tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18449955
Tiểu thuyết
16.03.2017
Hoài Anh
Chim gọi nắng

XI. Ngọc Tốt cúi nhìn xuống bụng mình. Lệnh khởi nghĩa tới rồi mà mình lại đang mang bầu, liệu có thể làm tròn nhiệm vụ được không?


Sau ngày gặp lại Minh Khai, thấy Minh Khai yêu và kết duyên với một đồng chí của mình là anh Lê Hồng Phong, Ngọc Tốt thầm nghĩ mình phải đặt tình cảm vào những người cùng chí hướng thì tình yêu mới mong tốt đẹp. Lấy một người khác chí hướng, lúc yên lành thì không nói làm chi, rủi gặp lúc hiểm nguy trắc trở, mỗi người đi một đường thì... Như vừa rồi Sáu Nhỏ là người mà tổ chức bố trí làm chồng giả của mình, anh ta cũng nhiều lần muốn tỏ tình với mình, nếu mình xiêu lòng nhận anh ta làm chồng thiệt, có phải mang tiếng là vợ một tên phản bội hay không? Không những thân mình lâm nguy mà có khi còn lộ bí mật của Đảng. Sáu Nhỏ lại là kẻ không đứng đắn trong quan hệ nam nữ, nghe trong lúc mình bị tù, Sáu Nhỏ vẫn liên hệ với cơ sở của mình là chị Ngõa. Anh ta lợi dụng tới lui, ăn ở với chị Ngõa có con!


Nếu không phải là đồng chí thì có ai dám dính dấp đến một phụ nữ “làm quốc sự”.


Trong thời gian hoạt động ở Mỹ Tho, Ngọc Tốt gặp một đồng chí là anh Năm Giác. Anh Năm Giác bắt đầu để ý từ khi thấy Ngọc Tốt về, chị tích cực lặn lội công tác lại chịu thương chịu khó trong công việc làm ăn, nên anh ngỏ ý muốn gắn bó với chị. Anh cũng là người Long Hưng, lớn hơn chị sáu tuổi. Sau một cuộc biểu tình chống thuế năm 1930, anh bị bắt đày ra Côn Lôn. Những năm hoạt động, Ngọc Tốt nghe các đồng chí và anh mình thường hay nhắc đến tên anh. Trong làng, anh là một trong những đảng viên đầu tiên. Trước khi vào Đảng, anh còn là người trong nhóm thanh niên “đi làm nghĩa”. Cả gia đình đều là thợ mộc và anh rất giỏi võ. Trong một cuộc đấu tranh đập phá nhà của Hương quản Thiều, Ngọc Tốt có biết anh khi anh chưa bị đày ra Côn Lôn. Những ngày bị giam cầm ở đảo, mỗi khi nhắc về tỉnh nhà anh cũng vẫn thường nghe các đồng chí nói đến tên Ngọc Tốt. Anh về năm 1936, khi phong trào Mặt trận Bình dân lên, cùng một lúc với anh Thái Văn Đẩu, anh Ghè và một số anh em khác.


Anh Thái Văn Đẩu bảo anh Giác và Ngọc Tốt: “Mình là cộng sản, phải làm đám cưới theo lối mới để làm gương cho bà con chứ!”. Và các anh, các đồng chí đứng ra lo tổ chức cho hai người. Lúc này phong trào Đông Dương đại hội đang lên mạnh, anh em ra tù nhiều, nên các đồng chí về dự đông đảo. Các anh làm báo Đảng ở Sài Gòn có cử người về dự. Có cả đại diện báo thường, như Điện Tín, cũng về dự, chụp hình kỷ niệm.


Cưới xong ít lâu, anh Giác lại trở về Bạc Liêu vì anh bị kết tội đày biệt xứ.


Đến năm 1940, anh Giác hết hạn đi đày, trở về Long Hưng. Lúc này địch khủng bố dữ dội, anh Giác và một vài anh em khác vận động, tổ chức đồng bào chống các cuộc ruồng bố bắt người, tổ chức tự vệ vũ trang chống lại địch, bảo toàn lực lượng đảng viên và trấn tĩnh đồng bào...


dù đang mang bầu, Ngọc Tốt vẫn lặn lội ngày đêm, cơ hồ như quên cả mỏi mệt. Truyền đơn của Đảng được chị chuyền từ tay người này sang tay người khác, xóm này sang xóm khác. Những tờ truyền đơn kêu gọi mọi người đoàn kết dưới ngọn cờ Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương kẻ góp công, người góp của, gắng sức phấn đấu chống đế quốc chiến tranh, không đi lính sang Pháp, không đi lính đánh Xiêm, giải phóng các nước Đông Dương thoát khỏi ách đế quốc Pháp, ngăn phát xít Nhật tràn vào. Chỉ có chiến tranh giải phóng dân tộc mới là chiến tranh vì công lý và tự do.


Tháng 7, tháng 8 địch càng khủng bố dữ. Ngày nào cũng có ruồng bắt. Những người trốn lính, quần chúng tốt, tích cực không thể ở địa phương phải chạy theo cách mệnh. Ta phải đưa họ vào Tân Lập, sau đó người đông quá lại phải đưa họ vào rừng Ba U ở. Tỉnh ủy quyết định lấy rừng Ba U làm khu căn cứ. Có một số đồng chí rất nôn nóng. Bọn chó săn đã đánh hơi thấy ta sắp rục rịch nổi dậy. Tình hình này, nếu không khởi nghĩa thì chúng nó bắt hết! Nhưng khi thỉnh thị Xứ ủy thì Xứ ủy bảo phải chờ mệnh lệnh thống nhất, tất cả các tỉnh cùng nổi lên một lúc, cùng ngày cùng giờ, nếu bạo động lẻ tẻ thì chúng nó sẽ dập tắt hết.


Giữa lúc đảng viên và quần chúng đang sôi sục muốn vũ trang khởi nghĩa thì lúc mười một giờ đêm ngày 22-11-1940 anh Trọng Bé từ Sài Gòn về đến báo tin: “Xứ ủy đã cho lệnh khởi nghĩa”. Tất cả anh em đang vây quanh anh mừng rỡ nhảy lên, hò hét, ôm nhau đấm vào lưng nhau thùm thụp. Anh hồ hởi nói tiếp: “Lệnh cho biết đêm nay, 22 tháng 11 và rạng ngày 23, cùng một lúc các nơi phải đánh chiếm các đồn. Giờ này, Sài Gòn sắp khởi nghĩa rồi”.


Kế hoạch tuy đã có dự tính trước, nhưng ai ai cũng rạo rực, muốn nghe lại sự phân công, xem có điều chỉnh gì chăng? Vài tiếng đồng hồ sau, toàn bộ lực lượng phân bố đã sắp xếp xong, quyết định đồn nào ai đánh và ai chỉ huy. Huyện nào, xã nào đã phân công thì ai về ngay địa phương ấy. Rừng Ba U là trụ sở của các đồng chí lãnh đạo, có gì thì liên lạc về đây. Ngọc Tốt được phân công trong Ban chỉ huy theo dõi cánh quân đánh đồn Tam Hiệp, vì đó là địa điểm gần nhất và chị đang có bầu. Thời gian qua Ngọc Tốt có hoạt động bí mật, có vào tù, biểu tình đấu tranh, nhưng chị có ra trận bao giờ đâu. Chị vừa khấp khởi mà cũng vừa hồi hộp.


Ngay trong đêm đó, tất cả đều tỏa ra, gấp rút boong về các địa phương. Chỉ còn những anh em nào sáng mai đánh đồn Tam Hiệp thì ở lại chờ sáng kéo đi, và một số đồng chí ở lại theo dõi chuyển biến của tình hình.


Từ đó đến sáng không ai ngủ được. Mọi người cứ bảo nhau: “Chợp mắt một chút để lấy sức sáng mai xuất quân!”. Nhưng ai mà nằm được. Dao mác, mã tấu đã mài sắc rồi, lại mang ra mài lại... Bếp lớn bếp nhỏ đều đỏ lửa. Chỗ nấu nước uống trà, chỗ nấu cơm, kho mắm. Ánh lửa nhảy nhót và bóng người di động xôn xao, tới tới lui lui, bàn tán dặn dò: “Nói thế chứ ai cũng vội vàng nôn nao, ăn qua quýt cho xong. Trời vừa đâm mây ngang thì “cánh quân” đánh đồn Tam Hiệp xuất phát.


Trống mõ nổi lên đều khắp. Thùng thùng trống đánh ngũ liên. Tiếng mõ cum... cum... vang dội, chọc thủng làn sương trắng mờ mịt, lay động khắp xóm gần làng xa. Người ùn ùn đi tới. Chỉ thấy đầu người đen kịt, nhấp nhô những ngọn giáo mác, tua tủa đầu nhọn gậy gộc. Và cờ bay. Cờ đỏ búa liềm, cờ đỏ sao vàng reo bay phần phật, bờ tre túa ra nhập theo. Một ông già thét con gái: “Tư! Tư! Dao xắt chuối đâu? Đưa cho tao ra chợ Bưng chặt đầu bọn làng lính!”. Một đồng chí nào đó cất tiếng hát: “Cùng nhau đi Hồng binh, Liều thân ta vì nước... Ta quyết tiến lên nào!...”như nhịp đệm cho một điệp khúc hào hùng, ào ạt không còn biết bắt đầu và kết thúc lúc nào. Chiêng trống đình chùa, phèng la mâm thau thùng thiếc, tứ phía gióng lên. Loa kêu gọi đồng bào đứng lên khởi nghĩa cướp chính quyền vang vang. Chân người rầm rập, rầm rập. Rung chuyển từ mặt đất dường như làm xôn xao rung chuyển cả bầu trời...


Ngọc Tốt như quên hẳn mình đang có bầu sắp sanh. Pháo tre nổ đùng đùng, mùi khói pháo kích thích như mùi khói súng thúc giục xông tới. Tóc bới cao, quần xắn đến gối, chị thắt chặt bụng bầu bằng chiếc khăn rằn, khi lên trước, khi chạy ngược trở lại sau nhắc nhở anh em chỉnh tề đội ngũ mà người cứ nhẹ tênh tưởng như mình đang còn con gái.


Đàng trước có tiếng hát, chị hòa giọng hát theo: “Nhà máy hãy dấy lên! Ta cùng nắm lấy tay nhau. Cùng ra cướp lấy chính quyền. Ta là người cầm đầu, lấy súng nhằm quân thù. Ta lãnh vai quân chỉ đạo”...


Ầm ầm trống giục và tiếng pháo nổ, tiếng reo hò. Tiến lên! Khẩu hiệu không ngớt la, như thác nguồn đổ xuống. Chị chớp mắt nhìn theo lá cờ thắm đỏ màu máu của biết bao đồng bào đồng chí. Trong thoáng chốc bồi hồi gai ốc nổi khắp người. Như thấy có hồn tiền nhân tiên liệt bay theo màu đỏ của lá cờ. Trên đầu chị một tấm băng vải đỏ, chữ trắng: “Khởi nghĩa tiến tới thành lập chính quyền công nông cách mạng” giương cao đang lừ lừ tiến tới.


- Tiến lên! - Ngọc Tốt ngửa mặt nhìn lên, thét to.


“Tiến! Tiến!” tiếng đáp dậy theo, rền rền như tiếng sấm. Chị không còn biết cánh quân mình bây giờ đã lên đến bao nhiêu. Dòng thác phẫn nộ ào ào tiến tới, tỏa ra đen nghịt bao vây đồn Tam Hiệp. Loa vừa lên tiếng: “A lô! A lô!” thì súng từ trong đồn đã bắn ra.


- Ta chết mất rồi! - Một vài người kêu lên:


- Cứ nhào vô! Cứ nhào vô! - Tất cả gào lên:


- Thêm một bị thương rồi! - Lại có tiếng kêu:


- Bị một chục cũng nhào vô! - Ngọc Tốt thét lên, tự chị xung phong vào trước. Đoàn quân nông dân bất chấp súng nổ, đạn vèo, hò reo xông tới. “Tiến lên! Tiến lên!” Những người ở xa chưa kịp xông tới đồn thì từ trong đồn, một lá cờ trắng buộc vội bằng chiếc chăn bông trên đầu ngọn sào run rẩy thò lên...


Từ sáng đến 12 giờ trưa, lực lượng khởi nghĩa đã hạ xong các đồn Tam Hiệp, Thạnh Phú, Chợ Giữa, Phước Thạnh, Cầu Đúc... Các trụ sở, nhà việc trong tỉnh ta đều hạ tất - trừ tỉnh lỵ và các huyện lỵ. Ta vừa tiêu diệt vừa bức rút thêm các đồn Tân Hiệp, Phú Mỹ, Kinh Xáng, Kim Sơn, Ba Dừa, Bình Đức... Đồn lớn mươi khẩu, các đồn nhỏ chỉ năm ba khẩu kể cả súng trường và súng hai nòng. Nơi nào ta chưa đến được, sẽ tính sau. Hễ hạ xong đồn, tức khắc bọn tề sẽ chạy. Cũng có nhiều nơi ta chưa đến, bọn tề đã cuốn gói chạy về tỉnh lỵ rồi.


Khoảng 12 giờ trưa, các mũi tiến công kéo trở về miếu Long Hưng thành lập chánh quyền công nông cách mệnh của tỉnh. “Cánh quân” Long Hưng khi xuất phát một ngàn, lúc kéo về thành hai ngàn. Ngôi miếu thượng cờ búa liềm cờ đỏ sao vàng trở thành Tổng hành dinh cách mệnh tỉnh Mỹ Tho.


Anh Giác vừa đi tới, tươi cười nói với Ngọc Tốt:


- Em à, bữa nay vui quá hén! Còn vui hơn cả hôm cưới tụi mình nữa đó!


Ngọc Tốt xúc động:


- Sao giờ phút này em thấy nhớ các đồng chí mình trong tù quá anh à! Phen này, Sài Gòn khởi nghĩa, nhứt định sẽ phá banh Khám lớn cứu các đồng chí thoát ra cả anh Lê Hồng Phong và chị Năm Bắc nữa.... - Bỗng Ngọc Tốt lắng tai nghe rồi kêu lên - Ủa, sao vẫn có tiếng hóet... hóet còi xe lửa ở phía ga Trung Lương như vầy? Vậy là Sài Gòn ta chưa chiếm được à? Theo kế hoạch thì đúng 12 giờ đêm, lính tập sẽ cướp đồn Ô-ma, phá Khám lớn thả tù chính trị, cướp nhà đèn, chiếm đường xe lửa... Lực lượng Sài Gòn sẽ dùng xe lửa xuống lấy tỉnh Mỹ Tho, phá khám Mỹ Tho kia mà?


Anh Giác bình tĩnh:


- Chắc là có nguyên nhân gì đây? Nhưng làm cách mệnh là phải chấp nhận hy sinh. Dẫu có hiểm nguy trắc trở đến chừng nào, chúng ta cũng phải gắng sức vượt qua em à! Giữa lúc khí thế quần chúng ở đây đang lên mà mình chùn bước thì càng có hại cho cách mệnh...


Ngọc Tốt nhìn anh bằng đôi mắt đầy thương mến và tin tưởng.


Lúc này bọn Pháp đã cấu kết với phát xít Nhật, sử dụng máy bay và bom đạn Nhật mở đầu khủng bố bằng bom và bắn phá khắp các vùng căn cứ của ta. Ở Chợ Giữa (Vĩnh Kim) chúng đã ném bom sát hại một lúc gần bảy mươi đồng bào ta. Kế đến lính càn quét. Bọn lính Lê Dương mũ đỏ, lính Cao Miên kéo đến đâu đốt nhà đến đấy, cướp của, hiếp dâm, giết người vô tội vạ. Nhiều người bị đốt nhà, bị đánh chết, treo cổ tại chỗ.


Trước tình hình này, Đảng chủ trương rút để bảo toàn lực lượng. Súng vừa lấy được, phải cho chôn giấu hết, nhất thiết không để lọt vào tay địch. Cán bộ chỉ huy sẽ phân tán nhỏ. Mỗi người tùy theo điều kiện và hoàn cảnh mà tự lo phân tán. Dù ở đâu, làm gì, cũng phải sẵn sàng chờ lệnh mới. Tỉnh ủy tạm thời rút vào bí mật.


Lúc bấy giờ Ngọc Tốt sắp đến ngày sanh. Anh Năm Giác lại đang đi chỉ đạo phong trào ở xa. Để chị sanh tại đây thế nào cũng sa vào tay giặc. Chị Tám Thẩm, một đảng viên trẻ, nhận lời đưa chị Ngọc Tốt về ở nhà cô ruột là bà Tám ở Bến Tre.


Bà Tám và chị Thẩm đưa Ngọc Tốt đến một nhà hộ sinh tư, tại chợ Sóc Sải. Một gian nhà lá có hơn mười chiếc giường, đều có người nằm. May quá, một bà vừa bồng con ra khi mấy người vừa đến.


Trước ngày sanh, Ngọc Tốt không dám ra vào lấy cớ mệt chỉ nằm đắp mền, đọc truyện, sợ có người quen gặp, lỡ ra họ biết chị là ai. Mắt nhìn vào trang sách, nhưng tâm trí chị vẫn để về phía Long Hưng. Nhớ chồng, nhớ con, thương anh em đồng chí, xóm làng không biết ra sao. Nhiều lúc muốn không nghĩ ngợi, ảnh hưởng đến cái thai sắp ra đời, chị dồn hết cả ý nghĩ và trang sách, những lúc ấy thì dường như cái nhớ lặng lẽ lùi ra đứng bên cạnh. Nó chờ lúc chị buông sách, tức thời nhào đến, níu chặt lấy đầu óc và bàn tay mềm mại, dịu dàng - mà cũng lạnh ngắt như băng của nó luồn vào ngực, bóp chặt lấy tim chị. Hạnh phúc nào mà không trải qua nước mắt và đau khổ! Chị tự an ủi vậy và cố vượt ra khỏi tâm trạng yếu hèn dễ có của những con người thường không tự chủ được mình khi lâm hoạn nạn, ốm đau. Chị thầm nghĩ trước đây chị Minh Khai còn phải sanh nở ở giữa hang ổ của giặc, có thể bị bắt bất cứ lúc nào mà còn bình tĩnh chịu đựng được, huống hồ mình ở giữa lòng cơ sở, quần chúng cách mệnh trong khu vực an toàn, giặc chưa hề đụng tới.


Năm ngày sau thì Ngọc Tốt trở dạ. Cô mụ Linh - chủ nhà bảo sanh - đỡ đẻ cho chị. Chị có hơi lo. Vất vả gian nan, trượt cầu té mương, nhiều lo nghĩ... Không biết cháu bé có làm sao không. Bỗng nghe tiếng Thẩm ngồi dưới chân chị, reo lên:


- Xổ rồi! Xổ rồi! Ý hí... Con trai!


Sao không nghe nó khóc? Hay thằng bé đã mệnh hệ gì? Cô mụ vỗ bép vào đít nó một cái, tiếng oa oa bật khóc vang lên. Thẩm lại liến thoắng:


- Mèn ơi! Giống tía nó như khuôn đúc. Lành lặn đều trơn. Ông tướng này lớn lên rồi cũng oanh liệt như cha nó... Cũng... cũng là một ông Cò tàu oanh liệt đây!


Không biết vui hay buồn mà tự nhiên nước mắt Ngọc Tốt ứa ra. Giờ phút này chị thấy nhớ chồng không sao tả được.


Cô mụ Lành người tốt bụng, vui tính vừa sanh được đứa con gái trước chị hai tháng. Người đẫy đà khỏe mạnh, hai bầu sữa to tướng của cô có thể cho vài ba cháu nhỏ bú cũng không hết.


- Chồng tôi đi Cò tàu, chở lính qua Xiêm, không biết rủi may thế nào mà mấy tháng nay chưa về. Tôi làm thợ may, không dám cho con bú, để còn đi làm ăn. - Chị nói dối như vậy và nhờ cô cho cháu bú giùm.


- Tôi cũng người gốc ở Cái Nứa. Nhứt gái lớn hai, nhì trai lớn một. Con Ngọc Anh của tôi lớn hơn thằng này hai tháng. Nữa chúng ta làm sui với nhau đi!


Cháu bé gặp vú tớp ngay. Trước khi đó chị đã nằm suy tính, nếu cho con bú thì mình có sữa, khi đi không còn cho bú, sẽ bị căng sữa hành nóng lạnh. May mà “qua biển” cũng thuận buồm xuôi gió. Chị em cùng nằm nhà bảo sanh thấy chị sanh nở có một mình đâm thương hại, hay hỏi thăm về người chồng “đưa lính qua Xiêm” của chị. Đối với chị, họ còn có phần nể trọng, bởi ngỡ chị là vợ một công chức.


Sau đó tám ngày, cháu bé cũng khỏe. Chị đang nghĩ vài hôm nữa sẽ gởi cháu về nhà bà nội nó, mướn người nuôi, thì có chị Mười Huề người nhà chị Tám Thẩm sang thăm chị. Chị Mười Huề và Tám Thẩm thầm thì gì đó bên ngoài rất lâu. Khi chị Mười Huề vào ngồi cạnh giường Ngọc Tốt bế cháu, chị hỏi thăm tình hình ở nhà các anh thế nào, Mười Huề đáp qua loa rằng cũng làng lính ruồng bố đốt nhà vậy thôi. Ngọc Tốt không tin. Chờ Mười Huề đi ra ngoài, chị nghiêm mặt hỏi Thẩm:


- Chị Mười nói gì với em vậy?


Tám Thẩm nhìn chị dường như đo lường thái độ chị coi có chịu đựng nổi khi nghe tin dữ này không, rồi thở dài lắc đầu:


- Chị Mười Huề dặn em: “Tôi báo cho thím biết, thím đừng báo với cô Mười. Đàn bà sanh nở như con cua đang lột...!” Em nghĩ trước sau gì rồi chị cũng biết...


- Thì cứ nói đi. Anh Giác thế nào? Ngọc Tốt hỏi dồn.


Thẩm lại nhìn Ngọc Tốt. Chị chờ nghe Thẩm nói: “Ảnh có làm sao đâu!” nhưng Thẩm cúi mặt xuống, giọng nghèn nghẹn:


- Lê Dương ruồng bắt... Năm bảy trăm thằng móc tay nhau càn ruộng lúa, đến vây Gò Me. Các anh Năm Giác, Bảy Ghè, Bảy Quới, anh Huân chống lại, rồi tự sát. Coi như chết hết rồi!


Ngọc Tốt nén thở để chống lại giây phút xúc động mạnh đột ngột. Dù vậy, người chị cũng cứ gần như lặng đi, phải đưa tay vịn vào vai Thẩm. Nhưng rồi chị cũng lấy lại được bình tĩnh. Chị nghĩ ngay: Mình mới sanh nở, phải giữ vững tinh thần tỉnh táo và bảo toàn sức khỏe, như khi hoạt động, đi làm cách mệnh. Lộ ra cũng không giải quyết được gì, chỉ càng gây khó khăn nguy hiểm hơn thôi.


Ngọc Tốt gọi Mười Huề ra hè, hỏi thêm:


- Bao nhiêu người chết? Tôi biết chuyện ấy rồi, đừng giấu tôi.


Mười Huề cau mày:


- Bảy Quới chặt cho mỗi người một nhát rồi tự mổ bụng. Gấp quá tự sát không kịp... Nhưng mà, chắc chưa chết đâu. Chúng nó băng bó, khiêng đi...


Mười Huề trở lại Long Hưng. Dường như Ngọc Tốt đã gởi một mảnh hồn mình theo chị. “Chị ơi, chị còn gieo chút hy vọng cuối cùng để an ủi tôi làm gì. Bề gì ảnh cũng chết rồi mà!” Nắng xuyên vào cửa sổ, lay động vách mùng. Một tia nắng chiếu vào bên cạnh, chỗ thằng bé nằm. Nó đang thiêm thiếp ngủ, động đậy hai cánh mũi bé tí xíu. Lần nào nó ngủ, chị cũng vạch từng ngón tay ngón chân coi có tật nguyền gì không. Ngón tay nó hơi thô và dài, giống ngón tay ba nó như đúc. Chị đã đặt tên nó là thằng Quang. Ước ao sao cho đời nó sau này thoát khỏi cảnh tăm tối, gian lao như cha mẹ nó giờ đây!


Hôm sau Tám Thẩm nói với Ngọc Tốt:


- Tối qua em đi coi hát bội, thấy có mấy thằng lính kín trà trộn vào đám người coi hát. Tụi này ở Mỹ Tho sang, em biết mặt chúng nó. Nghe bà con nói, chúng nó còn rều rễu vào trường gà mấy bữa trước. Mình phải hết sức cẩn thận.


Để con bên cạnh thì không được. Phải tìm cách nào đưa con đi, rồi mình ở đây đôi tháng, mạnh khỏe, cứng cáp sẽ đi sau. Chị và Tám Thẩm bàn nhau như vậy. Tám Thẩm chuẩn bị mua một hộp sữa, núm vú pha bình sữa đủ ăn một ngày cho thằng Quang. Sau khi cháu bú no rồi, quấn tã lót khăn bông kỹ càng, Tám Thẩm bồng nó đi. Chiếc xe ngựa thuê bao lăn bánh, móng ngựa khua lốc cốc khuất dần trong bụi nắng. Ôi, thằng nhỏ mới sanh có tám ngày. Chị đờ đẫn trở vào, thấy còn quên nửa hộp sữa bỏ lại trên đầu giường, cả Tám Thẩm và chị vì vội vàng không chú ý. Chị cầm lon sữa trên tay, bấy giờ nước mắt mới tuôn xuống, không sao cầm giữ được. Hình ảnh Minh Khai hiện lên đã giúp cho chị đứng vững.




Đang buồn rầu bỗng trước mắt chị hiện lên nét mặt cương nghị của chồng, chị nhớ lại buổi đầu khởi nghĩa, anh đã nói với chị: “Làm cách mệnh là phải chấp nhận hy sinh. Dầu có hiểm nguy trắc trở đến chừng nào, chúng ta cũng phải gắng sức vượt qua”... Chị tự trách mình đã mềm yếu, không xứng đáng với anh. Chỉ có tiếp tục đi theo con đường của anh, phấn đấu đến bao giờ cách mệnh thành công thì sự hy sinh của mới không phải là vô ích...


Lúc này Ngọc Tốt lại nghĩ đến cặp Lê Hồng Phong - Nguyễn Thị Minh Khai. Thật hiếm có trường hợp hai người vừa là người yêu, vừa là vợ chồng lại vừa là đồng chí. Cái riêng hòa hợp trong cái chung mới tuyệt vời làm sao! Đúng là kiểu tình yêu lý tưởng của thời nay, thời mà đất nước còn ở trong tay kẻ thù xâm lược. Tình yêu ấy còn mạnh hơn cả ngục tù và máy chém, vượt lên đầu cái chết.


Mấy bữa sau, Ngọc Tốt giả làm người buôn trầu, xuống ghe về Bạc Liêu để tránh tai mắt giặc, chờ thời cơ nổi dậy. Ngồi trong khoang ghe, chị nhẩm lại mấy câu thơ chị làm khi ẩn náu ở giữa rừng Ba U, nhớ đứa con đầu lòng chị gởi cho bên nội nó ở Long Hưng:


Đêm nay rồi lánh về đâu?


Gò xa cỏ lấp, bưng sâu nước tràn.


Sao mờ lấp lánh bìa hoang,


Khó khăn chưa gặp, gian nan chưa từng.


Trời mưa trắng đất Long Hưng,


Nhớ thương con trẻ rưng rưng tấc lòng...



(còn tiếp)


Nguồn: Chim gọi nắng. Quyển 16 trong Tuyển tập Truyện lịch sử của Hoài Anh. Nhà văn Triệu Xuân sưu tầm, tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 24.03.2017
Huế ngày ấy - Lê Khánh Căn 23.03.2017
Đám cưới không có giấy giá thú - Ma Văn Kháng 20.03.2017
Chim gọi nắng - Hoài Anh 16.03.2017
Hòn đất - Anh Đức 14.03.2017
Một chuyện chép ở bệnh viện - Anh Đức 14.03.2017
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 09.03.2017
Bố già (The Godfather) - Mario Gianluigi Puzo 09.03.2017
Mẫn và tôi - Phan Tứ 09.03.2017
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.02.2017
xem thêm »