tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18460443
17.05.2013
Tư liệu
Quần đảo Trường sa (tiếp & hết)

Philippines


Luận cứ


Philippines dựa trên các luận điểm là terra nullius (đất vô chủ) và sự gần gũi về khoảng cách địa lí để tuyên bố chủ quyền đối với Nhóm đảo Kalayaan, tương đương với phần lớn quần đảo Trường Sa.


Thứ nhất, công dân Philippines Tomás Cloma đã đến nhiều đảo không người thuộc Trường Sa vào năm 1947 và tuyên bố sở hữu chúng vào năm 1956. Tuy Philippines chưa bao giờ chính thức ủng hộ tuyên bố về quyền sở hữu đảo của Cloma nhưng nước này lại dùng sự kiện Cloma làm căn cứ để tuyên bố chủ quyền. Cụ thể, Philippines cho rằng không có nỗ lực giành chủ quyền nào với các đảo cho tới thập niên 1930 khi quân đội Pháp và sau đó là quân đội đế quốc Nhật Bản chiếm đảo; khi Nhật Bản kí vào Hiệp ước San Francisco thì đã có một sự từ bỏ quyền đối với các đảo Trường Sa mà không có bất kỳ một bên yêu cầu chủ quyền nào. Vì thế, Philippines cho rằng các đảo Trường Sa đã trở thành đất vô chủ và có thể được sáp nhập vào lãnh thổ của họ.


Thứ hai, trong một văn bản gửi tới Đài Loan năm 1971, Philippines khẳng định rằng quần đảo Trường Sa nằm trong lãnh thổ quần đảo mà nước này tuyên bố chủ quyền. Trong Sắc lệnh Tổng thống 1596 kí năm 1978, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos cho rằng phần lớn các thực thể Kalayaan đều nằm trên rìa lục địa của quần đảo Philippines.[102] Năm 1982, tài liệu của Bộ Quốc phòng Philippines cho rằng Nhóm đảo Kalayaan là riêng biệt khỏi các nhóm đảo khác ở biển Đông và không phải là một phần của quần đảo Trường Sa:


    Nhóm đảo Kalayaan là khác biệt và không phải là một phần của quần đảo Trường Sa hay quần đảo Hoàng Sa. Có sự công nhận chung về thông lệ hải dương học khi người ta gọi một dãy các đảo bằng tên của hòn đảo lớn nhất trong nhóm hay thông qua việc sử dụng một cái tên chung.[Ghi chú 10] Ghi chú rằng đảo Trường Sa chỉ có diện tích 13 hecta so với diện tích 22 hecta của đảo Pagasa [đảo Thị Tứ] Chỉ cần xét riêng về mặt diện tích các đảo thì Nhóm đảo Kalayaan đã không phải là một phần của quần đảo Trường Sa. Xét về mặt khoảng cách, đảo Trường Sa cách đảo Pagasa 210 hải lí. Điều này nhấn mạnh lí lẽ rằng chúng không phải là các phần của cùng một dãy đảo.[103]


Diễn biến


Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, đế quốc Nhật Bản dùng quần đảo Trường Sa làm bàn đạp để tấn công Philippines. Năm 1947, Philippines kêu gọi giao cho nước này quần đảo Trường Sa nhưng Philippines lại không nhắc gì đến vấn đề này trong Hội nghị San Francisco năm 1951.[104]


Năm 1947, luật sư và doanh nhân người Philippines là Tomás Cloma đã tìm thấy nhiều đảo không người và chưa bị chiếm đóng trong biển Đông. Ngày 15 tháng 5 năm 1956, ông tuyên bố lập ra một nhà nước mới với tên gọi là Freedomland (Vùng đất tự do), trải rộng trên phần phía đông của biển Đông. Ngày 6 tháng 7 năm 1956, Cloma tuyên bố với toàn thế giới về việc thành lập chính phủ riêng cho Lãnh thổ Tự do Freedomland với thủ phủ đặt tại đảo Bình Nguyên. Hành động này dù không được chính phủ Philippines xác nhận nhưng vẫn bị các nước khác coi là một hành động gây hấn của Philippines. Trung Hoa Dân Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam Cộng hòa đều tuyên bố phản đối.[105] Ngoài ra, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) còn gửi lực lượng hải quân tái chiếm đảo Ba Bình.


Đường giới hạn "Nhóm đảo Kalayaan" theo Sắc lệnh Tổng thống số 1596 của Philippines


Trong buổi họp báo ngày 10 tháng 7 năm 1971, Tổng thống Philippines Ferdinand Marcos cáo buộc lính Đài Loan trên đảo Ba Bình đã bắn vào một tàu của Philippines khi tàu này định cập vào đảo Ba Bình, nhưng Đài Loan chối bỏ.[106] Philippines còn gửi văn bản phản đối tới Đài Bắc với nội dung khẳng định một số ý chính như sau: (1) do hành động chiếm hữu của Cloma nên Philippines có danh nghĩa pháp lí đối với nhóm đảo; (2) hành động chiếm đóng của người Trung Quốc là phi pháp vì nhóm đảo này trên thực tế (de facto) nằm dưới sự uỷ trị của các lực lượng Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai; (3) quần đảo Trường Sa nằm trong lãnh thổ quần đảo mà Philippines tuyên bố chủ quyền.[107] Tháng 4 năm 1972, Kalayaan chính thức sáp nhập với tỉnh Palawan và được quản lý như một población (tương đương một barangay) với Tomás Cloma là chủ tịch hội đồng khu vực.[108] Năm 1978, Ferdinand Marcos kí Sắc lệnh số 1596 định rõ giới hạn của khái niệm Nhóm đảo Kalayaan.[102]


Ngày 13 tháng 4 năm 2009, Tổng thống Gloria Macapagal-Arroyo kí thông qua Luật Đường cơ sở Quần đảo (Đạo luật Cộng hoà số 9522) để tái khẳng định Nhóm đảo Kalayaan là thuộc lãnh thổ của nước này.[109] Lúc đầu, Philippines từng có ý định đưa Nhóm đảo Kalayaan vào đường cơ sở của mình. Tuy vậy, sau một số tranh luận, nước này từ bỏ ý định trên và quyết định chỉ xem Nhóm đảo Kalayaan là các đảo thuộc Philippines, tuân theo điều 121 về "Chế độ các đảo" của Công ước.[110]


Chỉ trích


Luận điểm thứ nhất về đất vô chủ, cho rằng chưa có ai tuyên bố chủ quyền hoặc từ bỏ chủ quyền đối với các đảo Trường Sa và Tomás Cloma đã "khám phá" ra chúng vào năm 1947 là không thuyết phục bởi lẽ tuyên bố của Cloma đã vấp phải sự phản đối của Việt Nam Cộng hoà và [các] nhà nước Trung Quốc.[111] Hơn nữa, Cloma chỉ là một cá nhân và không đại diện cho chính phủ Philippines. Năm 1951, Toà án Công lý Quốc tế khi xét xử vụ tranh chấp giữa Anh và Na Uy về đặc quyền đánh cá đã tạo ra tiền lệ là "hoạt động độc lập của các cá thể tư nhân có ít giá trị trừ khi có thể chỉ ra rằng họ hành động khi đang theo đuổi...một số...quyền hành nhận được từ chính phủ của họ hoặc theo một cách nào đó mà chính phủ của họ khẳng định quyền tài phán thông qua họ”.[112] Khi Cloma thực hiện hành động của mình ở quần đảo Trường Sa thì chính phủ Philippines không hề tỏ ý đồng tình hay không đồng tình với ông.[111]


Luận điểm thứ hai về địa lí của Philippines cũng có điểm yếu bởi vì quần đảo Philippines bị máng biển Palawan ngăn cách khỏi quần đảo Trường Sa, không thoả điều 76 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (xem thêm) về sự "kéo dài tự nhiên" nên nước này không thể đòi hỏi đặc quyền vượt quá phạm vi 200 hải lí tính từ đường cơ sở.[111] Ngoài ra, Dzurek (1996) cho rằng có vẻ Philippines đã không còn duy trì quan điểm cho rằng Nhóm đảo Kalayaan là riêng biệt với quần đảo Trường Sa nữa.[104]


Malaysia


Malaysia dựa trên hai luận điểm là thềm lục địa và khai phá sớm nhất để tuyên bố chủ quyền/đòi hỏi đặc quyền đối với một khu vực biển Đông ở phía nam Trường Sa, trong đó có mười hai thực thể địa lí nổi bật là đảo An Bang, đá Công Đo, đá Én Ca, đá Hoa Lau, đá Kỳ Vân, đá Sác Lốt, đá Suối Cát, đá Thuyền Chài, bãi Kiêu Ngựa, bãi Thám Hiểm (thuộc Trường Sa) cùng rạn vòng Louisa và cụm bãi cạn Luconia (Bắc và Nam) (không thuộc Trường Sa).[113][Ghi chú 11]


Tuyên bố về thềm lục địa của Malaysia khởi nguồn từ Hội nghị Genève năm 1958. Trong các năm 1966 và 1969, Malaysia đã thông qua Đạo luật về Thềm lục địa.


Ngày 3 tháng 2 năm 1971, đại sứ quán Malaysia tại Sài Gòn gửi công hàm cho Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà để hỏi rằng nước này có sở hữu hay yêu sách các "đảo" nằm trong khoảng giữa vĩ tuyến 9° Bắc và kinh tuyến 112° Đông "thuộc" lãnh thổ nước Cộng hoà Morac-Songhrati-Meads không. Ngày 20 tháng 4, Sài Gòn đáp lại rằng quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng hoà.[114][115]


Năm 1979, Malaysia xuất bản một tấm bản đồ mang tựa đề "Bản đồ Thể hiện Lãnh hải và Các ranh giới Thềm lục địa" để xác định thềm lục địa và tuyên bố chủ quyền đối với tất cả các "đảo" nổi lên từ thềm lục địa đó.[113] Tháng 4 năm 1980, Malaysia tuyên bố yêu sách về vùng đặc quyền kinh tế nhưng chưa phân định ranh giới cụ thể. Tháng 5 năm 1983 (hay tháng 6[116]), Malaysia đánh dấu việc chiếm đóng thực thể địa lí đầu tiên thuộc Trường Sa khi cho quân đội đổ bộ lên đá Hoa Lau.[117] Tháng 11 năm 1986,[118] nước này cho hai mươi lính chiếm đá Kiêu Ngựa (rạn đá nổi bật của bãi Kiêu Ngựa) và cho một trung đội chiếm đá Kỳ Vân (theo nguồn khác thì Malaysia chiếm đá Kỳ Vân vào năm 1987[119]).[120] Năm 1987 (hay 1986[119]), Malaysia chiếm đá Suối Cát.[120]


Tháng 3 năm 1998, Philippines phát hiện hoạt động xây dựng của phía Malaysia trên hai thực thể địa lí, song Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Malaysia Abdullah bin Ahmad Badawi trấn an rằng, Chính phủ Malaysia không hề cấp phép cho hoạt động này.[120] Tuy nhiên vào tháng 6 năm 1999, Malaysia chiếm hẳn bãi Thám Hiểm và đá Én Ca.[121]


Ngày 5 tháng 3 năm 2009, Thủ tướng Malaysia khi này là Abdullah bin Ahmad Badawi có chuyến thăm đá Hoa Lau và tỏ ra ấn tượng với cơ sở hạ tầng dành cho du lịch tại đây.[122] Đồng thời ông cũng khẳng định tuyên bố chủ quyền với đá này và vùng biển lân cận.[123]


Chỉ trích


Nhận định về luận điểm "thềm lục địa" của Malaysia, một số học giả cho rằng nước này đã "lầm lạc" (Dzurek 1996)[117] trong cách suy diễn hay "khó có thể thanh minh" (Valencia & ctg 1999)[124] nếu đối chiếu với Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển. Cụ thể, Điều 76 của Công ước quy định thềm lục địa chỉ bao gồm "đáy biển và lòng đất dưới đáy biển" chứ không phải các phần đất hay đá nổi phía trên thềm lục địa đó:


    Thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền của quốc gia đó cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải 200 hải lí, khi bờ ngoài của rìa lục địa của quốc gia đó ở khoảng cách gần hơn. —Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển[4]


Một điểm nữa là tương tự như trường hợp Philippines, luận điểm về thềm lục địa của Malaysia cũng có thêm điểm yếu là máng biển Borneo-Palawan đã phá vỡ sự "kéo dài tự nhiên" của thềm lục địa của nước này.


Luận điểm thứ hai của Malaysia về "khai phá sớm nhất" cũng không thuyết phục vì nếu so với các nước khác thì Malaysia tham gia vào tranh chấp muộn hơn; khi tuyên bố chủ quyền đối với một phần của Trường Sa thì quốc gia này cũng vấp phải sự phản ứng từ các nước đó.[124]


Brunei


Luận cứ


Brunei dựa trên hai luận điểm là các điều 76-77 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển (về thềm lục địa) và sắc lệnh do Anh ban hành năm 1954 thể hiện biên giới biển của Brunei để đòi hỏi đặc quyền trên một vùng thuộc biển Đông,[125] và trong vùng này có hai hoặc ba thực thể địa lí nổi bật toạ lạc: rạn vòng Louisa, bãi Vũng Mây và có nguồn còn kể thêm bãi Chim Biển.[126][127] Về tính chất, rạn vòng Louisa là một rạn san hô vòng đa phần chìm dưới nước; tại đây Malaysia đã dựng một ngọn đèn hiệu và đang tuyên bố chủ quyền. Bãi Vũng Mây là một bãi ngầm dưới biển do Việt Nam kiểm soát thông qua các nhà giàn gọi là DK1 xây tại đá Ba Kè[Ghi chú 12] ở phần phía bắc của bãi Vũng Mây.


Không rõ Brunei có tuyên bố chủ quyền đối với rạn vòng Louisa hay chỉ đòi quyền tài phán với vùng biển xung quanh đó vì các nghiên cứu của quốc tế có cách viết khác nhau về vấn đề này; trong khi có nguồn cho rằng Brunei không đòi rạn vòng Louisa[6][127] thì nguồn khác chỉ ra Brunei đã phản đối Malaysia khi Malaysia tuyên bố chủ quyền đối với rạn vòng này.[128] Mặt khác, bãi ngầm (như bãi Vũng Mây) dù có được xem là thuộc quần đảo Trường Sa hay không thì theo Công ước, bãi này không phải đối tượng để các quốc gia có thể tuyên bố chủ quyền mà các nước đó chỉ có quyền chủ quyền (tức chỉ là một số bộ phận cấu thành chủ quyền) đối với bãi ngầm trên cơ sở chứng minh được bãi ngầm đó nằm trong vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa của mình một cách khoa học. Do vậy, nếu Brunei không đòi rạn vòng Louisa thì thực ra Brunei không tranh chấp một đảo hay đá nào "thuộc" quần đảo Trường Sa[127]


Diễn biến và chỉ trích


Năm 1979, Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland đại diện cho vùng đất do mình bảo hộ là Brunei để lên tiếng phản đối tấm bản đồ do Malaysia xuất bản.[129] Ngày 1 tháng 1 năm 1983, chính quyền sở tại ban hành Đạo luật Các giới hạn vùng Nghề cá. Năm 1988, Brunei xuất bản bản đồ mở rộng thềm lục địa 350 hải lí từ đường cơ sở và vươn đến bãi Vũng Mây.[130]


Điểm yếu của Brunei khi tuyên bố về thềm lục địa cũng tương tự với Philippines ở chỗ, máng biển Đông Palawan làm gián đoạn sự "kéo dài tự nhiên" của thềm lục địa cách bờ biển Brunei 60-100 dặm.[130][Ghi chú 13][Ghi chú 14]


Các tuyên bố khác


Anh


Năm 1877, Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland từng sáp nhập hai thực thể là đảo Trường Sa và đảo An Bang vào lãnh thổ đế quốc Anh. Năm 1889, Anh cho Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Trung Borneo (trụ sở tại Luân Đôn) thuê và khai thác phân chim tại hai nơi này.[131]


Năm 1933, trước hành động chiếm hữu các đảo Trường Sa của Pháp, Anh đã nhắc cho Pháp biết rằng đảo Trường Sa và đảo An Bang vẫn là lãnh thổ của Anh trừ khi Hoàng gia Anh dứt khoát từ bỏ những phần đất này.[132] Tuy vậy vào ngày 12 tháng 7 năm 1933, Văn phòng Đối ngoại và Khối thịnh vượng chung Anh nêu ý kiến rằng Anh chỉ có vị thế pháp lí yếu ớt nếu đưa vụ này ra Toà án Thường trực Công lý Quốc tế do nước Anh không tiến hành chiếm giữ hiệu quả đối với hai thực thể trên.[133] Rốt cuộc, dù trên thực tế Anh không hề từ bỏ tuyên bố chủ quyền nhưng nước này đã chọn cách im lặng thay vì tuyên bố phản đối Pháp.[134]


Trong một văn bản đề ngày 14 tháng 10 năm 1947 của Văn phòng Đối ngoại và Khối thịnh vượng chung Anh (sau này trở thành tài liệu chính thức cho phái đoàn Anh đến dự Hội nghị San Francisco năm 1951), Anh tiếp tục duy trì tuyên bố chủ quyền nhưng chỉ thị phái đoàn Anh không phản đối lời tuyên bố chủ quyền của Pháp và "để cho Pháp giữ thế chủ động".[135]


Năm 1950, dưới sự thúc đẩy của Úc, chính phủ Anh tiến hành nghiên cứu tầm quan trọng chiến lược của quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa nhằm quyết định xem có nên tiến hành biện pháp gì để ngăn các quần đảo này rơi vào tay "một nhà nước cộng sản nào đó" hay không. Sau đó, Anh kết luận rằng vì các đảo này hầu như không có giá trị kinh tế hay chiến lược gì nên Khối thịnh vượng chung có thể an tâm giữ nguyên thế bị động như hiện thời.[136]


Nhật Bản và Hà Lan


Năm 1917 (hay 1918), một nhóm thám hiểm người Nhật đến quần đảo Trường Sa và gặp một số ngư dân Trung Quốc đang sống ở đảo Song Tử Tây.[137] Trong các thập niên 1920 và 1930 kế tiếp, Nhật Bản tự tiến hành hoạt động khai thác phân chim tại một số đảo, ví dụ An Bang, Loại Ta, Song Tử Tây.[54][138] Khi Pháp chính thức chiếm Trường Sa vào năm 1933, Nhật Bản lên tiếng phản đối Pháp với lí lẽ là Nhật đã tổ chức khai thác phân chim trên một số đảo ở đây.[54] Cuối thập niên 1930, đế quốc Nhật Bản chiếm giữ đảo Ba Bình để làm căn cứ tàu ngầm nhằm mục đích ngăn chặn tàu thuyền qua lại khu vực Trường Sa.[138] Ngày 31 tháng 3 năm 1939, Bộ Ngoại giao Nhật Bản gửi thông báo cho đại sứ Pháp, tuyên bố rằng Nhật Bản là nước đầu tiên thám hiểm Trường Sa vào năm 1917 và họ đang kiểm soát quần đảo.[139] Thời đó, Nhật gọi các đảo này là Shinnan shotō (新南諸島 (Tân Nam chư đảo) nghĩa là "các đảo mới phía nam"?) và đặt chúng dưới sự cai trị của chính quyền thuộc địa tại đảo Đài Loan. Tuy nhiên, lời tuyên bố của Nhật Bản chỉ là trên giấy vì đến năm 1941 thì Nhật mới dùng vũ lực chiếm đóng quần đảo Trường Sa.[54] Sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Nhật Bản kí Hiệp ước San Francisco và đã từ bỏ mọi quyền đối với quần đảo Trường Sa:


    Nhật Bản từ bỏ mọi quyền, danh nghĩa và tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Trường Sa và đối với quần đảo Hoàng Sa. —Khoản f, điều 2, chương II của Hiệp ước San Francisco.[140]


Một sự kiện đơn lẻ khác diễn ra vào năm 1956 sau khi Tomás Cloma tuyên bố quyền sở hữu đối với phần lớn quần đảo Trường Sa. Hà Lan (khi này còn nắm quyền kiểm soát Tây Irian) đã gửi một thông báo cho Bộ Ngoại giao Philippines với nội dung rằng nước này sẽ sớm đòi hỏi quyền sở hữu các đảo này với sự ủng hộ của Anh.[75]


Một số phản đối và xung đột


Tranh chấp trong vùng quần đảo Trường Sa và các vùng gần đó không chỉ là tranh chấp chủ quyền đối với các đảo/đá mà còn là tranh chấp tài nguyên thiên nhiên như dầu khí và hải sản. Đã có nhiều cuộc xung đột xảy ra giữa các nước về những tàu đánh cá nước ngoài trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác và báo chí cũng thường đưa tin về những vụ bắt giữ ngư dân. Nhiều nước tuyên bố chủ quyền cũng chưa cấp phép khai thác tài nguyên tại vùng biển thuộc quần đảo vì lo ngại hậu quả là một cuộc xung đột ngay lập tức. Các công ty nước ngoài cũng không đưa ra bất kỳ một cam kết nào về việc khai thác vùng này cho đến khi tranh chấp về lãnh thổ được giải quyết hay các nước tham gia đạt được thoả thuận chung.


Từ trái sang phải là ba rạn đá san hô có tên là đá Cô Lin, đá Gạc Ma và đá Len Đao. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, một cuộc đụng độ quân sự đã diễn ra tại đây.


Tháng 3 năm 1988, Việt Nam và Trung Quốc đụng độ vũ trang trên biển về quyền kiểm soát đá Gạc Ma, đá Cô Lin và đá Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa. Trong sự kiện này, ba tàu frigate của Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc là 502 Nam Sung, 556 Tương Đàm và 531 Ưng Đàm đã đánh đắm ba tàu vận tải của Hải quân Nhân dân Việt Nam là HQ-505, HQ-604 và HQ-605, đồng thời gây ra cái chết cho sáu mươi tư binh sĩ Việt Nam.[141]


Tháng 5 năm 1992, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) và Crestone Energy (một công ty Mỹ có trụ sở ở Denver, tiểu bang Colorado) đã ký một hợp đồng hợp tác để cùng thăm dò một khu vực rộng 7.347 hải lí vuông (gần 25.200 km²) mà họ gọi là Vạn An Bắc-21 (nằm giữa bãi ngầm Tư Chính và bãi ngầm Phúc Tần; cách bờ biển Việt Nam 160 hải lí[142]), nơi Trung Quốc xem là một phần của quần đảo Nam Sa trong khi Việt Nam xem là một phần của vùng đặc quyền kinh tế - thềm lục địa và không liên quan đến quần đảo Trường Sa. Tháng 9 năm 1992, Việt Nam cáo buộc Trung Quốc đã bắt giữ hai mươi tàu chở hàng từ Việt Nam đến Hồng Kông từ tháng 6 năm 1992 nhưng không thả hết số tàu này.[143] Tháng 4 và tháng 5 năm 1994, Việt Nam phản đối công ty Crestone thăm dò địa chấn ở bãi Tư Chính, tái khẳng định bãi này hoàn toàn nằm trong vùng đặc quyền kinh tế - thềm lục địa của Việt Nam và không có tranh chấp gì ở đây.[144]


Đá Vành Khăn là một rạn san hô vòng hầu như chìm ngập dưới nước. Đây chính là nơi bùng phát căng thẳng giữa Trung Quốc và Philippines trong nửa sau thập niên 1990.


Tháng 2 năm 1995, xung đột diễn ra giữa Trung Quốc và Philippines khi Philippines tìm thấy một số kết cấu trên đá Vành Khăn, khiến chính phủ nước này phải đưa ra một kháng cáo chính thức đối với hành động chiếm đóng của Trung Quốc. Ngày 25 tháng 3 năm 1995, Hải quân Philippines bắt giữ bốn tàu Trung Quốc gần đá Suối Ngọc.[145] Cũng trong ngày 25 tháng 3, Việt Nam nói rằng lính Đài Loan trên đảo Ba Bình bắn vào tàu chở hàng của Việt Nam đang trên đường từ đá Lớn đến đảo Sơn Ca.[146] Thời gian sau đó, nhiều cuộc gặp gỡ đã diễn ra giữa các bên tham gia tranh chấp và cả Indonesia nhưng thu được rất ít kết quả.[147] Đến năm 1998, Trung Quốc tuyên bố rằng "các chòi ngư dân" ở đá Vành Khăn bị hư hại do bão và điều bảy tàu đến vùng này để sửa chữa. Lần này Philippines tiếp tục có các hành động đáp trả như cho hải quân bắn chìm một số tàu cá của Trung Quốc mà nước này cho rằng đã xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế của họ.[148]


Tháng 6 năm 1999, Philippines phản đối Malaysia chiếm bãi Thám Hiểm và đá Én Ca, hai thực thể mà Philippines gọi là Pawikan và Gabriela Silang. Đến tháng 10, nước này còn cho máy bay do thám bãi Thám Hiểm khiến Malaysia cũng chỉ thị máy bay bay theo. Tuy nhiên, không có đụng độ quân sự diễn ra.[149] Ngày 28 cùng tháng, Philippines cáo buộc quân đội Việt Nam trên đá Tiên Nữ đã bắn vào máy bay của Philippines khi máy bay này bay thấp để nhìn rõ toà nhà ba tầng của Việt Nam vào ngày 13 tháng 10.[150]


Ngày 10 tháng 4 năm 2007, trước câu hỏi của phóng viên về phản ứng của Trung Quốc trước việc chính phủ Việt Nam phân lô dầu khí, gọi thầu, hợp tác với hãng BP của Anh để xây dựng đường ống dẫn khí thiên nhiên (ở khu vực mà Trung Quốc quan niệm thuộc Nam Sa[151] và Việt Nam quan niệm thuộc vùng đặc quyền kinh tế - thềm lục địa[152]) đồng thời tổ chức bầu cử Quốc hội Việt Nam [khóa XII] tại quần đảo Trường Sa, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Tần Cương trả lời rằng "Việt Nam đưa ra hàng loạt hành động mới xâm phạm chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của Trung Quốc ở Nam Sa, đi ngược lại với đồng thuận mà lãnh đạo hai bên Trung-Việt đã đạt được về vấn đề trên biển", và "Trung Quốc đã biểu thị mối quan ngại sâu sắc và giao thiệp nghiêm khắc với Việt Nam"[151] ngay trong thời gian Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng đang thăm chính thức nước này.[153] Ngày 9 tháng 7 năm 2007, tàu hải quân Trung Quốc đã nã súng vào một số thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam trong vùng biển gần Trường Sa, làm chìm một thuyền đánh cá của Việt Nam, khiến ít nhất một ngư dân thiệt mạng và một số người khác bị thương.[154]


Quân đội Việt Nam trên đảo Trường Sa


Ngày 31 tháng 5 năm 2011, chỉ vài ngày sau sự kiện tàu Bình Minh 02 khi tàu hải giám của Trung Quốc cắt cáp tàu địa chấn của Việt Nam, ba tàu Trung Quốc đã bắn đuổi các tàu cá Việt Nam tại một địa điểm nằm cách đá Đông 15 hải lí (27,8 km) về phía đông nam.[155]


Ngày 20 tháng 4 năm 2012, Cục Cảnh sát biển Đài Loan cho biết cho biết ngày 22 tháng 3 năm 2012, tàu tuần tra của Việt Nam đã xâm nhập vào vùng biển hạn chế quanh đảo Ba Bình, và đã rời đi sau khi tàu cao tốc M8 của Cục Cảnh sát biển Đài Loan tới chặn. Đến ngày 26 cùng tháng, tiếp tục có hai tàu tuần tra của Việt Nam xâm nhập vào vùng biển gần đảo Ba Bình, các tàu này đã rời đi sau khi phát hiện mình bị Cảnh sát biển Đài Loan theo dõi bằng radar. Cục Cảnh sát biển Đài Loan cho biết đã không bên nào nổ súng trong cả hai sự cố[156] Trước đó, một số phương tiện truyền thông đưa tin phía Việt Nam đã dùng súng máy bắn khiêu khích trước và bị phía Đài Loan bắn trả.[157][158] Ngày 21 tháng 5 năm 2012, ủy viên lập pháp thuộc Quốc Dân Đảng Lâm Úc Phương cho biết tàu Việt Nam thường xâm nhập vào vùng biển hạn chế 6.000 m ở quanh đảo Ba Bình, năm 2011 có 106 chiếc tàu xâm nhập, từ tháng 1 đến tháng 4 năm 2012 có 41 tàu xâm nhập. Cục trưởng Cục an ninh quốc gia Đài Loan Lâm Úc Phương phát biểu rằng Việt Nam đã mong muốn kiểm soát bãi Bàn Than (hiện do Đài Loan kiểm soát) từ lâu và cho rằng việc bãi này rơi vào tay Việt Nam sẽ chỉ còn là vấn đề thời gian nếu như chính phủ Đài Loan không có hành động tích cực như xây dựng cơ sở cố định trên bãi.[159]


Xoa dịu căng thẳng


Những năm sau căng thẳng tại đá Vành Khăn, Trung Quốc và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thoả thuận đàm phán để đưa ra một bộ quy tắc ứng xử nhằm giảm căng thẳng tại các đảo tranh chấp. Ngày 5 tháng 3 năm 2002, một văn kiện chính trị đã ra đời để thể hiện mong ước giải quyết vấn đề chủ quyền "mà không sử dụng thêm nữa vũ lực". Ngày 4 tháng 11 năm 2002, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở biển Đông (DOC) được kí kết nhưng lại không mang tính ràng buộc về mặt pháp lí.[6][160] Năm 2005, Bộ Ngoại giao Trung Quốc thông báo là vào ngày 14 tháng 3, Tổng công ty Dầu khí Hải dương Trung Quốc (CNOOC) cùng Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam và Công ty Dầu Quốc gia Philippines đã kí thoả thuận thăm dò địa chấn chung nhằm thi hành DOC 2002.[161]


Tổ chức hành chính tại Trường Sa


Việt Nam


Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra sắc lệnh thay đổi địa giới các tỉnh và tỉnh lị tại Nam Việt, trong đó gọi Trường Sa là "Hoàng Sa" và quy thuộc tỉnh Phước Tuy. Đến ngày 6 tháng 9 năm 1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Việt Nam Cộng hòa đưa quần đảo Trường Sa vào phạm vi hành chính của xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.[62]


Ngày 9 tháng 12 năm 1982, Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thành lập huyện Trường Sa trên cơ sở toàn bộ khu vực quần đảo Trường Sa mà trước đây họ quy thuộc huyện Long Đất, tỉnh Đồng Nai.[162][Ghi chú 15] Tuy nhiên, ngày 28 tháng 12 năm 1982, chính quyền Việt Nam đã chuyển huyện Trường Sa từ tỉnh Đồng Nai sang tỉnh Phú Khánh.[163] Từ ngày 1 tháng 7 năm 1989, tỉnh Phú Khánh được tách ra thành hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa; huyện Trường Sa trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.[164]


Ngày 11 tháng 4 năm 2007, Chính phủ Việt Nam thành lập thị trấn Trường Sa và hai xã Song Tử Tây và Sinh Tồn thuộc huyện Trường Sa. Các thị trấn và xã này được thành lập trên cơ sở các hòn đảo cùng tên và các đảo, đá, bãi phụ cận.[165]


Trung Quốc


Từ năm 1959, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) đặt quần đảo Nam Sa (bao hàm quần đảo Trường Sa) cùng với quần đảo Tây Sa (tức quần đảo Hoàng Sa) và quần đảo Trung Sa (gồm bãi Macclesfield và một số thực thể địa lí thuộc biển Đông) thành một cấp gọi là Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa (tiếng Trung: 西南中沙群岛办; Hán-Việt: Tây Nam Trung Sa quần đảo biện sự xứ) dưới quyền quản lý của khu hành chính Hải Nam thuộc tỉnh Quảng Đông. Tháng 3 năm 1969, Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa cải danh thành Ủy ban Cách mạng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa tỉnh Quảng Đông (tiếng Trung: 广省西、南、中沙群革命委; Hán-Việt: Quảng Đông tỉnh Tây, Nam, Trung Sa quần đảo Cách mạng Ủy viên hội), đến tháng 10 năm 1981 lại đổi về tên Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa tỉnh Quảng Đông (tương đương cấp huyện).[166] Đến năm 1988, khi Hải Nam tách khỏi Quảng Đông để trở thành một tỉnh riêng biệt, Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa trực thuộc tỉnh Hải Nam.


Tháng 11 năm 2007, có tin Trung Quốc đã thành lập đô thị cấp huyện Tam Sa để quản lí ba quần đảo trên biển Đông.[167] Theo Trung Quốc, thực tế vì gặp phản ứng ở Việt Nam nên việc thành lập này bị dừng lại, tuy nhiên đô thị cấp huyện Tam Sa vẫn tồn tại trên danh nghĩa.[166] Ngày 21 tháng 6 năm 2012, Quốc vụ viện Trung Quốc chính thức phê chuẩn thành lập thành phố cấp địa khu Tam Sa để thay thế Văn phòng quần đảo Tây Sa, Nam Sa và Trung Sa.[168] Cơ quan chính quyền thành phố Tam Sa đóng trên đảo Phú Lâm, Hoàng Sa.


Đài Loan


Ngày 16 tháng 2 năm 1990, Hành chính viện Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) chấp thuận cho thành phố Cao Hùng thành lập một ủy ban quản lý để tiếp quản đảo Ba Bình của quần đảo Trường Sa, quy thuộc khu Kỳ Tân của thành phố. Ngày 28 tháng 1 năm 2000, Cục Tuần phòng Bờ biển (tức Tuần duyên) được thành lập và là cơ quan tiếp quản đảo Ba Bình, thực thi pháp luật chống buôn lậu, nhập cư trái phép và kiểm tra thương thuyền (ngư thuyền).[38]


Philippines


Năm 1978, Philippines thành lập đô thị tự trị Kalayaan thuộc tỉnh Palawan trên cơ sở Nhóm đảo Kalayaan. Hiện thời đơn vị hành chính này chỉ có một barangay là Pag-asa (tức đảo Thị Tứ), nằm cách đảo Palawan 285 hải lí về phía tây.[169]


Dân cư


Ngoài các nhân viên quân sự đồn trú, trên các đảo thuộc quần đảo Trường Sa còn có các cư dân. Theo kết quả của cuộc tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam năm 2009, huyện Trường Sa có 195 cư dân (128 nam và 67 nữ), trong đó 82 cư dân sống ở thành thị (thị trấn Trường Sa)[1] Theo điều tra dân số và nhà ở của Philippines vào năm 2010, đô thị tự trị Kalayaan có 222 cư dân, tất cả đều sinh sống trên đảo Thị Tứ (Pag-asa).[2]


Phát triển kinh tế


Một góc khu nghỉ dưỡng trên đảo nhân tạo của đá Hoa Lau


Du khách lặn biển tại vùng biển quanh đá Hoa Lau


Quần đảo Trường Sa vốn không có đất trồng trọt và không có dân bản địa sinh sống. Nghiên cứu của một số học giả như Dzurek (1985), Bennett (1992), Cordner (1994) và Tư vấn Pháp lí cho Bộ Ngoại giao Philippines đều chỉ ra rằng các đảo thuộc Trường Sa thiếu khả năng duy trì đời sống kinh tế riêng đầy đủ bởi vì chúng quá nhỏ, khô cằn và có rất ít tài nguyên trên đảo.[170]


Tuy trên các đảo chỉ có một vài tài nguyên (chẳng hạn phân chim) nhưng nguồn lợi thiên nhiên của vùng biển quần đảo Trường Sa thì lại rất có giá trị, ví dụ hải sản và tiềm năng dầu mỏ - khí đốt. Vào năm 1980, dân chúng trong vùng đánh bắt được 2,5 triệu tấn hải sản từ khu vực quần đảo Trường Sa.[171] Từ tháng 5 năm 2005, Việt Nam đã cho xây dựng trung tâm dịch vụ hậu cần nghề cá tại bãi đá Tây; diện tích đến 2013 đã đạt 3.000 mét vuông, sở hữu trang bị hiện đại, hỗ trợ nhiều mặt cho ngư dân nước này.[172] Về tiềm năng dầu khí và khoáng sản khác, hiện địa chất vùng biển quần đảo vẫn chưa được khảo sát nhiều nên chưa có các số liệu đánh giá đáng tin cậy. Tuy nhiên, Bộ Địa chất và Tài nguyên Khoáng sản Trung Quốc ước tính vùng quần đảo Trường Sa có trữ lượng dầu và khí thiên nhiên rất lớn, lên đến 17,7 tỉ tấn so với con số 13 tỉ tấn của Kuwait, và họ xếp nó vào danh sách một trong bốn vùng có trữ lượng dầu khí lớn nhất thế giới.[173] Tháng 6 năm 1976, Philippines khoan được dầu mỏ tại khu phức hợp Nido ở ngoài khơi đảo Palawan.[117]


Vùng biển Trường Sa cũng là một trong những vùng có mật độ hàng hải đông đúc nhất trên thế giới. Trong thập niên 1980, mỗi ngày có ít nhất hai trăm bảy mươi lượt tàu đi qua quần đảo Trường Sa, và "hiện tại" hơn một nửa số tàu chở dầu siêu trọng của thế giới chạy qua vùng biển này hàng năm.[174] Quần đảo Trường Sa hiện chưa có cảng lớn mà chỉ có một số cảng cá và đường băng nhỏ trên các đảo có vị trí chiến lược nằm gần tuyến đường vận chuyển tàu biển chính. Tuy nhiên, tàu thuyền lưu thông qua vùng này có thể gặp nhiều khó khăn do phải đối mặt với nguy hiểm từ gió bão, sóng lớn và nguy cơ bị mắc cạn hay va phải các rạn đá ngầm.


Nằm tại khu vực khí hậu nhiệt đới và có hệ sinh thái đa dạng, quần đảo Trường Sa có tiềm năng để thu hút khách du lịch. Tháng 6 năm 2011, Tổng cục Du lịch của Việt Nam mở hội thảo và công bố đề án phát triển du lịch hướng về biển đảo, trong đó đề cập dự định mở tuyến du lịch ra Trường Sa.[175] Tháng 4 năm 2012, Philippines tuyên bố kế hoạch phát triển đảo Thị Tứ bằng cách sửa chữa lại đường băng trên đảo và biến nơi đây thành một khu du lịch.[176] Tháng 9 năm 2012, Tân Hoa xã của Trung Quốc đưa tin về kế hoạch phát triển du lịch du thuyền giai đoạn 2012-2022 của thành phố Tam Á (tỉnh Hải Nam) đến quần đảo Trường Sa.[177] Tuy vậy, các nước trên đều đi sau Malaysia bởi vào đầu thập niên 1990, nước này không những đã hoàn thành việc xây đảo nhân tạo tại đá Hoa Lau (gần cực nam của quần đảo Trường Sa) mà còn mở cửa một khu nghỉ mát đầy đủ tiện nghi dành cho du khách, đặc biệt là những người yêu thích lặn biển.[113]


Cơ sở hạ tầng


Giao thông vận tải


Du khách lên máy bay tại đá Hoa Lau


Theo CIA, tại quần đảo Trường Sa có bốn đường băng được xây dựng.[6]


    Đảo Thị Tứ: năm 1975, Philippines xây dựng một đường băng trên đảo Thị Tứ. Đường băng dài 1.260 m nhưng có vài chỗ đã bị xói mòn, xuống cấp nên chỉ có khả năng tiếp nhận máy bay C-130 Hercules vào những lúc điều kiện thời tiết tốt; vào các ngày mưa, đường băng này chỉ đón được các máy bay cỡ nhỏ hơn. Philippines đã có kế hoạch sửa chữa lại đường băng này.[176][178]


    Đảo Ba Bình: năm 2006, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) giao cho Bộ Quốc phòng nhiệm vụ xây dựng đường băng trên đảo Ba Bình. Tháng 1 năm 2008, xuất hiện nguồn tin thông báo rằng Đài Loan đã hoàn tất công việc xây dựng.[179] Đường băng có bề mặt lát xi măng với chiều dài khoảng 1.200 m (lúc đầu ước tính là 1.150 m), chiều rộng 30 m cùng với lề vật liệu và khu vực cấm xây dựng rộng 21 m ở hai bên đường băng, đáp ứng nhu cầu đón máy bay C-130 Hercules.[180]


    Đá Hoa Lau: trong quá khứ đá Hoa Lau thực chất chỉ có một phần nổi rất nhỏ. Sau khi chiếm đá này vào đầu thập niên 1980, quân đội Malaysia đã kiến tạo một hòn đảo nhân tạo và cho xây dựng một đường băng dài 1.067 m trên đó.[181]


    Đảo Trường Sa: trên đảo này có một đường băng do Việt Nam xây dựng. Theo một nguồn tin, đường băng này đã được làm mới với tiêu chuẩn sân bay cấp ba, cho phép các loại máy bay cánh bằng chở khách hạ/cất cánh.[182]


Viễn thông


Năm 2005, công ty Smart Communications của Philippines đã cử người ra đảo Thị Tứ để xây một tháp thu phát sóng di động GSM thông qua thiết bị đầu cuối có độ mở rất nhỏ (VSAT).[183] Từ năm 2007, Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel) của Việt Nam đã cho khảo sát và lắp đặt các trạm thu phát sóng thông tin di động tại một số nơi thuộc Trường Sa. Sau khi được lắp đặt, phạm vi phủ sóng của các trạm là cách các đảo/đá 20 km và còn cho phép binh sĩ đồn trú truy cập Internet không dây công nghệ EDGE 2,75G.[184] Từ tháng 5 năm 2010, Công ty Tập đoàn Thông tin Di động Trung Quốc (China Mobile) và hải quân Trung Quốc đã bắt đầu phủ sóng thông tin di động trên các rạn đá ngầm do nước này kiểm soát, bao phủ tổng diện tích là 280 km². Tại điểm đóng quân chính là đá Chữ Thập còn có một trạm dự phòng.[185] Đầu tháng 2 năm 2013, Thông tấn xã Trung ương của Đài Loan thông báo công ty Trung Hoa Điện Tín (Chunghwa Telecom) đã hoàn tất lắp đặt hệ thống viễn thông tại đảo Ba Bình. Hoạt động thông qua vệ tinh ST-2, hệ thống này không những đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc cho nhân viên của Cục Tuần phòng Bờ biển Đài Loan trên đảo mà còn phủ sóng vùng biển lân cận, hỗ trợ tích cực cho các tàu tuần tra và tàu đánh cá.[186]


Danh sách thực thể bị chiếm đóng


Hiện Việt Nam kiểm soát được 21 thực thể địa lý (7 đảo san hô và cồn cùng 14 ám tiêu san hô), Philippines 10 (7 đảo san hô và cồn cùng 3 ám tiêu san hô), Trung Quốc 7 ám tiêu san hô, Malaysia 7 ám tiêu san hô, Đài Loan 1 đảo san hô và 1 ám tiêu san hô.


Xem thêm


    Hải chiến Trường Sa 1988


    Quần đảo Hoàng Sa


    Hải chiến Hoàng Sa 1974


    Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc


    Biến cố đảo Song Tử Tây


Ghi chú


    ^ Việc phân biệt giữa một đảo san hô và một cồn cát ở quần đảo này cũng chỉ ở mức độ tương đối.


    ^ Trừ các thực thể thuộc khu vực cụm bãi cạn Luconia và bãi cạn/bãi ngầm James.


    ^ Quần đảo Trung Sa là khái niệm mà Đài Loan và Trung Quốc dùng để chỉ bãi ngầm Macclesfield và một số thực thể địa lí khác. Xem thêm bãi Macclesfield.


    ^ Trong giới hạn quần đảo De Paracelles, có hai nhóm đảo, nhóm đảo phía nam tách rời (không được ghi chú) có hình dạng và vị trí tương đối giống với nhóm đảo Vạn Lí Trường Sa (萬里長沙) của Đại Nam nhất thống toàn đồ.


    ^ Mười người dân binh Việt này là đội Bắc Hải phụ trách các đảo từ xứ Bắc Hải (đông bắc biển Đông), cù lao Côn Lôn, và các đảo ở Hà Tiên.


    ^ Tức cặp đảo Song Tử Đông - Song Tử Tây.


    ^ Zou (2005) viết rằng sự kiện 1933 đã bị Trung Hoa Dân Quốc phản đối (Zou 2005, tr. 49)


    ^ Phó Tổng thống Philippines Carlos Polistico García cũng có đề cập đến phát ngôn trên trong một cuộc họp báo sau đó khi ông cho rằng lời khẳng định của phía Pháp có vẻ được hỗ trợ bởi bằng chứng là một bia đánh dấu trên đảo Ba Bình ghi "Đảo Pháp, 25 tháng 4 năm 1933" và một tàn tích của một toà nhà cỡ vừa được cho là nhà máy phân bón của Pháp (Hartendorp 1958, tr. 217)


    ^ Theo nguồn tiếng Trung do Trung Quốc đăng tải thì bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có nhắc đến Trường Sa ở đoạn 1: "Bề rộng lãnh hải của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là 12 hải lý. Ðiều lệ này áp dụng cho toàn lãnh thổ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, bao gồm phần đất Trung Quốc trên đất liền và các hải đảo ngoài khơi, Ðài Loan (tách biệt khỏi đất liền và các hải đảo khác bởi biển cả) và các đảo phụ cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa, và các đảo khác thuộc Trung Quốc”. (xem đầy đủ tại đây). Theo nguồn tiếng Anh đăng tải trên website của Đại học Tiểu bang Florida, Hoa Kỳ thì bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có nhắc đến Trường Sa ở đoạn 4: ""Tương tự, các nguyên tắc được nêu ra trong đoạn 2 và 3 áp dụng cho Đài Loan và các đảo lân cận, quần đảo Bành Hồ, quần đảo Đông Sa, quần đảo Tây Sa, quần đảo Trung Sa, quần đảo Nam Sa và tất cả các đảo thuộc Trung Quốc”. (xem đầy đủ tại đây).


    ^ Ý nói rằng quần đảo Trường Sa được gọi thông qua tên của đảo "lớn nhất" là đảo Trường Sa.


    ^ Át-lát Địa lí (dùng trong nhà trường) của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam thể hiện cụm bãi cạn Luconia thuộc về Malaysia (thực chất Trung Quốc và Đài Loan cũng đòi hỏi). Chưa thể kết luận Việt Nam có xem rạn vòng Louisa là một phần của quần đảo Trường Sa hay không.


    ^ Một số nơi ghi là "bãi Ba Kè". Ở đây tuân theo tên gọi trong Bản đồ Hành chính Việt Nam - tỉ lệ xích 1:2200000 (nhà xuất bản Bản đồ - 2008) và Bản đồ hành chính. Phần bản đồ hành chính tỉnh Khánh Hoà, huyện Trường Sa


    ^ Nguyên văn trong sách là "miles" nên chưa rõ có phải là viết tắt của "nautical miles" (hải lí) hay không.


    ^ Tuy nhiên, Dzurek (1996) đã chỉ ra một số ví dụ về các vụ án cũ do Toà án Công lý Quốc tế xét xử, như vụ thềm lục địa giữa Libya và Tunisia (1982), vụ vịnh Maine giữa Hoa Kỳ và Canada (1984) và vụ thềm lục địa giữa Libya và Malta (1985), trong đó Toà án Công lý Quốc tế đánh giá thấp lí lẽ về sự "kéo dài tự nhiên" của thềm lục địa (Dzurek 1996, tr. 21).


    ^ Sau năm 1975, tỉnh Đồng Nai được thành lập từ tỉnh Biên Hoà, Long Khánh, Phước Tuy và một phần đất của tỉnh Bình Tuy.


____


    ^ a ă “Phần I: Biểu tổng hợp”. Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Tổng cục Thống kê Việt Nam. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012.


    ^ a ă “Total Population by Province, City, Municipality and Barangay: as of May 1, 2010” (bằng tiếng Anh). National Statistics Office (Philippines). Truy cập 4 tháng 10 năm 2012.


    ^ Dzurek 1996, tr. 1


    ^ a ă “Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển [bản dịch tiếng Việt của Bộ Ngoại giao Việt Nam]”. Websire Tổng cục Môi trường Việt Nam. Truy cập ngày 10 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 4


    ^ a ă â b c d đ “Spratly Islands” (bằng tiếng Anh). CIA World Factbook. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2012.


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 9


    ^ a ă Nguyễn 2002, tr. 9


    ^ a ă Phạm 2011


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 42


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 33


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 31


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 32


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 32,86


    ^ Nguyễn 1985, tr. 20


    ^ a ă Nguyễn 1985, tr. 21


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 86


    ^ Nguyễn & ctg 2008, tr. 25


    ^ a ă â b McManus, Shao & Lin 2010


    ^ a ă Nguyễn & Đặng 2008, tr. 18


    ^ Nguyễn & Đặng 2008, tr. 19-20


    ^ Nguyễn & Đặng 2008, tr. 21


    ^ a ă Nguyễn & ctg 2008, tr. 11


    ^ Nguyễn & Đặng 2008, tr. 17


    ^ Nguyễn 2002, tr. 10


    ^ “第三 南沙群礁沙 [Phần ba: các đảo, ám tiêu, ám sa và ám than của quần đảo Nam Sa]”. 海南史志网. 11 tháng 6 năm 2009. Truy cập ngày 24 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ Nguyễn & Đặng 2008, tr. 56,58


    ^ Dai & Fan 1996, trích lại McManus, John W. (1994). The Spratly Islands: a Marine Park?.


    ^ McManus & Meñez 1997, tr. 1944


    ^ Gambang & ctg 2004, tr. 43


    ^ Nguyễn 1994, tr. 113


    ^ Nguyễn & Đặng 2008, tr. 34


    ^ Nurridan 2004, tr. 1


    ^ Cục Chính trị 2011


    ^ Nguyễn & Đặng 2008, tr. 97-98


    ^ McManus & Meñez 1997, tr. 1947


    ^ “PCP- LGU Kalayaan and AFP in Palawan” (bằng tiếng Anh). Protected Areas and Wildlife Bureau. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014.


    ^ a ă “南沙群島-歷史背景 [Bối cảnh lịch sử quần đảo Nam Sa]” (bằng tiếng Trung). Website Tuần duyên Đài Loan. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 12 tháng 6 năm 2014 tại đây.


    ^ “Quyết định số 742/QĐ-TTG của Thủ tướng Chính phủ: V/v phê duyệt Quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020”. Cổng thông tin điện tử Chính phủ (Việt Nam). Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014.


    ^ Nguyễn 2002, tr. 1


    ^ Hancox & Prescott 1995, tr. 15


    ^ a ă Nguyễn 2002, tr. 2


    ^ “二、中国南沙群岛拥有主史依据. 人民共和国外交部. Truy cập ngày 1 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ Bản đồ "The Selden Map of China".


    ^ “《三沙》碑文解:字字珠玑蕴含三沙千年 (bằng tiếng Trung). Tân Hoa xã. 27 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 40


    ^ “三位北大学子:渊源"南海断续线"” (bằng tiếng Trung). Sina.com. 3 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 2 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Nguyễn 2002, tr. 33


    ^ Lê 1997, tr. 119-120


    ^ Nguyễn 2002, tr. 96


    ^ Đinh 2010, tr. bìa 2


    ^ a ă Chemillier-Gendreau 2000, tr. 38


    ^ a ă Nguyễn 2002, tr. 100


    ^ a ă â b c d “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands (1975) [Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (1975)] [phần trích 1]” (bằng tiếng Anh). Ministry of Foreign Affairs (Republic of Vietnam) [Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà]. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ a ă Kelly 1999


    ^ Trần 1975, tr. 276-277


    ^ “Quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa (1933)”. Trang thông tin điện tử về Biên giới lãnh thổ. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ a ă “White Paper on the Hoang Sa (Paracel) and Truong Sa (Spratly) Islands (1975) [Sách trắng về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa (1975)] [phần trích 2]” (bằng tiếng Anh). Ministry of Foreign Affairs (Republic of Vietnam) [Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hoà]. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Nguyễn 2002, tr. 108


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 43


    ^ Nguyễn 2002, tr. 109


    ^ a ă “Một số văn kiện xác nhận chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc đến trước 30/4/1975 - Kì 3”. Cục Thông tin Đối ngoại (Việt Nam). 16 tháng 4 năm 2012. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Nguyễn 2002, tr. 112


    ^ Nguyễn 2002, tr. 113


    ^ “Nghị quyết của Quốc hội Nước CHXHCN Việt Nam ngày 28 tháng 12 năm 1982 về việc sáp nhập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai vào tỉnh Phú Khánh”. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam. 28 tháng 12 năm 1982. Truy cập ngày 18 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 47


    ^ “Nghị định về việc điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Cam Ranh và huyện Diên Khánh để thành lập huyện Cam Lâm; điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện: Cam Lâm, Trường Sa và mở rộng phường Cam Nghĩa thuộc thị xã Cam Ranh, tỉnh Khánh Hoà”. Công báo Khánh Hoà. 11 tháng 4 năm 2007. Truy cập ngày 1 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “Luật Biển Việt Nam”. Cổng Thông tin Điện tử Bộ Tư pháp (Việt Nam). Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012.


    ^ Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 32


    ^ a ă â Lu 1995, tr. 40


    ^ Cordner 1994, tr. 65


    ^ a ă Dzurek 1996, tr. 8, chú thích 30


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 137-138


    ^ a ă Valero 1993, tr. 60


    ^ a ă Catley & Keliat 1997, tr. 29


    ^ a ă Kivimäki 2002, tr. 13


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 138


    ^ Joyner, Christopher C. “The Spratly Islands Dispute: What Role for Normalizing Relations between China and Taiwan?” (bằng tiếng Anh). (bản trực tuyến, trích từ tập san New England Law Review, quyển 32, số 3, xuân 1998).


    ^ Furtado 1999, tr. 392


    ^ Lưu 1995, tr. 105


    ^ a ă “International Recognition Of China's Sovereignty over the Nansha Islands” (bằng tiếng Anh). Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa. 17 tháng 11 năm 2000. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ "Giàn khoan "981" tiến hành hoạt động tác nghiệp: Hành vi khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc," Ban tiếng Việt Nam Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014, http://vietnamese.cri.cn/481/2014/06/09/1s199588.htm; "Người Trung Quốc là chủ nhân không thể tranh cãi của quần đảo Tây Sa," Ban tiếng Việt Nam Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014, http://vietnamese.cri.cn/421/2014/05/27/1s199169.htm.


    ^ a ă "Miền Bắc có tuyên bố Hoàng Sa của TQ?,"BBC Tiếng Việt, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014, http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2014/01/140120_duongtrungquoc_hoangsa_northvietnam.shtml.


    ^ "Giàn khoan "981" tiến hành hoạt động tác nghiệp: Hành vi khiêu khích của Việt Nam và lập trường của Trung Quốc," Ban tiếng Việt Nam Đài phát thanh quốc tế Trung Quốc, truy cập ngày 27 tháng 6 năm 2014, http://vietnamese.cri.cn/481/2014/06/09/1s199588.htm.


    ^ “The Operation of the HYSY 981 Drilling Rig: Vietnam's Provocation and China's Position (4)” (bằng tiếng Anh). Nhân dân Nhật báo đăng lại thông tin của Tân Hoa xã. 10 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.


    ^ “The Operation of the HYSY 981 Drilling Rig: Vietnam's Provocation and China's Position (5)” (bằng tiếng Anh). Nhân dân Nhật báo đăng lại thông tin của Tân Hoa xã. 10 tháng 6 năm 2014. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014. Lưu trữ ngày 11 tháng 6 năm 2014 bởi WebCite® tại đây.


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 109


    ^ Zou 2005, tr. 49


    ^ Nguyễn 2002, tr. 13


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 41-43


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 44


    ^ Fravel 2008, tr. 292-293


    ^ Roy 1998, tr. 185


    ^ “太平島背後的關鍵問題” (bằng tiếng Trung). 世界新聞報. 19 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 24 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 29-30


    ^ “Báo chí Trung Quốc đưa tin về bản đồ nhà Thanh không có Hoàng Sa, Trường Sa”. Cục Thông tin Đối ngoại. 28 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Chử Đình Phúc (4 tháng 8 năm 2012). “Thêm sử liệu chống lại Trung Quốc”. Người lao động. Truy cập ngày 13 tháng 9 năm 2012.


    ^ Nhóm phóng viên biển Đông (27 tháng 7 năm 2011). “Công hàm 1958 với chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam”. Đại Đoàn kết. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “Về lá thư của Phạm Văn Đồng năm 1958”. BBC tiếng Việt. 24 tháng 1 năm 2008. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012.


    ^ “Im lặng nhưng không đồng tình”. BBC tiếng Việt. 24 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.


    ^ “Nhìn lại Công hàm Phạm Văn Đồng 1958”. BBC tiếng Việt. 14 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 23 tháng 7 năm 2013.


    ^ a ă “Presidential Decree No. 1596, s. 1978” (bằng tiếng Anh). Official Gazette of the Republic of the Philippines. Truy cập ngày 16 tháng 6 năm 2014.


    ^ Ministry of Defence (Philippines) 1982, tr. 13


    ^ a ă Dzurek 1996, tr. 46


    ^ Dzurek 1996, tr. 16


    ^ Dzurek 1996, tr. 19


    ^ Pak 2000, tr. 92


    ^ Samuels 1982, tr. 91


    ^ “Archipelagic Baselines Law of the Philippines [Luật Đường cơ sở Quần đảo của Philippines]” (bằng tiếng Anh). Senate of the Philippines. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “Sponsorship speech on The 2009 Baseline Bill” (bằng tiếng Anh). Thượng viện Philippines. 27 tháng 1 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ a ă â Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 35


    ^ Pak 2000, tr. 93


    ^ a ă â Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 36


    ^ Nguyễn 2002, tr. 164


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 127


    ^ Lu 1995, tr. 34


    ^ a ă â Dzurek 1996, tr. 20


    ^ Dzurek 1996, tr. 20-21


    ^ a ă Severino 2010, tr. 181-182


    ^ a ă â Asri, Che Hamdan & Kamaruzaman 2009, tr. 112-113


    ^ Nguyễn Thái Linh (17 tháng 11 năm 2011). “Tranh chấp Hoàng Sa, Trường Sa và luật pháp quốc tế (Kì cuối)”. Tạp chí Tia Sáng. Truy cập ngày 21 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ “Abdullah Harap Pulau Layang-layang Dipelihara” (bằng tiếng Mã Lai). BERNAMA [Hãng thông tấn Quốc gia Malaysia]. 5 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ “Chủ quyền với Hoàng Sa, Trường Sa là rõ ràng”. VietnamPlus. 9 tháng 3 năm 2009. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ a ă Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 37


    ^ Cordner 1994, tr. 68-69


    ^ Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 38


    ^ a ă â Dzurek 1996, tr. 45


    ^ Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 38, trích lại Clagett (1995), trang 432, chú thích 197.


    ^ Dzurek 1996, tr. 21


    ^ a ă Cordner 1994, tr. 68


    ^ Imperial Institute 1893, tr. 769


    ^ Lu 1995, tr. 172


    ^ Hill, Owen & Roberts 1991, tr. 129, chú thích 89.


    ^ Kivimäki 2002, tr. 10


    ^ Lu 1995, tr. 41


    ^ Kivimäki 2002, tr. 12


    ^ Dzurek 1996, tr. 9


    ^ a ă Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 21


    ^ Chemillier-Gendreau 2000, tr. 39


    ^ “Treaty of Peace with Japan” (bằng tiếng Anh). Shuyo-Joyakushu, tr.5-32. Japan's Foreign Relations-Basic Documents, tập 1, tr.419-439. 8 tháng 9 năm 1951. Truy cập ngày 4 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Mạnh Hùng; Việt Cường (10 tháng 5 năm 2010). “Tưởng niệm các chiến sỹ hy sinh tại quần đảo Trường Sa”. Báo điện tử Đài Tiếng nói Việt Nam. Truy cập ngày 4 tháng 11 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ Zou 2005, tr. 51


    ^ Thayer & Amer 2000, tr. 78, trích lại Layne (1994) tr.5-49 và Spiro (1994) tr.50-86.


    ^ Thayer & Amer 2000, tr. 78


    ^ Dzurek 1995, tr. 67


    ^ Dzurek 1996, tr. 37


    ^ Dzurek 1996, tr. 38-40


    ^ Carpenter & Wiencek 2000, tr. 112


    ^ Kivimäki 2002, tr. 128


    ^ “Calming the sea of troubles”. The Economist. 4 tháng 11 năm 1999. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2012.. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ a ă “外交部言人秦就越南在南沙采取行. 人民共和国外交部. 10 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2013.


    ^ “Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”. Báo điện tử Chính phủ (Việt Nam). 11 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2013.


    ^ “Chủ tịch QH Nguyễn Phú Trọng thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc”. Báo điện tử Đại biểu nhân dân. 10 tháng 4 năm 2007. Bản gốc lưu trữ ngày 5 tháng 4 năm 2013. Truy cập ngày 5 tháng 4 năm 2013.


    ^ Milton, Roger (19 tháng 7 năm 2007). “Vietnam, China clash again over Spratlys” (bằng tiếng Anh). Straits Times. Truy cập ngày 7 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Duy Thanh (1 tháng 6 năm 2011). “4 tàu đánh cá Phú Yên bị tàu Trung Quốc bắn đuổi”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Yeh, Joseph. “Vietnam vessels entered Taiwan waters: CGA” (bằng tiếng Anh). The China Post. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “台媒:越在南沙太平岛鸣枪挑衅 台湾驻军示警 [Truyền thông Đài Loan: lính Việt Nam nổ súng khiêu khích tại đảo Thái Bình thuộc Nam Sa khiến quân đồn trú Đài Loan phải bắn cảnh cáo]” (bằng tiếng Trung). 凰网. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “越南武装快艇逼近中国南沙太平 公然开挑衅 [Xuồng cao tốc có vũ trang của Việt Nam tiếp cận đảo Thái Bình thuộc Nam Sa của Trung Quốc, ngang nhiên nổ súng khiêu khích]” (bằng tiếng Trung). 搜狐网. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2012.


    ^ “蔡得勝:南海情勢還在可控制範圍[Thái Đắc Thắng: tình hình tại Nam Hải vẫn trong tầm kiểm soát]” (bằng tiếng Trung). Đài phát thanh Quốc tế Đài Loan. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea (2002)” (bằng tiếng Anh). ASEAN Secretariat [Ban Thư kí ASEAN]. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “Foreign Ministry Spokesman Liu Jianchao's comment on the Joint Marine Seismic Undertaking Accord signed by the oil companies of China, Vietnam and the Philippines” (bằng tiếng Anh). Bộ Ngoại giao CHND Trung Hoa. 16 tháng 3 năm 2005. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ “Quyết định số 193/HĐBT về việc thành lập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai”. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Việt Nam). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ “Nghị quyết của Quốc hội Việt Nam về việc sáp nhập huyện Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai vào tỉnh Phú Khánh”. Cổng Thông tin điện tử Bộ Tư pháp (Việt Nam). Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.



    ^ Nguyễn Lê Đình Thống. “Quần đảo Trường Sa”. Báo Khánh Hòa. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2012.


    ^ “Nghị định số 65/2007/NĐ-CP”. Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp. Truy cập ngày 13 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ a ă “三沙市 [Thành phố Tam Sa]” (bằng tiếng Trung). Mạng Thông tin Hải dương Trung Quốc. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014.


    ^ Khổng Loan (4 tháng 12 năm 2007). “Phản đối Trung Quốc thành lập thành phố Tam Sa”. Tuổi trẻ online. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ “院批准立地三沙市 民政部新闻发言人答 [Quốc Vụ Viện phê chuẩn thiết lập địa cấp thị Tam Sa - Người phát ngôn của Bộ Dân chính trả lời câu hỏi của báo giới]” (bằng tiếng Trung). Tân Hoa xã. 21 tháng 6 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 7 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ Esplanada, Jerry E. (28 tháng 6 năm 2012). “Philippines ignores China: Pag-asa new school is in our land” (bằng tiếng Anh). Philippine Daily Inquirer. Truy cập ngày 27 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ Valencia, Van Dyke & Ludwig 1999, tr. 43-44, phần chú thích cuối trang.


    ^ Brown, Lynn-Jones & Miller 1996, tr. 135


    ^ Lê Hạnh Nguyên (12 tháng 5 năm 2013). “Hậu cần nghề cá Trường Sa: Điểm tựa của ngư dân bám biển”. Nhân Dân điện tử. Truy cập ngày 11 tháng 6 năm 2014.


    ^ Dupont 2001, tr. 76


    ^ Clarke 2010, tr. 78


    ^ Thanh Giang (16 tháng 6 năm 2011). “Biển đảo là ưu tiên phát triển của du lịch Việt Nam”. VietnamPlus. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® vào ngày 13 tháng 11 năm 2012 tại đây.


    ^ a ă Santos, Matikas (16 tháng 6 năm 2011). “Government looking to develop Pagasa Island in Spratlys” (bằng tiếng Anh). Philippine Daily Inquirer. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ “三沙航线过评审 [Tuyến du thuyền đến ba quần đảo được thông qua]” (bằng tiếng Trung). Tân Hoa xã. 7 tháng 9 năm 2012. Truy cập ngày 20 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Evangelista, Katherine (22 tháng 6 năm 2011). “Military to repair airstrip on Pagasa Island in Spratlys” (bằng tiếng Anh). Philippine Daily Inquirer. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Jennings, Ralph; Macfie, Nick; Richardson, Alex (28 tháng 1 năm 2008). “Taiwan completes airstrip on disputed island” (bằng tiếng Anh). Reuters. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ “電子文件 - 監察院” (bằng tiếng Trung). 中華民國監察院 [Giám sát viện Trung Hoa Dân Quốc]. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ “Diving in Malaysia” (bằng tiếng Anh). Malaysia Footsteps (Website of Tourism). 13 tháng 7 năm 2010. Truy cập ngày 14 tháng 9 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Bá Hoạch. “Đường băng trải rộng Trường Sa”. Công ty TNHH MTV Xây dựng Công trình Hàng không, Bộ Quốc phòng (Việt Nam). Bản gốc lưu trữ ngày 13 tháng 11 năm 2012. Truy cập ngày 13 tháng 11 năm 2012.


    ^ “Smart maintains GSM service on Pag-asa Is”.. The Philippine Star. 30 tháng 7 năm 2011. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ Văn Phong (25 tháng 4 năm 2011). “Sóng di động nối gần Trường Sa với đất mẹ”. Báo điện tử Quân đội Nhân dân. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ 郭景水; 欧燕燕 (7 tháng 8 năm 2012). “中国移覆盖南沙群 提供通信保障” (bằng tiếng Trung). 人民网 [mạng Nhân dân Nhật báo]. Truy cập ngày 25 tháng 10 năm 2012. Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    ^ 江明晏 (1 tháng 2 năm 2013). “太平島行動通信 (bằng tiếng Trung). 中央通訊社. Bản gốc lưu trữ ngày 8 tháng 2 năm 2013. Truy cập ngày 8 tháng 2 năm 2012.


Thư mục


    Asri, Salleh; Che Hamdan, Che Mohd Razali; Kamaruzaman, Jusoff (2009), “Malaysia's Policy towards Its 1963-2008 Territorial Disputes [Chính sách của Malaysia đối với các tranh chấp lãnh thổ giai đoạn 1963-2008]”, Journal of Law and Conflict Resolution, 15


    Brown, Michael E.; Lynn-Jones, Sean M.; Miller, Steven E. (1996), East Asian Security [An ninh Đông Á], The MIT Press, ISBN 978-0262522205


    Carpenter, William M.; Wiencek, David G. (2000), Asian Security Handbook 2000 [Sách tóm tắt về an ninh châu Á] (ấn bản 2), M.E. Sharpe, ISBN 978-0765607140


    Catley, Robert; Keliat, Makmur (1997), Spratlys: the Dispute in the South China Sea [Quần đảo Trường Sa: tranh chấp trong biển Đông], Dartmouth Publishing, ISBN 978-1855219953


    Chemillier-Gendreau, Monique (2000) [Bản gốc tiếng Pháp 1996], Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands [Chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa], Springer, ISBN 978-9041113818


    Clarke, Ryan (2010), “Chinese Energy Security: The Myth of the PLAN's Frontline Status [An ninh năng lượng của Trung Quốc: Chuyện thần thoại về vị thế đầu tàu của Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc]”, Letort Papers (Strategic Studies Institute, United States Army War College) Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    Cordner, Lee G. (1994), “The Spratly Islands Dispute and the Law of the Sea [Tranh chấp quần đảo Trường Sa và Luật biển]”, Ocean Development & International Law 25 (1): 61–74


    Cục Chính trị (2011), Những điều cần biết về hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa và khu vực thềm lục địa phía nam (DK1), Cục Chính trị, Bộ Tư lệnh Hải quân (Việt Nam)


    Dai, Chang-Feng; Fan, Tung-Yung (tháng 4 năm 1996), “Coral Fauna of Taiping Island (Itu Aba Island) in the Spratlys of the South China Sea [Quần động vật rạn san hô của đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa trong biển Đông]”, Atoll Research Bullentin, 436 (Washington D.C.: National Museum of Natural History)


    Dupont, Alan (2001), East Asia Imperilled: Transnational Challenges to Security [Đông Á hiểm nghèo: những thách thức xuyên quốc gia đối với an ninh], Cambridge University Press, ISBN 978-0521010153


    Dzurek, Daniel J. (1995), “China Occupies Mischief Reef In Latest Spratly Gambit [Trung Quốc chiếm đá Vành Khăn trong nước cờ đầu mới nhất tại Trường Sa]”, Boundary & Security Bulletin, 3 (University of Durham, International Boundaries Research Unit): 65–71


    Dzurek, Daniel J. (1996), The Spratly Islands Dispute: Who's on First? [Tranh chấp quần đảo Trường Sa: Ai trước tiên?], Maritime Briefings 2, University of Durham, International Boundaries Research Unit, ISBN 978-1897643235


    Đinh, Kim Phúc (chủ biên) (2010), Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa, Nhà xuất bản Tri thức


    Fravel, M. Taylor (2008), Strong Borders, Secure Nation: Cooperation and Conflict in China's Territorial Disputes [Biên giới vững, quốc gia an toàn: hợp tác và xung đột trong các tranh chấp biên giới của Trung Quốc], Princeton University Press, ISBN 978-0691136097


    Furtado, Xavier (tháng 12 năm 1999), “International Law and the Dispute over the Spratly Islands: Whither UNCLOS?”, Contemporary Southeast Asia, 3 (Institute of Southeast Asian Studies (ISEAS)) 21: 386–404


    Gambang, Albert Chuan; Daud, Awang; Lim, Pek Khiok Annie; Osman, Muda (2004), Fish Community of Pulau Langyang Layang [Khu hệ cá của đá Hoa Lau] (bằng tiếng Anh), Institut Penyelidikan Perikanan [Viện Nghiên cứu Nghề cá], tr. 43–58, truy cập 14 tháng 9 năm 2012 Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    Hancox, David; Prescott, Victor (1995), A Geographical Description of the Spratly Islands and an Account of Hydrographic Surveys amongst Those Islands [Một mô tả địa lí về quần đảo Trường Sa và bảng kê các cuộc khảo sát thuỷ văn quần đảo này], Maritime Briefings 1, International Boundaries Research Unit, University of Durham, ISBN 978-1897643181


    Hartendorp, Abram van Heyningen (1958), History of Industry and Trade of the Philippines: The Magsaysay Administration (Volume 1) [Lịch sử công nghiệp và thương mại của Philippines: chính quyền Magsaysay (tập 1)], American Chamber of Commerce of the Philippines


    Hill, R.D.; Owen, Norman G.; Roberts, E.V. (1991), Fishing in Troubled Waters: Proceedings of an Academic Conference on Territorial Claims in the South China Sea [Đánh cá tại vùng nước tranh chấp: Các tham luận tại hội thảo học thuật về những tuyên bố chủ quyền lãnh thổ tại biển Đông], Centre of Asian Studies occasional papers and monographs, 0378-2689; no. 97, University of Hong Kong, Centre of Asian Studies, ISBN 978-0824818814


    Imperial Institute (1893), The Year-book of the Imperial Institute of the United Kingdom, the Colonies and India: a Statistical Record of the Resources and Trade of the Colonial and Indian Possessions of the British Empire (Volume 2), The Institute


    Kelly, Todd C. (1999), “Vietnamese Claims to the Truong Sa Archipelago [Tuyên bố chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa]”, Explorations in Southeast Asian Studies (University of Hawaii) Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    Kivimäki, Timo (2002), War Or Peace in the South China Sea? [Chiến tranh hay hòa bình tại biển Đông?], Nordic Institute of Asian Studies (NIAS), ISBN 87-91114-01-2


    Lê, Quý Đôn (1997), Lê Quý Đôn toàn tập 1, Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội


    Lu, Ning (1995), Flashpoint Spratlys! [Trường Sa, điểm bùng cháy!], Dolphin Trade Press, ISBN 978-9810066178


    Lưu, Văn Lợi (1995), Cuộc tranh chấp Việt Trung về hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Hà Nội: Nhà xuất bản Công an Nhân dân


    McManus, J.W.; Meñez, L.A.B. (1997), “The Proposed International Spratly Island Marine Park: Ecological Considerations [Đề xuất về công viên hải dương quốc tế tại quần đảo Trường Sa: các cân nhắc về sinh thái]”, Proceedings of the 8th International Coral Reef Symposium (Panama: Smithsonian Tropical Research Institute) 2


    McManus, John W.; Shao, Kwang-Tsao; Lin, Szu-Yin (2010), Toward Establishing a Spratly Islands International Marine Peace Park: Ecological Importance and Supportive Collaborative Activities with an Emphasis on the Role of Taiwan [Hướng đến việc thành lập một công viên hải dương hoà bình tại quần đảo Trường Sa: sự quan trọng về sinh thái và các hoạt động cộng tác mang tính khuyến khích, nhấn mạnh đến vai trò của Đài Loan], Taylor & Francis Group


    Ministry of Defence (Philippines) (1982), The Kalayaan Islands [Quần đảo Kalayaan], Development Academy of the Philippines Press


    Nguyễn, Biểu (1985), “Vài nét về đặc điểm địa chất quần đảo Trường Sa”, Tạp chí Địa chất, 169 Lưu trữ bởi WebCite® tại đây


    Nguyễn, Huy Yết; Đặng, Ngọc Thanh (2008), Nguồn lợi sinh vật và các hệ sinh thái ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nhà xuất bản Khoa học Tự nhiên và Công nghệ


    Nguyễn, Hữu Phụng (1994) [1998], “The Species Composition of Coral Reef Fishes in the Spratly Islands, Central South China Sea”, trong Morton, Brian, The marine biology of the South China Sea III: proceedings of the Third International Conference on the Marine Biology of the South China Sea: Hong Kong, 28 October-1 November 1996 (Hong Kong University Press), ISBN 978-9622094611


    Nguyễn, Nhã (2002), Quá trình xác lập chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (luận án tiến sĩ), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh)


    Nguyễn, Thế Tiệp; Nguyễn, Biểu; Lê, Đình Nam; Trần, Xuân Lợi (2008), Địa chất và địa vật lí vùng quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nhà xuất bản Khoa học tự nhiên và Công nghệ


    Pak, Hee Kwon (2000), The Law of the Sea and Northeast Asia: A Challenge for Cooperation [Luật biển và Đông Bắc Á: thách thức hợp tác], Springer, ISBN 978-9041114075


    Nurridan binti Abdul Han (2004), Seaweed and Seagrass Communities of Pulau Layang Layang Lagoon, Malaysia [Khu hệ tảo biển và cỏ biển trong vụng biển của đá Hoa Lau] (bằng tiếng Anh), Institut Penyelidikan Perikanan [Viện Nghiên cứu Nghề cá], truy cập 14 tháng 9 năm 2012 Lưu trữ bởi WebCite® tại đây.


    Phạm, Hoàng Quân (2011), “Tìm hiểu vài công trình nghiên cứu địa danh các đảo Nam Hải của học giới Trung Quốc”, Hội thảo biển Đông lần hai, Học viện Ngoại giao (Hà Nội)


    Roy, Denny (1998), China's Foreign Relations [Các quan hệ ngoại giao của Trung Quốc], Rowman & Littlefield Publishers, ISBN 978-0847690138


    Samuels, Marwyn S. (1982), Contest for the South China Sea [Tranh giành biển Đông], New York: Methuen, ISBN 0-416-33140-8


    Severino, Rodolfo C (2010), Where in the World is the Philippines? Debating Its National Territory [Philippines ở đâu trong thế giới? Bàn luận về lãnh thổ quốc gia Philippines], Institiute of South East Asian Studies, ISBN 978-981-4311-71-7


    Thayer, Carlyle A.; Amer, Ramses (2000), Vietnamese Foreign Policy in Transition [Đường lối ngoại giao của Việt Nam trong thời chuyển đổi], Palgrave Macmillan, ISBN 978-0312228842


    Trần, Đăng Đại (ông và bà) (1975), “Các văn kiện chính thức xác nhận chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ thời Pháp thuộc tới nay”, Tập san Sử Địa, 29 (Sài Gòn: Nhà in Văn Hữu)


    Valero, Gerardo M. C (1993), Spratly Archipelago: Is the Question of Sovereignty Still Relevant?: a Roundtable Discussion [Quần đảo Trường Sa: liệu câu hỏi về chủ quyền có còn thích đáng?: một thảo luận bàn tròn], Institute of International Legal Studies, University of the Philippines Law Center, ISBN 978-9711503307


    Valencia, Mark J.; Van Dyke, Jon M.; Ludwig, Noel A. (1999), Sharing the Resources of the South China Sea [Chia sẻ các tài nguyên trong biển Đông], University of Hawaii Press, ISBN 978-0824818814


    Zou, Keyuan (2005), Law of the Sea in East Asia: Issues and Prospects [Luật biển tại Đông Á: các vấn đề và triển vọng], Routledge, ISBN 978-0415350747


wikipedia


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sài Gòn cà phê chó mèo: 'một cún khác đã nghếch chân tè tiếp' - Tư liệu 26.03.2017
Không vỉa hè, những con đường bắt người Sài Gòn đi bộ 'phải phạm luật giao thông' - Nhiều tác giả 24.03.2017
Tôn Vũ (Tôn Tử) & Binh pháp Tôn Tử - Tư liệu 23.03.2017
Tôn Tẫn, Bàng Quyên - Tư liệu 23.03.2017
Danh nhân Đông Tây kim cổ (3) - Lương Văn Hồng 23.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc mão trang trí bằng 5 lượng vàng ròng - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Kho báu trong lăng Thoại Ngọc Hầu: Chiếc kính mắt châu Âu - Lương Chánh Tòng 22.03.2017
Rao bán vỉa hè giá trăm triệu - Tư liệu 20.03.2017
Chợ Cũ Sài Gòn - Lê Văn Nghĩa 19.03.2017
Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với chế độ Pol Pot - Tư liệu 19.03.2017
xem thêm »