tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19732717
16.05.2013
Hà Văn Thùy
Tìm cội nguồn qua di truyền học (11)

1. Khởi nguồn (khoảng 10.000 TCN).


Hai di chỉ là Hang Xianren trong hạt Vạn Niên (Wannian), tỉnh Giang Tây (Jiangxi), và Dốc Đứng (Yuchan) trong hạt Dao tỉnh Hồ Nam (Hunan), là một phần của đồng bằng sông Dương Tử, và khí hậu trong khu vực cận nhiệt đới Nam Trung Hoa. Về mặt địa lý, chúng ở trung tâm của Nam Trung Quốc, phía Nam Qinling (Tần Lĩnh - 秦岭) và phía Nam sông Hoài (淮河).


2. Giai đoạn trưởng thành (7000-5000 BC?)


Những vết tích văn hóa chính đến từ văn hóa Pengtoushan (Bành Đầu sơn - 彭头山), văn hóa Giả Hồ (Jiahu) thuộc kiểu văn hóa Peiligang và địa điểm Shangshan (Thượng Sơn - 上山) trong hạt Pujiang thuộc thung lũng sông Qian-tang. Những địa điểm văn hóa Pengtoushan được định vị trong miền đồng bằng xung quanh Hồ Động Đình (Dongting) và khu vực dọc theo sông Dương Tử phía Tây tỉnh Hồ Bắc (Hubei).


Niên đại những địa điểm này vào khoảng 6500-5500 TCN. Nhiều vết tích của lúa trồng được phát hiện tại đây, cung cấp bằng chứng quan trọng về việc gia tăng canh tác lúa. Những di chỉ kiểu Giả Hồ của văn hóa Peiligang phân tán trong đồng bằng trung và Đông tỉnh Hà Nam (Henan), có niên đại 6800-5500 năm TCN. Những vết tích sự trồng trọt lúa cũng được tìm thấy tại địa điểm Giả Hồ (Jiahu) ở hạt Vũ Dương (Wuyang 舞阳).


Những công cụ được khai quật ở đây chủ yếu là sa thạch, phần nhiều trong số đó được làm bởi phương pháp mài nhẵn. Những công cụ đó có thể được xác định là cái mai đá, cái liềm, con dao, đá cối xay, cái gậy đá cối xay, cái mai xương v.v... Dấu hiệu quan trọng của sự phát triển nông nghiệp đầu tiên là những công cụ đá mài bóng đó. Tại địa điểm Thượng Sơn (Shangshan上山) trong hạt Pujiang (Phố Giang - 浦江) thuộc lòng chảo trung tâm tỉnh Chiết Giang (Zhejiang), những vết tích trồng lúa có thể xưa tới khoảng 7000 năm TCN. Có nhiều dấu in của vỏ trấu trên những mẫu đồ gốm đào được. Đất làm gốm được trộn đều với một số lớn vỏ trấu, chứng tỏ vết tích của việc trồng lúa.


Niên đại Carbon-14, được thực hiện bởi các chuyên gia tại Trường Cao đẳng Nghệ thuật và Khoa học Đại học Bắc Kinh, Zhou Jixu, (sđd.6) cho thấy rằng các mảnh gốm với vỏ trấu được định tuổi đến 9000-11000 năm cách nay. Những công cụ khai quật được là đá cối xay, gậy đá cối xay, những quả bóng đá, những cái đục, rìu, và những rìu lưỡi vòm. Đồ gốm bao gồm lọ, bình, chảo cũng như những mảnh với chân tròn, được tìm thấy sớm nhất ở Trung Quốc cho đến lúc này.


3. Thời kỳ phát triển (5000-3000 TCN)


Văn hóa lúa nước đã được mở rộng đến trung, hạ lưu sông Dương Tử, các đồng bằng sông Ganjiang (Cống Giang - 赣江), sông Minjiang (Mân Giang - 闽江), sông Chu (Zhujiang - 珠江) và một phần của khu vực trung và hạ lưu sông Hoàng Hà trong khoảng thời gian 5000-3000 TCN.


Đáng kể là việc trồng lúa vẫn còn được phát hiện tại hạ lưu sông Dương Tử, chẳng hạn như trong văn hóa Hà Mẫu Độ (Hemudu - 河姆渡), Mã Gia Bang (Majiapang -马家浜) và Songzhe (Tung Trạch -嵩泽), và cũng có thể ở trung lưu sông Dương Tử, chẳng hạn như văn hóa Tangjiagang (Thang Gia Cương - 汤家岗), Daxi (Đại Khê - 大溪) và Longqiuzhuang (Long Cầu trang - 龙虬庄) trong các khu vực phía Đông của sông Hoài.


Khu vực trồng lúa đã vươn tới trên 35 ° vĩ độ Bắc trong khu vực trung và hạ lưu Hoàng Hà. Chúng ta có thể thấy văn hóa đặc trưng của thời kỳ này tại di chỉ Hà Mẫu Độ, khoảng 5000 TCN. Hiện có số lượng lớn hạt lúa bị các bon hóa với hình dạng đầy đủ và thậm chí cả với các sợi râu, thêm vào đó vô số những nông cụ được khai quật, bao gồm cái mai xương, cái chày gỗ, đá cối xay, quả bóng đá v.v… Số lượng những cái mai bằng xương vượt quá 170 chiếc. Những mảnh gốm dùng để nấu cơm mang vết tích các bon hóa được khám phá. Gốm được khai quật chủ yếu là gốm đen do pha trộn than, với những kiểu dáng như cái bình, cái bát, đĩa, tách đứng, chảo, he ( - dụng cụ để uống), đỉnh (ding , cái chảo lớn ba chân), cái đài… Có thể được phân loại vào trong ba nhóm: đồ đun nấu, đồ dùng để uống và cất giữ sản phẩm.


Cũng khai quật được các dụng cụ săn bắn và câu cá, chẳng hạn như còi bằng xương, mũi tên xương, đạn đá, và rất nhiều trái cây, chẳng hạn như chà là đen, quả sồi, gordon euryale và hạt dẻ nước… những hiện vật đó cho thấy rằng săn bắn, câu cá, và thu lượm vẫn còn là một phần trong đời sống của người dân Hemudu. Nhiều công cụ dùng để xe chỉ và dệt được khám phá tại chỗ, đã chứng tỏ kỹ thuật dệt phát triển trong thời kỳ đó.


Những căn nhà của người Hemudu được xây dựng trên sàn gỗ để nâng cao trên đất phòng lũ lụt, và nhà được làm bằng gỗ. Việc xây dựng kiểu Hemudu là không bình thường trong thời ký Đá Mới ở Trung Quốc. Di chỉ Hemudu đã được công nhận là một trong những địa điểm khảo cổ quan trọng nhất ở Trung Quốc, và chữ "Hemudu" là tên được sử dụng để gọi tất cả các địa điểm thuộc cùng một loại hình văn hóa.


4. Giai đoạn hoàn tất sự phát triển (3000-2000 TCN)


Phạm vi của văn hóa lúa nước nguyên thủy đã thành thục gần như trùng với địa bàn của nghề trồng lúa phát triển. Những di tích phong phú nhất của nghề trồng lúa được khám phá ở văn hóa Liangzhu, Qujialing (Khuất Gia Lĩnh - 屈家岭), Shijiahe (Thạch Gia Hà -石家河), và Fanchengdui (Phiền Thành Đôi -樊城堆) ở trung và hạ lưu sông Dương Tử.


Cả lúa lẫn kê đều đã được gieo trồng trong khu vực giữa sông Hoàng Hà và sông Hoài. Tiên tiến nhất là văn hóa Liangzhu. Có rất nhiều công cụ trồng trọt khác nhau trong văn hóa Liangzhu. Những công cụ đá được khai quật. Theo dữ liệu tại di chỉ Shangshan có thể được xếp loại thuộc thời kỳ trước đó, được mô tả trong mục "nguồn gốc".


Zhou Jixu, (sđd.7): cái cày, shi ( một loại mai), cái mai, cái cuốc, và cái liềm… đã được chế tác đẹp đẽ. Những công cụ cho thấy kỹ thuật trồng trọt cao hơn so với thời kỳ trước đó. Sự nuôi dưỡng gia súc phát triển rõ rệt. Những nghề thủ công nguyên sơ bắt đầu thuần thục. Việc sản xuất đồ gốm, chế tạo ngọc bích, sơn mài, dệt, chế tạo vật dụng bằng tre và gỗ, việc chạm khắc ngà, nghề khảm… tất cả các hàng thủ công này phát triển chưa từng có trước đây. Tất cả những sự khéo léo như vậy trước đó chưa hề có. Việc sản xuất những vật bằng ngọc bích đặc biệt đáng chú ý trong thời kỳ này. Đấy là nhận xét của giáo sư Zhu trong bài báo kể trên.


Khi thảo luận về cái nôi của văn minh lúa nước trong công trình Cái nôi phương Đông của mình, giáo sư Hồ cũng nói: "Trong bất kỳ trường hợp nào, sự kết hợp giữa khảo cổ học và tư liệu lịch sử của chúng tôi cho thấy vẻ hợp lý khi cho rằng Trung Quốc như là một trong những quê hương gốc của cây lúa và có lẽ là khu vực đầu tiên trên thế giới, nơi lúa đã được trồng" (Hồ 1975: 70-71). Dưới đây là những tư liệu Carbon-14 tại ba di chỉ trồng lúa (Hồ 1975: 16-17).


8. Songze (松泽) Qingpu (青浦) Shanghai, Qingliangang (青莲岗)


3395±105 B.C; 3395±105 B.C.


10. Qianshanyang (钱山漾) Wuxing (吴兴) Zhejiang, Liangzhu


2750±105 B.C.; 3300±105 B.C.


14. Huanglianshu (黄楝树) Xichuan (淅川) Henan Qujialing (屈家岭)


2270±95 B.C.; 2720±95 B.C.


Niên đại C-14 của di chỉ Hemudu là 7000 năm cách nay; của di chỉ Shangshan ở hạt Pujiang là 9000-11.000 năm, theo bài báo của giáo sư Zhu. Sự trồng trọt lúa gạo đẩy mạnh văn minh xã hội Trung Hoa cổ. Giáo sư Zhu tổng kết điều này như sau:


Nông nghiệp lúa nước đã thống trị kinh tế xã hội trong thời kỳ văn hóa Songze (嵩泽) vùng hạ lưu sông Dương Tử sau 4000 TCN. Số lượng và chủng loại xương động vật và công cụ săn bắn được khai quật từ các di chỉ đã được giảm rõ rệt trong thời kỳ văn hóa Songze. Điều này cho thấy, phương thức kinh tế săn bắn và hái lượm giảm thiểu, việc sản xuất lương thực, chủ yếu là gạo, rõ ràng bùng nổ.


Những xương hàm dưới của heo nhà được sử dụng trong đám ma cho thấy việc chăn nuôi gia súc có tiến triển. Sự hình thành ngành trồng lúa nước với tư cách nông nghiệp cơ bản thành thục trong thời kỳ văn hóa Liangzhu tại hạ và trung lưu sông Dương Tử. Zhou Jixu, (sđd. 8): bằng chứng chính là sự xuất hiện của toàn bộ các công cụ canh tác cần thiết cho việc cày cấy, nuôi trồng, và thu hoạch. Việc ủ rượu xuất hiện, việc sinh sản gia súc được tăng cường, và tỉ lệ gia súc được dùng làm thịt gia tăng. Những nghề thủ công trở nên phát đạt. Những trung tâm định cư được khám phá tại di chỉ Mojiaoshan (Mạc Giao Sơn -莫角山), cho thấy sự gia tăng nhân số. Bàn thờ và mộ được xây dựng trong di chỉ Yaoshan (Dao Sơn - 瑶山) và Fanshan (Phản Sơn - 反山). Những hiện tượng này đánh dấu xã hội Trung Hoa đã bước vào nền văn minh dẫn tới những "vương quốc cổ " khoảng 3000-2800 TCN.


Tỷ lệ lúa gạo trồng với tư cách là nông nghiệp chính, từng bước tăng thêm trong thời kỳ văn hóa Daxi (Đại Khê - 大溪) tại vùng trung lưu sông Dương Tử. Những chum vại gốm lớn có thể đã được sử dụng để dự trữ hạt cho thấy sản xuất lương thực đã tăng. Số lượng các làng xóm nhiều thêm, trung tâm định cư cùng với những tường lũy bao quanh được thiết lập vào khoảng 4000 năm TCN.


Từ các công bố trên, chúng ta có thể thấy, đặc điểm nổi bật của văn minh nông nghiệp là, những trung tâm định cư, kèm theo đô thị với thành lũy bao quanh, phát triển gốm sứ và các địa điểm tôn giáo lớn, hình thành khoảng 4000-3000 năm TCN. Nhiều vùng của sông Dương Tử và Hoàng Hà đã tiến tới một nền văn minh nông nghiệp trưởng thành, chậm nhất là vào khoảng 4000 năm TCN.


Những người sống ở lưu vực sông Dương Tử và văn hóa lúa nước từ đâu tới? Sử dụng bằng chứng từ cổ nhân học và di truyền học người, nhiều nhà nhân chủng học và di truyền học chỉ ra những đặc trưng cơ thể của những người cổ sống trong vùng nam sông Dương Tử có mối quan hệ chặt chẽ với nhóm Nam Á và phân biết rõ ràng với những người sống ở khu vực phía bắc sông Dương Tử. Các dữ kiện cho thấy những người cổ xưa sống ở đồng bằng sông Dương Tử đã từ miền Nam châu Á tới. Ngoài ra, bốn mẩu bằng chứng thường hỗ trợ nguồn miền Nam của người Yangshao của G.S Hồ (xem ở trên) cũng có thể được áp dụng ở đây.


II. Sự khởi đầu của văn minh nông nghiệp theo tài liệu lịch sử Trung Quốc.


II.1. Cách tính thời gian lịch sử
Để tính toán các thời đại lịch sử trên cơ sở các sự kiện được ghi trong tài liệu cổ, nghiên cứu này dựa vào hai nguồn: Một là các dữ liệu từ "Dự án Xác định niên đại các triều Hạ, Thương, Chu" do Viện lịch sử thuộc Viện Khoa học Xã hội Trung Quốc thực hiện.


Theo đó, các thời biểu của 3 triều đại sớm nhất của Trung Quốc cổ là: Hạ 2070-1600 TCN, Thương 1600-1046 TCN, Chu 1046-221 TCN. Các nguồn khác là phả hệ của những vua cổ xưa trên lưu vực Hoàng Hà trước thời Hạ, như ghi nhận của Wudi Benji "Những biên niên cơ bản của Ngũ Đế trong Sử ký của Tư Mã Thiên.” (Sđd9)


Theo quan điểm của Tư Mã Thiên, khó mà biết về thời gian sớm hơn Ngũ Đế, nhưng thời kỳ từ Ngũ Đế về sau có thể được xác định. Trình tự tính theo "Những biên niên cơ bản của Ngũ Đế" trước nhà Hạ như sau: (sáu người cai trị trong chín thế hệ)


Phả hệ của các Hoàng Đế (theo Sử ký).


(phần này không dịch)


II.2. Sự bắt đầu của lĩnh vực nông nghiệp, như được ghi trong thư tịch cổ Trung Hoa.


Những văn minh tiền sử thuộc triều đại Hạ, Thương, Chu xuất hiện trong thung lũng Hoàng Hà, đặc biệt là văn minh của triều đại Chu, không nghi ngờ là dựa vào nông nghiệp ngũ cốc. Sự giàu có dư thừa cung cấp bởi sản xuất nông nghiệp tạo cho dân tộc Trung Hoa một sự tiến bộ lớn trong phát triển văn hóa.


Tại sao bộ lạc Chu có thể lớn lên nhiều hơn những bộ lạc khác và để trở nên người cai trị vùng Hoàng Hà và sau đó là Dương Tử? Quyết định quan trọng nhất trong sự tiến bộ khác nhau của họ là bỏ cuộc sống du cư, chọn và dính chặt vào cuộc sống nông nghiệp.


III. Giải thích sự chênh lệch giữa khám phá khảo cổ và các tài liệu lịch sử


Như thảo luận trong phần đầu của nghiên cứu này, sự phát triển của nền văn minh nông nghiệp trong các thung lũng sông Hoàng Hà đã diễn ra 5000 năm TCN hoặc sớm hơn. Các tài liệu khảo cổ cho thấy việc trồng kê là rất quan trọng trong khu vực Hoàng Hà 5000 TCN. Việc trồng lúa ở trung lưu sông Dương Tử đã được hình thành rất sớm. Sự trưởng thành của nghề trồng lúa theo thời gian có bằng chứng tại di chỉ Giả Hồ (Jiahu), tỉnh Hà Nam 6800 năm TCN, tại di chỉ Hà Mẫu Độ (Hemudu) tỉnh Chiết Giang 5000 năm TCN. Tại sao sự khởi đầu về sản xuất nông nghiệp tại thung lũng Hoàng Hà nêu trong các tài liệu cổ lại muộn hơn nhiều, vào khoảng 2100 năm TCN? Làm thế nào giải thích khoảng cách 3000 năm đó?


Câu trả lời là người dân Chu, những hậu duệ của Hoàng Đế, không phải là những người bản địa sống trên khu vực hoàng thổ Hoàng Hà. Nông nghiệp thời Chu đã được hình thành trên cơ sở tiếp thu nền nông nghiệp truyền thống đã được sáng tạo bởi những người đã sống trong lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử từ xa xưa. Lối sống nông nghiệp của người Chu là kết quả của việc học hỏi từ những người khác. Các bộ lạc của Hoàng Đế (trong đó có bộ lạc Chu) là những cư dân du mục. Khi di cư vào khu vực Hoàng Hà, họ đã chịu ảnh hưởng của lối sống nông nghiệp tiên tiến của người dân bản địa, mặc dù đó là một bước tiến dài từ du mục để chuyển sang lối sống mới. Những thay đổi triệt để từ du mục sang trồng trọt đã thay đổi cuộc sống xã hội Chu.


Khoảng 2300 TCN, quốc gia của Hoàng Đế đã chiến thắng và thống trị các khu vực của sông Hoàng Hà. Đây còn là thời gian sớm nhất mà truyền thuyết, lịch sử Trung Quốc trong các tài liệu cổ xưa ghi lại. Vì vậy, theo các tài liệu sớm nhất ghi lại những thành quả này, Hoàng Đế và các quốc gia hậu thế của ông giữ vai trò hàng đầu.


Từ Thượng Thư, kinh Thi đến Sử ký, tất cả các sách cổ điển đã chính thống hóa Hoàng Đế cùng con cháu ông, trong khi loại trừ các dân tộc khác. Vì vậy, trong các tài liệu cổ xưa, chúng ta chỉ có thể thấy, sản xuất nông nghiệp của Trung Quốc bắt đầu khoảng năm 2100 TCN, dưới thời kỳ Nghiêu, Thuấn, Vũ, những nhà lãnh đạo tuyệt vời của quốc gia Hoàng Đế. Lĩnh vực nông nghiệp được nói đến bắt đầu vào thời Chu. Sự khởi đầu của nông nghiệp bản địa trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử vì vậy bị loại khỏi lịch sử thành văn.


Không giống như các dân cư Ngưỡng Thiều và Hà Mẫu Độ là những người đến từ miền Nam Trung Quốc, dân cư của Hoàng Đế đến từ phía Tây của Trung Quốc, từ phần phía Tây của lục địa Âu-Á. Họ chinh phục người dân của lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử, những người thủ đắc nền văn hóa nông nghiệp phát triển.


Bằng cách kết hợp văn hóa riêng của họ với các yếu tố văn hoá của người bản địa, dân cư của Hoàng Đế từng bước phát triển một nền văn minh rực rỡ mới vào thời Hạ, Thương và Chu. Họ thay thế người dân bản địa nắm giữ vai trò lãnh đạo trên các giai đoạn lịch sử Trung Quốc. Cho rằng dân cư của Hoàng Đế là một chi nhánh của người Ấn –Âu cổ, là một trong những sự kiện đáng kể nhất nay được biết tới trong lịch sử nhân loại.


Một số lượng lớn từ Ấn-Âu trong ngôn ngữ Trung Hoa cổ rõ ràng xác nhận thực tế này. Các di tích còn lại của thời Hoàng Đế có liên quan đến các văn hóa Long Sơn trong bằng chứng khảo cổ học và các nền văn minh của Hạ, Thương, Chu, Tần () là các triều đại kế nghiệp của nó.


Bằng chứng cho tuyên bố này đến từ hai nguồn: đầu tiên sử dụng các bằng chứng về các tài liệu cổ xưa để chứng minh rằng người dân Chu, và là dân cư của Hoàng Đế, đã được khởi đầu từ người du mục, và thứ hai là đã có một số lớn từ Ấn-Âu trong ngôn ngữ thời Chu, dựa theo các bằng chứng ngôn ngữ học lịch sử. Thứ ba là sự tương đồng về tôn giáo giữa dân cư Hoàng Đế và người Tiền Ấn-Âu.


 


IV. Kết luận.


Văn minh Trung Hoa không nảy sinh một cách cô lập trong thời cổ. Các nền văn minh lâu đời nhất trên thế giới, bao gồm Ai Cập, Hy Lạp, Ấn Độ và Anatolian đã không phát triển một cách tách biệt khỏi những văn minh khác. Đó là quy luật chung trong lịch sử con người mà những văn minh khác nhau được phân cực, hỗn hợp và ảnh hưởng lẫn nhau. Bằng chứng ngôn ngữ học lịch sử, khảo cổ cho thấy, văn minh Biển Aege và văn minh Hy Lạp, văn minh Thung lũng Indus và văn minh Ấn Độ cổ, văn minh Hattic và văn minh Hittite đã là những cặp mà cái sau chiến thắng cái trước để tạo dựng văn minh mới của mình. Cũng nên ghi nhận rằng, những kẻ xâm chiếm này đều là người Ấn-Âu tiền sử (khoảng 2000-1200 TCN). Cũng như vậy, văn minh Trung Quốc đã trải qua những xung đột văn hóa trong thời cổ xưa. Những người châu Âu từ thảo nguyên phía tây Trung Á đã mang những thành phần văn hóa mới đến thung lũng Hoàng Hà khoảng 2300 năm TCN. Họ đã kết hợp kỹ thuật tiên tiến của mình, như luyện kim đồng đỏ, những công cụ kim loại, vũ khí, xe ngựa và thuần hóa ngựa, với văn hóa nông nghiệp phát triển bản địa trong lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Sự phối hợp này tạo nên văn minh lộng lẫy của thời Hạ, Thương, Chu. Trái với quan điểm đại chúng cho rằng, "văn minh Hoàng Hà có lịch sử độc lập” nó thực sự là sự hòa hợp.


Ý tưởng rằng nền văn minh Trung Hoa có một lịch sử độc lập đã rất phổ biến, do ảnh hưởng mạnh mẽ, đặc biệt của hệ thống chữ viết Trung Hoa, đã được sử dụng từ triều Thương (1600 năm TCN) cho tới hôm nay. Các ký tự Trung Quốc với tự dạng đặc biệt đã phủ tấm màn gây khó cho việc tìm ra mối quan hệ giữa tiếng Trung Hoa cổ và những ngôn ngữ cổ khác.


Những ký tự vuông cổ xưa dễ khiến người ta có ảo tưởng lầm lẫn rằng ngôn ngữ cổ Trung Hoa ổn định và không thay đổi như là hình vuông. Nếu đúng như vậy, thì chúng ta làm thế nào có thể hiểu được thứ ngôn ngữ lạ lùng này theo phương pháp ngôn ngữ chung? Làm thế nào chúng ta có thể tìm thấy những mối quan hệ của ngôn ngữ Trung Hoa cổ và các ngôn ngữ khác. Thật ra, tiếng Trung Hoa cổ là một trong những ngôn ngữ bình thường của con người giống như những tiếng khác, nếu chúng ta lột bỏ cái áo choàng khoác cho ký tự khỏi ngôn ngữ.


Trong nghiên cứu tiền sử, ngôn ngữ học lịch sử sở hữu một chức năng đặc biệt, mà có thể được dùng để xác định bản chất của một nền văn minh và nguồn gốc dân tộc của nó, dựa vào bằng chứng của ngôn ngữ học. Vì ngôn ngữ là con dấu đặc biệt của mỗi dân tộc, không thể bị mai một qua thời gian.


Những khám phá về các nền văn minh Ấn Độ cổ xưa đến từ người châu Âu đã được minh chứng hoàn toàn bởi ngôn ngữ học lịch sử trong thế kỷ XVIII - XIX. Trong khoảng một trăm năm, các nhà khảo cổ tìm thấy văn minh bản ngữ trước đó, mà văn minh Thung lũng Indus đã hình thành trên nền tảng của nó. Và cùng lúc, sự khảo sát di truyền học chứng tỏ người Ấn Độ chia sẻ nguồn gen với người châu Âu. Sự khám phá của ngôn ngôn ngữ học lịch sử trước đó đã được xác nhận. Vì vậy, ngôn ngữ học lịch sử được tiếng là "khoa học đi trước thời gian." Chúng tôi không thể đánh giá thấp chức năng đặc biệt của ngôn ngữ học lịch sử trong nghiên cứu tiền sử con người, chúng tôi không thể đui mù chống lại những bằng chứng của ngôn ngữ, và chúng tôi không thể phủ nhận ngôn ngữ học lịch sử, như là một khoa học tích cực cho thấy giá trị bao quát của nó trong việc nghiên cứu ngôn ngữ con người, lịch sử, và tiền sử. Ngôn ngữ học lịch sử là một phương pháp khoa học được sử dụng trong nghiên cứu tiền sử toàn thể loài người. Những trường phái lớn của ngôn ngữ học trên thế giới, trong đó có Trung Quốc chia sẻ điều này.


Có quan niệm thịnh hành xem lịch sử của Trung Quốc đã bắt đầu với Hoàng Đế (khoảng 2300 năm TCN), người đánh bại tất cả các kẻ địch của mình và thống trị khu vực Hoàng Hà. Nhưng không nhiều người biết rằng Hoàng Đế và người của ông di cư từ tây lục địa Âu-Á tới và rằng họ và con cháu của họ thực sự có vai trò dẫn đầu trong các giai đoạn lịch sử của thung lũng Hoàng Hà từ khoảng 2300 năm TCN. Lịch sử được ghi trong tài liệu truyền thống mà chỉ duy nhất tính đến việc người của Hoàng Đế đi vào trong thung lũng Hoàng Hà và phát triển văn minh ở đó. Những người đã sống trước đó và tạo dựng nền văn minh tiền sử huy hoàng của hai con sông (Hoàng Hà và Dương Tử) đã bị chìm sâu sau màn sương lịch sử (tham khảo phần I của nghiên cứu này). Họ đã bị loại trừ khỏi sử biên niên truyền thống, trong đó bao gồm hầu như tất cả các sách lịch sử Trung Quốc, từ Thượng Thư, kinh Thi đến Sử ký vv.


Đây là một lịch sử mang xu hướng đảo lộn vị trí giữa chủ và khách. Một trong những lý do cho tình trạng này là sự đàn áp và loại trừ do phe đảng mạnh của Hoàng Đế. Các lý do khác là, trong khi các dân khác đã không sáng chế ra hệ thống chữ viết của mình thì các quốc gia của Hoàng Đế đã làm được; một trong số đó đã được người dân Trung Quốc sử dụng cho đến nay. Những ký tự Trung Hoa cổ được ghi nhận chỉ hình thành và suy thoái trong dân tộc của Hoàng Đế thời cổ. Đó là lý do tại sao có sự chênh lệch lớn giữa các di chỉ khảo cổ khu vực Hoàng Hà, Dương Tử và các hồ sơ lịch sử truyền thống chỉ liên quan đến những ngày đầu của ngành nông nghiệp trong khu vực. Liên quan đến nền văn minh của "Hai sông Đông Á," được tạo ra bởi những người đến trước (xem phần I của nghiên cứu này). Chúng tôi cũng có thể tìm thấy một số đáng kể thông tin từ những văn bản lịch sử mà có thể cùng xác nhận bởi những khám phá của khảo cổ và bằng chứng ngôn ngữ học lịch sử. Sự khác biệt trong lối sống, phong tục, ngôn ngữ giữa các cư dân bản địa và người dân của Hoàng Đế cung cấp cho chúng tôi thêm bằng chứng rằng người dân của Hoàng Đế đã chiếm đoạt một nền văn hóa đang tồn tại. Chúng ta sẽ thảo luận về những vấn đề này sau.


 


Nhận xét của người dịch


1. Về nguồn gốc dân cư Hoàng Đế


Người Hán được cho là hậu duệ của bộ tộc Hoàng Đế. Nếu bộ tộc Hoàng Đế thuộc chủng Ấn – Âu thì người Hán ngày nay mặc nhiên cũng thuộc chủng Ấn-Âu (Indo-Europian). Nhưng như ở trên, chính tác giả dẫn nghiên cứu của nhiều học giả uy tín xác nhận người Hán thuộc chủng Mongoloid phương Nam. Điều này cho thấy tác giả tự mâu thuẫn với mình. Một chủng người, nếu đã là Mongoloid phương Nam thì không thể là Ấn-Âu! Thực tế là, các bộ lạc Hoàng Đế là người Mongoloid phương Bắc đã từng sống lâu đời ở phía Tây Bắc Trung Quốc. Điều này đã được trình bày trong bài “Về nguồn gốc người Hán và sự hình thành nước Tàu” (Hà Văn Thùy- Hành trình tìm lại cội nguồn. NXB Văn học 2008).


2. Về văn hóa Long Sơn


Tác giả cho rằng, người của Hoàng Đế đã tạo nên văn hóa Long Sơn. Đó không phải là sự thật. Long Sơn cũng như Ngưỡng Thiều thuộc về cùng một văn hóa, do giai đoạn sớm của văn hóa Hòa Bình phát triển lên.


3. Về người Ngưỡng Thiều


Dựa trên phát hiện: “Người Ngưỡng Thiều mang đặc tính cơ thể gần nhất với người Trung Hoa hiện đại ở miền Nam Trung Quốc và người Đông Dương hiện đại” rồi cho rằng “Người Ngưỡng Thiều từ Nam Trung Quốc lên” là kết luận không có cơ sở. Thực tế khảo cổ học cho thấy, vào thời kỳ Ngưỡng Thiều, khoảng 7000 năm trước, toàn bộ Á Đông là địa bàn cư trú của người Australoid. Người Trung Hoa hiện đại cũng như người Đông Dương hiện đại chưa ra đời! Sự thực đã trái ngược với suy đoán: không phải người Việt hiện đại sinh ra người Ngưỡng Thiều mà ngược lại, chính người Ngưỡng Thiều sinh ra người Việt hiện đại. Do cuộc xâm lăng của người Mông Cổ, người Ngưỡng Thiều chạy về Việt Nam bằng thuyền và hòa huyết với người Việt cổ sinh ra người Việt hiện đại, chủng Mongoloid phương Nam.


Dù có những điều cần bàn lại như trên thì tài liệu của giáo sư Zhou Jixu vẫn là những tri thức khả tín giúp chúng ta nhìn rõ hơn vào quá trình hình thành văn hóa nông nghiệp ở Trung Quốc: Những người từ Nam Á đi lên đã xây dựng nền văn hóa nông nghiệp trên đất Trung Hoa từ 12000 năm trước, đạt đến sự rực rỡ vào khoảng 7000-5000 năm TCN. Người Hán là hậu duệ của các bộ lạc du mục do Hoàng Đế dẫn đầu vào chiếm đất phía Nam Hoàng Hà, chiếm đoạt văn minh nông nghiệp của người bản địa, dựng lên vương triều Hoàng Đế. Vấn đề đặt ra là người Nam Á ấy là ai? Đó chính là người từ Việt Nam đi lên khoảng 40.000 năm trước. Do sống phân tán trên địa bàn rộng, có hoàn cảnh địa lý khác nhau, đã phân ly thành hơn 20 tộc Việt, được lịch sử gọi là người Bách Việt. Trong công trình của mình, với những cứ liệu khảo cổ học thuyết phục, có thể tác giả chứng minh được rằng Trung Quốc là nơi phát triển nông nghiệp đầu tiên trên thế giới. Luận cứ của tác giả một lần nữa giúp khẳng định, Đông Nam Á là trung tâm của văn minh nhân loại.


Xuân Kỷ Sửu


(còn tiếp)


Nguồn: Tìm cội nguồn qua di truyền học. Khảo luận của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »