thốt ra những tiếng không thể hiểu được, chẳng ra đâu và đâu hết.


Cham giúp Rinh vạch áo lót ra để cho Rinh xem xét. Lữ Tuynh vẫn khỏe mạnh, dù rằng đã ngọa bịnh lâu rồi. Ông không có thẹo, trừ phi ở đầu gối và vai, và ngực. Trên mỗi đầu gối và quá lên trên một chút, có rất nhiều vật tròn tròn. Và trên mỗi vai, có chừng hơn một chục vệt như thế, cùng một hàng với nhau. Vài cái đã mở rồi, bốn năm cái gần khỏi. Không có nhọt nào làm mủ, ngoài hai cái ở mỗi bên sườn, cái nhọt ở phía trái cao hơn và chếch về phía lưng hơn là cái kia. Tất cả đều không giống nhọt, mụt, đầu đinh, nhưng trông kỹ, người ta có cảm giác có một cái gì rắn chắc hết sức, tàn nhẫn hết sức, muốn banh da thịt để chui ra ngoài, mà da và thịt thì tốt lành, không có chút gì bịnh tật, gần như không tấy, không sưng, không đỏ.


Văn Rinh nói:


– Không nên. Tôi không thể mổ những cái này.


Họ đặt Lữ Tuynh nằm ngay ngắn. Chúng tôi trở lại thăm ông ta vào lúc mặt trời lặn. Ông nằm thẳng, duỗi hai chân, ngực nở nang, thở đều. Nhưng ông có vẻ không biết gì đến những sự việc ở chung quanh. Ông như sống trong một thế giới khác, tuy vẫn thở, vẫn mở mắt, đôi khi vẫn trở mình, cựa quậy. Chúng tôi để Cham ngồi lại với Tuynh và chúng tôi về chòi riêng ở bên cạnh, mà Ha-Mết, một thứ quản gia đã sắp xếp và dành cho chúng tôi. Tiếng của rừng khuya không khác những tiếng mà chúng tôi vẫn thường nghe thấy ở các vùng khác, trong những năm tháng trước và chỉ một lát, chúng tôi ngủ liền.


*


Đột nhiên, trong bóng tối mịt mù sâu thẳm, tôi thức giấc, lắng tai nghe. Tôi nghe thấy hai tiếng nói, một tiếng của Lữ Tuynh và một tiếng, khe khẽ nhưng có lúc lại rít lên như cái còi.


Tôi nhận ra tiếng của Lữ Tuynh, mặc dầu chúng tôi đã xa cách lâu năm. Còn cái tiếng kia quả thật tôi không thể nhớ là nó giống thứ tiếng gì. Nó the thé nhưng không lớn hơn tiếng oe oe của đứa trẻ sơ sinh, nhưng nó cứ kéo dài ra, kéo dài ra, sè sè, rè rè, làm cho người ta nghĩ đến tiếng vỗ cánh của một con côn trùng. Trong khi lắng nghe, tôi thấy Rinh thở ở cạnh tôi, trong đêm tối. Rồi đến lúc anh ta nghe thấy hơi thở của tôi. Anh biết rằng tôi cũng đương nghe.


Cũng như Cham, tôi biết sơ sơ tiếng Ba Lu Đa, và tôi cũng hiểu đại khái vài ba tiếng. Hai tiếng đó xen nhau, thỉnh thoảng lại im lặng giây lâu. Rồi, đột nhiên, hai tiếng đó lại vang dội cùng một lúc, và rất nhanh. Tiếng ồ ồ của Lữ Tuynh, một người khỏe mạnh, tiếng nói the thé, rít lên: hai tiếng nổi dậy cùng một lúc, lộn xộn, va chạm khiến cho người ta tưởng đó là hai người cãi nhau, tiếng người nọ cố lấn át tiếng của người kia.


Văn Rinh nói:


– Tôi nghe không chịu được. Ta sang coi thử ra sao.


Rinh mang theo một cái đèn bấm. Anh ấn cái nút và ra hiệu cho tôi đi theo. Ra đến ngoài, anh ra hiệu, tôi đứng lặng một giây. Anh tắt đèn đi, dường như để đèn sáng sáng, trông thấy gì không nghe được.


Ngoài ánh lửa yếu ớt phát ra từ đống than cháy âm ỉ của những phu khuân vác, chúng tôi chìm ở trong bóng tối hoàn toàn. Ánh sáng bịnh hoạn của các ngôi sao trên trời cố tìm cách vượt các lùm cây và con sông chảy rì rầm như nói thầm. Chúng tôi vẫn nghe thấy hai tiếng xen nhau, tranh nhau nói. Thế rồi đột nhiên, vào lúc bất ngờ nhất, tiếng rè rè, the thé biến ra một tiếng còi xé tan cái tĩnh mịch của đêm khuya như một lưỡi dao cạo và tiếng còi này kéo dài ra, kéo dài ra giữa những tiếng nói tuôn ra như thác nước của Lữ Tuynh.


Văn Rinh kêu trời và bấm đèn sáng choang lên.


Cham nằm ngủ say như một con rím. Nỗi lo âu, sợ sệt cộng với chuyến đi dài đằng đẵng và mệt nhọc làm cho anh muốn đứt hơi, đặt mình xuống là ngủ, không còn biết trời đất là gì. Ánh đèn chiếu vào giữa mặt anh ta cũng không thể làm cho anh thức giấc.


Tiếng còi ngưng lại, hai tiếng nói lại vang rân, tiếng nọ chen tiếng kia, xô đẩy nhau, lấn át nhau. Đúng là hai tiếng đó cùng phát ra từ giường của Lữ Tuynh. Ánh sáng đèn bấm chiếu vào ổng, ổng vẫn nằm nguyên như lúc chúng tôi rời phòng ổng để về chòi của chúng tôi đi ngủ.


Nhưng bây giờ hai cánh tay ông để lên trên dần và đã giựt bỏ những băng, gạc ở trên ngực. Vết thương ở trên ngực, phía tay mặt bể ra. Chúng tôi nhìn thấy rất rõ bởi vì Rinh chiếu đèn bấm ngay vào chỗ đó... Từ miệng vết thương hằn ở trên thịt đỏ, xậm, một cái đầu ló ra, một cái đầu giống hệt hai cái đầu mà Cham đã đưa cho chúng tôi coi, một cái đầu có thể ngờ là cái đầu thu nhỏ lại của người thiêng liêng ba-lu-đa.


Đầu ấy đen, đen bóng, đen hơn hết cả những làn da đen của người Phi Châu. Đầu ấy lúng liếng tròng trắng hai con mắt nhỏ và dữ tợn và nhe mấy cái răng nhỏ xíu giữa cặp môi dầy và đỏ, đúng là môi của mọi da đen. Trên đỉnh đầu, có một thứ len rối bù, xoăn tít lại. Không ngừng một giây, cái đầu ấy lắc lư, quay bên nọ, quay bên kia, tiếp tục lúng liếng con mắt một cách tinh quái, mà trong khi ấy, vẫn không ngớt nói lên tiếng nói rè rè, the thé, nghe khó chịu cho lỗ tai hết sức. Lữ Tuynh trả lời nhát gừng, dường như để cãi lại những lời nói the thé, rè rè, rin rít kia.


Văn Rinh đứng lùi ra một chút và đánh thức Cham dậy một cách khó khăn. Khi Cham đã trông thấy việc xảy ra, anh ta không nói một câu.


Rinh hỏi:


– Anh đã trông thấy Tuynh tự tay mổ hai cái nhọt?


Cham gật đầu.


Rinh hỏi tiếp:


– Có chảy máu nhiều không?


– Ít lắm.


Rinh bảo Cham:


– Anh giữ tay ổng giùm tôi.


Rồi cầm lưỡi dao cạo của Lữ Tuynh, anh trao cho tôi cái đèn bấm. Lữ Tuynh dường như không biết có chúng tôi mà cũng chẳng biết ánh sáng đèn là gì hết. Cái đầu người nhỏ xíu kêu thét lên, la ầm ĩ lên eo éo và chắc chắn những tiếng kêu ca ấy nhắm vào chúng tôi.


Tay của Rinh vững lắm. Lưỡi dao bén, cắt ngọt lừ, ngon lành hết sức. Lữ Tuynh chỉ ra máu chút ít thôi. Rinh băng vết thương lại, nó y như một vết gãi, trầy da, không có gì đáng kể.


Lữ Tuynh ngưng lại, không nói nữa vào chính lúc cái đầu tòi từ vết thương bị cắt ngang. Rinh làm đủ các cách cho Lữ Tuynh rồi cầm lấy cái đèn từ tay tôi. Đoạn, cầm một khẩu súng, anh thăm dò mặt đất ở gần giường và bắn một tràng đạn vào cái đầu tí xíu.


Chúng tôi trở về chòi ngủ, nhưng thao thức cho đến sáng.


*


Hôm sau, vào buổi trưa, giữa thanh thiên bạch nhật, chúng tôi lại nghe thấy hai tiếng nói ấy phát ra từ cái chòi của Lữ Tuynh. Chúng tôi thấy Cham nằm ngủ ngon lành. Vết thương phía trái cũng bể rồi, và một cái đầu tí hon khác tòi ra, kêu e é như tiếng con mèo ốm. Cham thức giấc và chúng tôi, cả ba người, ngồi trơ ra đó để nhìn chằm chặp vào Lữ Tuynh. Ông ta lại nói xì xồ một hồi, tiếng nói lần này khó nghe hơn, như líu lưỡi.


Văn Rinh tiến lên, cầm con dao cạo của Lữ Tuynh và quỳ xuống cạnh Tuynh. Cái đầu tí hon kinh tởm quái ác chu lên một tiếng rít mà lại như gầm lên rất khẽ.


Thế rồi đột nhiên, Lữ Tuynh cất tiếng nói bằng Anh ngữ:


– Các anh là ai? Ai lấy dao cạo của tôi?


Văn Rinh nhìn Tuynh, đứng dậy. Mắt Tuynh ngời sáng lên đột ngột, đảo nhìn bên này, đảo nhìn bên kia cái chòi. Rồi nói:


– Hết, Tôi biết là hết rồi. Tôi nhìn thấy Cham rõ ràng. Nhưng anh Sinh! À, anh Sinh! Những con ma buổi thiếu thời của tôi đến thăm tôi, để xem tôi chết. Còn anh, con quỷ kỳ lạ kia với bộ râu đen và lưỡi dao cạo của tôi...


– Tôi không phải là ma mà cũng chẳng phải là quỷ, anh Tuynh à. Tôi sống nhăn đây mà, Cham và Văn Rinh cũng sống. Chúng tôi đến đây để cứu anh.


Lữ Tuynh reo lên:


– Văn Rinh! Sự nghiệp của tôi được trao vào tay một người cực giỏi, giỏi hơn tôi rất nhiều. Cầu xin cho anh may mắn và thành công, hỡi anh Văn Rinh.


Văn Rinh tiến lại gần Tuynh:


– Anh cố nằm yên một lát. Đây chỉ là một sự đau đớn sau cùng, sẽ hết ngay.


– Tôi đã từng trải qua bao nhiêu đau đớn như thế này rồi.


Tiếng nói của Tuynh bây giờ rõ ràng hơn trước. Anh tiếp:


– Phải... biết bao nhiêu nhiêu đau khổ. Anh để yên cho tôi chết. Anh để yên cho tôi chết theo cách thức của tôi. Con quỷ bảy đầu [2] không ăn nhằm gì. Anh có thể cắt mười, cắt một trăm, một ngàn cái đầu, nhưng cái mà anh không thể cắt được tức là cái ám chướng. Cái gì nó đã xâm nhập xương tủy ta, không có cách gì tống khứ được ra. Đừng mổ xẻ tôi nữa. Anh hứa như vậy với tôi đi.


Tiếng của Lữ Tuynh lại trở lại vững vàng, rành rọt và hách dịch của một người chỉ huy. Nó thuyết phục Văn Rinh cũng như từ trước đến nay nó đã từng thuyết phục bao nhiêu người khác. Văn Rinh khẽ nói:


– Tôi xin hứa.


Rinh vừa nói xong thì mắt Lữ Tuynh mờ lại, đục lờ. Cả ba chúng tôi lại ngồi xem một cái đầu nhỏ tí ti mới ló ra rồi tòi ở trong thịt ra ngoài. Lần này, cái đầu ấy nhô ra rồi thì tiếp liền đến hai cánh tay rùng rợn kinh khủng, hai cánh tay nhọn ở đầu, có những móng bé tí xíu đúng in như móng người thường nhưng nhỏ, hết sức nhỏ. Màu hồng ở gan bàn tay hằn lên mấy cái gân xanh như sợi chỉ. Hai cánh tay đó động đậy, co duỗi rồi bàn tay mặt giơ lên gần bộ râu đốm bạc của Lữ Tuynh để giựt.


Văn Rinh la lên:


– Tôi không thể chịu được.


Và anh lại nhăm nhắm cầm lưỡi dao cạo. Cùng lúc đó, đôi mắt sáng như điện của Lữ Tuynh mở to ra:


– Văn Rinh không tôn trọng lời hứa hay sao? Tôi không ngờ đến thế...


– Nhưng chúng tôi phải cứu anh, không nỡ nào ngồi đơ ra để nhìn.


Lữ Tuynh cười nhạt:


– Tôi đã qua giai đoạn đau đớn rồi. Và tôi cũng không cần ai giúp đỡ. Giờ của tôi đã điểm. Không cách gì sống nổi. Cái “ám chướng” ấy không gieo vào người tôi, cái ám chướng ấy tự người tôi phát ra, cũng như cái cục kinh tởm mà anh vừa thấy đó.


Mắt Lữ Tuynh nhắm lại. Chúng tôi ngồi trơ ra, bất lực, vô duyên, trong khi từ miệng con quỷ tí hon thốt ra những lời the thé gần như vô nghĩa, nghe mà khó chịu lỗ tai hết sức.


Lữ Tuynh lại cất lời:


– Mi nói đủ các thứ tiếng à?


Cái vật tí hon ấy vọt ra trả lời bằng tiếng Anh:


– Đúng. Tất cả các thứ tiếng mà mi nói được.


Nó thè cái lưỡi nhỏ hơn lưỡi con thằn lằn, lắc đầu bên này, lắc đầu bên kia. Chúng tôi thấy xương sườn nó phồng lên, dẹp xuống y như thể là nó thở.


Lữ Tuynh nhắm mắt lại rồi mở mắt ra, hỏi:


– Thế thì “nàng” có tha thứ cho ta không?


– Không, không bao giờ. Bao giờ sao trên trời còn chiếu sáng hồ Pông Sa Linh, nàng vẫn không tha thứ cho mi.


Đoạn, Lữ Tuynh nằm nghiêng mình rồi tắt thở.


*


Khi Sinh dứt lời, căn phòng im lặng một giây. Chúng tôi nghe thấy hơi thở của chính chúng tôi.


Ông Tôn, thô kệch, phá sự im lặng và nói bô bô:


– Thế thì chắc là ông đợi cho thằng nhỏ chim chích ấy chui ra hết cả rồi ông chộp lấy và ngâm rượu đem về nhà trưng bày phải không?


Sinh quay nhìn Tôn với một con mắt nghiêm khắc:


– Chúng tôi đã chôn cất Lữ Tuynh, không mổ nữa.


Tôi vẫn trơ tráo, nói tiếp:


– Dù sao, câu chuyện ông nói cũng khó tin hết sức.


Sinh nhìn thẳng vào mắt Tôn một hồi lâu, trả lời:


– Tôi không mong ông sẽ tin câu chuyện của tôi vừa kể. Ông không nhớ là trước khi kể chuyện, tôi đã thưa rằng, mặc dầu chính tôi đã tai nghe mắt thấy các sự việc xảy ra, nhưng bây giờ, nghĩ lại, tôi vẫn không thể tin là thật.


 


Nguồn: Những kẻ gieo gió. Tập truyện ngắn của Vũ Bằng. NXB Văn học, 2002.


www.trieuxuan.info








[1]    Pygmée.




[2]    Theo thần thoại Hy Lạp, Hydre là một con rắn thần có bảy đầu, sau bị Hercule giết chết.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Yêu rừng như yêu đời - Triệu Xuân 01.09.2017
Nắng chiều - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Lầu 3 Phòng 7 - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Ba sao giữa Giời - Bình Nguyên Lộc 28.08.2017
Dưới bóng hoàng lan - Thạch Lam 10.08.2017
Người vác tù và - Triệu Văn Đồi 03.08.2017
Anh Nhoàng - Triệu Văn Đồi 07.07.2017
Thần sông - Trịnh Bích Ngân 30.06.2017
Thần Kẻ Mơ và Tây gác cửa Tràng Tiền - Ngọc Toàn 07.06.2017
Koòng Kói - Ngọc Toàn 07.06.2017
xem thêm »