tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18964961
09.12.2008
Nhiều tác giả
Trương Đăng Quế Cuộc đời và sự nghiệp (8)

Trương Đăng Quế có bài thơ tổng kết đợt công tác này


GHI CHÉP TRÊN ĐƯỜNG CÔNG CÁN


Cuối năm lệnh đi bắc,


Gió bấc thổi càng rét,


Chí trai nào sá gì!


Buông bút khoác nhung y.


Thư sinh chưa trận mạc,


Song từng quan nhà binh,


Mưu chước trong chinh chiến,


Thuật Tôn Ngô phải tinh.


Tướng sĩ ta dũng tiến,


Giặc cỏ chạy trốn tất,


Cơ bản việc đã xong,


Công bố chuyện được mất.


Thổ dân ai chưa hiểu,


Đầu phạm chưa bị gông,


Dùng kế vây chặt núi,


Thử hỏi thoát được không?


Phải tính kế lâu dài


Vừa chống lại vừa xây,


Nên mở đường nhân đạo,


Vỗ về dân ở đây.


Trong vòng có mươi hôm,


Lần lượt giặc ra hàng,


Hung hăng rồi cũng tỉnh,


Một sớm dẹp sạch xong.


Cấm tuyệt lính tham tàn,


Tránh làm khổ nhân dân,


Nhớ lúc ta vừa đến,


Kể sao xiết gian nan,


Đường quanh co, sông suối


Dốc núi chót vót cao.


Nắng mưa mái lá rừng,


Không một chỗ nằm ngủ


Bốn bên núi đựng đứng


Cây cối dàn kín bưng


Chướng khí tỏa ngùn ngụt


Có khi nắng vừa lên


Hốt nhiên nổi mưa gió


Trời tối đen như mực


Suốt đêm tiếng điêu đẩu


Đốm lửa hồng lưa thưa


Ba tháng ròng từng trải


Tóc tai mọc bờm xờm


Thánh triều uy đức khắp


Tận xóm làng hoang vu


Khải hoàn ta rửa giáp,


Cầm bút ghi sự thực.


Thơ Trương Đăng Quế, tr.495-497


Nói tóm lại, nhiêu người Mường – Thái mạn Ninh Bình, Thanh Hóa đã suy tôn Lê Duy Hiển làm minh chúa, để nổi loạn chống lại nhà Nguyễn. Sự nổi loạn này kéo dài đến bảy tám tháng, triều đình đã phải huy động quân dân 8 tỉnh và 6 viên danh tướng đánh dẹp mới xong, mà trong đó Trương Đăng Quế đóng vai trò dẹp giặc, an dân quan trọng hơn hết.


Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục, tr. 544


5. TRƯƠNG ĐĂNG QUẾ VỚI SÁCH LƯỢC CHỐNG PHÁP


Trước khi chiến tranh xâm lược Việt Nam, nước Pháp đã là một trong 4 nước hàng đầu của châu Âu nói riêng và của thế giới nói chung. Các cuộc cách mạng tư sản đã nổ ra ở nước Anh và nước Pháp từ nửa cuối thế kỷ XVIII. Trước đó, ở châu Âu cách mạng khoa học công nghệ và khoa học xã hội đã làm cho nền kinh tế châu Âu phát triển tốc độ nhanh.


“Từ năm 1849, kỹ sư công binh Pháp đã phát kiến và chế tạo được nòng pháo có đường khương tuyến, xoáy nòng làm tăng độ chính xác và sức mạnh lên gấp bội. Họ liên tục cải tiến để đến năm 1861, Đô đốc Charner trong trận đánh chiếm thành Chí Hòa đã dùng loại pháo bắn ra những viên đạn 4kg, tầm 3.200m, độ chính xác tuyệt đối”. (Thái Hồng, Nguyễn Tri Phương, NXB Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Tr.107)


Pháp còn có những tàu chiến ba buồm trang bị hơn 30 khẩu pháo mỗi tàu. Đến năm 1849, quân đội Pháp đã có chiến hạm chạy bằng hơi nước và buồm, trang bị 100 khẩu pháo mỗi tàu.


Trước năm 1857, quân đội Pháp ráo riết cải tiến súng trường cá nhân, đã có loại súng tầm bắn hiệu lực 1.200m, tốc độ bắn nhanh mỗi phút một viên, cho phép bắn chính xác từng mục tiêu. Việc cải tiến súng cá nhân đã làm tăng hỏa lực lên gấp 10 lần.


Trong chiến tranh, pháo binh và súng cá nhân dần dần trở thành sức mạnh chủ yếu quyết định chiến thắng. Chính Napoléon I nói:


“Ngày nay các trận đánh được quyết định bằng hỏa lực chứ không phải bằng xung lực”.


Hỏa lực là vũ khí gồm pháo binh và súng cá nhân (theo Thái Hồng, sđd, tr.107)


Năm 1858, liên quân Pháp – Y Pha Nho đánh vào Đà Nẵng, rồi đánh vào Gia Định thì hải quân Pháp có hỏa lực vượt trội quân ta.


Trong tấn công chiến thuật cũng đã thay đổi, đội hình mật tập đông quân không còn hiệu lực và trong phòng ngự, trận địa đơn tuyến không còn thích hợp nữa. Với tàu chạy bằng máy hơi nước linh hoạt và đồ sộ, với hỏa lực vượt trội, người châu Âu không cần đông người vẫn đủ khả năng phát động chiến tranh khắp thế giới. Tại các châu lục, đội quân bách chiến bách thắng ấy mang nỗi bức xúc nguyên liệu và thị trường của nền kinh tế công nghiệp đang phát triển của họ. Hoàn toàn không phải như thời kỳ Gia Long mới lên ngôi, quân Pháp bây giờ đã mạnh lên gấp bội, trong khi quân đội các nước châu Á gần như không được cải tiến gì trong xã hội phong kiến nông nghiệp.


Đối đầu với đội quân Pháp như vậy, đòi hỏi phải bằng quyết sách đúng đắn và táo bạo. Người Nhật chấp nhận thua sút, chủ động cầu hòa để học hỏi cái mạnh của kẻ thù mà mình còn yếu. Còn nhiều dân tộc khác thì không như vậy, triều đình xử lý thiếu dứt khoát, chiến không ra chiến, hòa không ra hòa.


Vì sao vậy? GS Trần Văn Giàu cho rằng vì triều đình thiếu thông tin về tình hình địch. Lúc Pháp bị bấn loạn ở Tàu, ở Trung Mỹ, nhỏ giọng ngoại giao để quân ta đừng đánh. Đúng khi ấy, ta có cơ may duy nhất đánh đuổi chúng thì ta không nắm rõ tình hình địch, nên không đánh, bỏ mất cơ hội sẽ không bao giờ có lại lần thứ hai.


Năm Pháp tấn công Đà Nẵng, thì Trương Đăng Quế đã sắp sửa bước vào tuổi xưa nay hiếm. Từ đấy cho đến khi ông qua đời chỉ còn vỏn vẹn 7 năm. Người ta muốn biết Trương Đăng Quế đóng vai trò như thế nào trong sự kiện lịch sử bi thảm này, nhưng thực tế là ông đã là ông lão 67 tuổi rồi và từ năm 1855, Trương Đăng Quế đã không còn giữ chức Thượng thư bộ Binh nữa để có thể có thẩm quyền đề ra quyết sách chiến hay hòa.


Đa số các nhà nghiên cứu cho là ông chủ chiến. Họ chứng minh rằng:


Năm 1847, Thiệu Trị năm thứ 7, vua đương triều hỏi đại thần viện Cơ Mật Trương Đăng Quế rằng:


“Thuyền Tây dương đến đây chỉ cần có hai việc là bỏ cấm đạo Gia tô và thông thương mà thôi. Thông thương thì được, bỏ cấm đạo có được không?”.


Trương Đăng Quế tâu:


“Chúng đã sinh chuyện ra trước, không thể lại mong khoan điển”.


Đại Nam thực lục, tập 6, tr. 985


Tháng hai, năm 1859, Tự Đức năm thứ 12, Trương Đăng Quế đem việc Võ Duy Ninh chết vì việc nước tâu lên. Trước đó, Võ Duy Ninh làm chức Hộ đốc thành Gia Định, tháng giêng năm 1859, lính Pháp đánh phá các đồn, đồn Lương Thiện thuộc tỉnh Biên Hòa, đồn Phương Vĩnh, đồn Danh Nghĩa thuộc tỉnh Gia Định, vào cửa Cần Giờ chặn sông Phu Giang thuộc tỉnh Biên Hòa, đánh phá đồn Bình Khánh, đồn Phú Mỹ, đồn Hữu Bình thuộc tỉnh Gia Định. Sông Đồng Nai to rộng, tàu chiến của Pháp chạy giữa sông, quân ta chỉ có súng tầm ngắn làm sao có thể ngăn được giặc, nên Pháp có thể đổ bộ lên bất cứ chỗ nào. Quân Pháp tấn công các đồn ngoại vi để bức thành Gia Định, các đồn này đều thất thủ. Hộ đốc Võ Duy Ninh chạy giấy các tỉnh kêu gọi hội binh cứu thành Gia Định. Rồi Võ Duy Ninh tự tử.


Nguyễn Thiệu Lâu, Quốc sử tạp lục, tr. 563-564


Vua Tự Đức sắc chỉ cho tìm xác tạm chôn, đợi khi xong việc thì chở thuyền về nguyên quán chôn.


Đại Nam thực lục, tập 7, Tr. 597


Tháng 5, năm 1859, quân Pháp chiếm đóng Hữu Bình, vua Tự Đức bảo nên chọn người giỏi giang, không câu nệ phẩm cách. Bọn Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản tâu rằng:


“Người Tây dương tính là thành Gia Định, các ngả đường thông suốt, mà chỗ đỗ thuyền thì thế sông chảy dồn lại, phòng bị rất khó, không tiện cho việc chống giữ dằn co lâu dài, cho nên lui đóng ở bảo Hữu bình là chỗ hạ lưu, có chỗ hiểm yếu giữ được, mà tiến lui cũng tiện. Ý của giặc cũng chưa rút ngay. Nay các quan ở quân thứ như Tôn Thất Cáp, Phan Tĩnh, Nguyễn Duy, khó có ai hơn được, Nguyễn Thăng, Nguyễn Hữu Thân cũng là những người làm việc giỏi, nên giao cho bọn ấy chuyên trách, xét tình thế, nghiêm hiệu lệnh. Những thuộc hạ của họ, cùng các tỉnh có người nào có thể làm được việc gì, cho được tùy tài phân biệt tâu xin sung bổ”.


Vua Tự Đức cho là phải.


 (Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 609)


Thư của tướng Pháp Bonard gởi cho Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Pháp:


“...L’autre parti, aveuglé par sa haine pour les Européens, à la tête duquel figure le Ministre du Commerce actuel Trương, chargé des ralations avec les étrangers, ne pésent aucunement les désastres qui doivent être la conséquence d’une lutte prolongée et au moyen de laquelle ils espèrent nous lasser, sans s’inquiéter des pertes et des sacrifices...”.(ASIE, tome 58, Arcgi ves du Ministre des Affaires E1trangères, Paris)


... Phe kia cầm đầu là Quế, Thượng thư bộ Thương mại, người có trách nhiệm quan hệ đối ngoại của Triều đình, mù quáng vì thù ghét người Châu Âu chúng ta, không có chút cân nhắc nào những tai họa tất yếu của một cuộc chiến kéo dài mà còn hy vọng qua đó khiến cho chúng ta mỏi mệt, chán nản, nên không ngại tổn thất và hy sinh... (Tạp chí Á châu, Paris, Tập 58, Văn khố Bộ Ngoại giao Pháp)


Năm 1860, vua Tự Đức bàn với Trương Đăng Quế về việc quân ở Nam Kỳ, Trương Đăng Quế tâu:


“Ngày nay thuyền quân Tây dương còn đang ở đồn Hữu Bình, ở hạ lưu thành Gia Định, ý là ở lâu. Thực khó mong làm xong việc một sớm một chiều được. Mà Cao Miên lại ra vào địa đầu còn ngăn trở, khiến cho sức quân ta phải bị chia ra. Vậy cần phải tính việc nào làm trước, việc nào để làm sau, việc nào hoãn, việc nào cấp bách phải làm ngay thì việc đánh dẹp mới thực có kế hoạch. Vả lại Cao Miên trước kia nhút nhát, lần này dám gây hấn khích là vì có thuyền Tây dương đóng lâu, chúng giao dịch ngầm với nhau, định tìm cách hiếp chế quan ngoài biên ải của ta... Tính về kế sách hiện nay, bọn Tây dương còn thủ thế ở đồn Hữu Bình, cùng ta cầm cự, ta nên để Tôn Thất Cáp vẫn đốc thúc quan lính phòng thủ như cũ. Còn quân Cao Miên vốn khiếp sợ thanh thế Nguyễn Tri Phương lúc bình định thành Trấn Tây, ta cử Tri Phương lẻn đi An Giang, đem cả hạng lính mới lần này điều động đi Gia Định ấy, ta điều động thẳng đến An Giang, cùng biền binh các đạo An Giang, Hà Tiên hội binh cho đông do Tri Phương quản đốc, điều khiển. Một mặt gởi thư cho Xiêm, đừng can thiệp, một mặt kéo quân thẳng đến Nam Vang hay Oudong, tất chúng bở vía trốn chạy, mãi mãi không dám sinh lòng phản trắc. Bấy giờ ta sẽ liệu để một số binh dõng ở địa đầu An Giang để phòng giữ. Còn dùng toàn lực đối phó với Tây dương. Một khi quân Cao Miên đã tan vỡ, thì giặc Tây dương thế cô, chẳng bao lâu cũng sẽ lui mà nghe theo ta thôi”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 682-683


Vua rất mừng, rồi đem việc ấy hỏi Tri Phương. Nhưng Tri Phương lại nói xem tình thế chưa tiện, đợi xem thế nào sẽ tính. Rồi cuối cùng kế sách ấy không được thi hành.


Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp thương thuyết về việc trả lại 3 tỉnh, tướng nước Pháp không nghe. Vua cho hỏi đình thần, Trương Đăng Quế, Trần Tiễn Thành tâu xin:


“Nhân trước khi sứ nước Pháp chưa đến (trong hòa ước nói, hạn trong một năm, nước Pháp sẽ cử sứ giả đến Kinh trao đổi hỏi thăm các điều), thì ta nên cho sứ sang vấn an vua nước Pháp, nhân đệ thư biện bạch về việc Phan Thanh Giản, Lâm Duy Thiếp nhẹ dạ nhượng đất, Bonard bắt ép. Cử Võ Phẩm (Thủy sư Đô đốc) sung làm Khâm sai, Trần Đình Túc làm phó, Đỗ Đệ, Hồ Quang làm bồi sứ ”.


Đại Nam thực lục, Tập VII, Tr. 783


Vua chần chừ, rồi sau việc ấy bỏ đấy, không bàn đến nữa. Khi Hòa ước đã thành, thông dụ cho Nam Kỳ nghỉ quân, đổi Trương Định về Phú Yên. Khi ấy nhân dân Gia Định, Định Tường, Biên Hòa không chịu theo, ứng nghĩa tụ họp đoàn kết tôn Trương Định làm người đầu mục. Về sau, vua sai Phan Thanh Giản đi hiểu dụ, nhưng Trương Định lâu không đến nhận chức, bèn cách chức hàm.


Tháng 4, năm 1861, Tự Đức năm thứ 14, Trương Đăng Quế lại tâu rằng:


“Người Tây dương ý muốn chiếm đóng Gia Định, lại yêu cầu muốn cắt lấy Biên Hòa, Định Tường (ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ), sợ hòa cục không thành. Ngoại trừ việc chiến việc thủ, không còn kế nào khác. Nhưng các quan ở quân thứ, xét kỹ thực tình, nhiều người kém khí hăng hái, nên cho Lê Quang Tiến, Thân Văn Nhiếp trích lấy vài vệ biền binh trước đã phái đi, hiện còn ở Bình Thuận, Khánh Hòa để nhờ sức mới, chia nhau phòng bị cố giữ. Cũng cần giục Đỗ Thúc Tĩnh, Nguyễn Túc Trưng đến ngay để làm công việc của các viên chức ấy, thì Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên mới có chỗ nương dựa. Đấy là việc cần kíp lúc này. Khiến Nguyễn Bá Nghi lại viết thư cho Tây dương...”


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 714


Cũng có người cho là ông chủ hòa, họ có bằng cớ là:


Tháng 7 năm 1859, Tự Đức năm thứ 12, quan Đê chính là Nguyễn Tư Giản dâng sớ nói thiết tha không nên hòa với Tây dương. Vua đem hỏi các quan Cơ mật. Bọn Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản tâu rằng:


“Phái viên Tây dương yêu cầu nguyên có 3 khoản. Hiện nay khoản cắt đất, quyết nhiên ta không cho. Khoản thông thương, thì bản triều ta đã có lệ nhất định. Khoản truyền giáo, thì từ triều Trần, triều Lê đã cấm rồi. Gần đây vì điều cấm của ta quá ngặt nghèo. Nay nhân thế, ta nên khoan dung để có thể cho quân và dân được nghỉ ngơi. Trong đó tất nhiên ta làm nhiều điều ước giao kết, thì bọn giáo dân cũng không được tự do muốn làm gì thì làm... Hán Văn Đế há đã chẳng từng hòa thân với Hung Nô đó sao? Tống Chân Tông há đã chẳng từng hòa thân với Khiết Đan đó sao? ”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 623-624


Ngày nay, nhìn lại tình hình thời bấy giờ, ai cũng thấy rõ tương quan lực lượng không ngang bằng, thế thua của ta quá rõ. Chính người Pháp đánh giá vũ khí quân ta lúc bấy giờ như sau:


Schreiner viết:


“Vũ khí của họ thuộc loại chậm hơn một thế kỷ. Thí dụ, súng trường là loại súng từ thời đá lửa (loại Saint E1tienne, kiểu năm 1777 về trước). Ở đó có cả súng châm ngòi kiểu Tàu”.


Thái Hồng, sđd, tr. 160


Đó là loại thạch cơ, hay thường gọi là súng điểu thương, là vũ khí thông dụng trong thời Trung Cổ (thế kỷ XIV trở về trước):


“Súng điểu thương cò bằng đá lửa, bắn xa độ 250 đến 300 thước là cùng. Mỗi đội 50 lính thì chỉ có 5 người có súng điểu thương, mỗi người chỉ được bắn có 6 phát mà thôi. Hễ ai bắn quá số ấy thì phải bồi thường. Muốn bắn phải lấy thuốc súng (đựng trong một cái bao mang ở nịt lưng) bỏ vào nòng súng, dùng cây thông hồng nén thuốc vào cho chặt rồi bỏ viên chì (đựng ở cái bầu mang ở cổ) rồi bóp cò cho viên đá nảy lửa làm cháy thuốc ngòi. Bắn được một phát tốn nhiều thời giờ. Chưa kể là có nhiều khi bóp cò, mà đá lửa không bật lửa, lại phải tháo ra nhồi lại tốn hơn gấp đôi thời giờ”.


Thái Hồng, sđd, Tr 160


Súng cá nhân đã vậy, pháo thì sao? Chính tướng Rigault De Genouilly miêu tả pháo của ta:


“Hỏa lực của địch không làm thiệt hại chúng tôi mảy may nào, cho dù đạn pháo của họ bắn trúng vỏ tàu của ta”.


De Larclause viết:


“Người An Nam đã cố gắng cải tiến rất nhiều, nhưng họ vẫn không thể làm chúng ta lo lắng, vì đường đạn đại bác của họ chỉ đạt đến 1.200m là cùng... Đại bác của họ bằng đồng hay bằng gang, đủ các kiểu, trông thì đẹp nhưng khó di chuyển, bố trí kém, thuốc lại xấu...”.


Schreider nhận xét chung các loại pháo của ta:


“Không một khẩu pháo nào của họ đạt tầm bắn 1.500m”.


Tương quan lực lượng như vậy, thì chiến hay hòa đều không phải là quyết sách đúng đắn, có thể cứu nước cứu dân. Bao nhiêu hào kiệt cầm quân chiến đấu thực sự đều phải chịu thất bại. Chiến như Trương Định, Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương, Phan Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Hoàng Hoa Thám... đều lần lượt hy sinh đền nợ nước. Hòa như Phan Thanh Giản, Nguyễn Văn Tường... người phải uống thuốc độc tử tiết, người bị bắt đi lưu đày tận quần đảo Nam Thái Bình Dương, để rồi bỏ mình nơi xứ lạ, vĩnh viễn không còn thấy đất nước của mình nữa.


Trong tình thế ấy, triều đình và sĩ phu cả nước ta lúc bấy giờ chẳng đưa ra được một quyết sách nào khả thi. Cái học cũ đã không giúp được gì trong công cuộc đối phó với văn minh phương Tây có đại bác tàu đồng, với hỏa lực mạnh hơn mình gấp bội. Bấy giờ Trương Đăng Quế đã là ông lão gần 70 tuổi, tuy có chức nhưng không có quyền hành như trước nữa, nên chỉ có thể đưa ra đề nghị, chờ duyệt. Nhưng càng ngày tình thế càng rối ren mà đề nghị của ông thường bị bỏ qua, vì triều đình đang quá bối rối không còn biết phải làm như thế nào cho đúng.


Trương Đăng Quế có thể chưa hiểu rõ xu thế bành trướng khao khát đi tìm nguyên liệu và thị trường của các đội quân phương Tây, nhưng ông cảm nhận được mứt độ nguy hiểm của nó, nhưng làm thế nào ngăn chặn chúng hữu hiệu thì kế sách của ông đề ra tuy có quyết tâm cao, nhưng cũng không phải là kế vẹn toàn cũng giống như tất cả các sĩ phu khác thời bấy giờ:


“Trong thâm tâm, Trương Đăng Quế hoàn toàn thừa nhận sức mạnh và ưu thế của người châu Âu, chính vì vậy mà ông căm ghét và lo sợ khi họ đến... Theo ông, bằng mọi biện pháp có thể, ngăn không cho họ xâm nhập vào nội địa, ông lập luận rằng bờ biển An Nam có nhiều chướng ngại thiên nhiên lớn, và còn có thể làm tăng thêm các chướng ngại. Cho nên nếu An Nam quyết tâm thì người Âu không thể cập bến sinh sống ở ven biển được.


Ông nghĩ rằng tốt hơn nên để cho họ mệt mỏi vì những cố gắng vô ích, còn hơn là mở cửa cho họ vào để sau này không đóng lại được nữa” (theo Trần Viết Ngạc, Tham luận Hội thảo về Trương Đăng Quế, 1994).


Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản tâu rằng:


“Người Tây dương đến lần này, chỉ vì muốn lập phố thông thương. Nay tự họ xin giảng hòa, tình thế cũng cấp bách. Duy họ muốn chiếm nhiều lợi thế, ta không nên nhẹ dạ mà cho. Hơn nữa, ở Đà Nẵng thì họ dụng ý cố chấp, ở Gia Định thì họ giả làm kính thuận. Nhiều việc trái ngược không hợp nhau, cuộc hòa nghị chưa chắc đã xong. Nên sức lại cho những chỗ quan yếu ở ven biển, chú ý sửa sang, cũng là sự phòng bị trước khi có việc”.


Đại Nam thực lục, tập 7, tr. 632


Sau khi thất thủ thành Gia Định, Định Tường, đến cuối năm 1861, Tự Đức năm thứ 14, vua hỏi Trương Đăng Quế làm kế hoạch gì để có thể giữ được Biên Hòa. Trương Đăng Quế tâu:


“Thành Biên Hòa kế liền sông lớn, thực khó giữ được. Mà nay có việc sai phái, chỉ lo về nhân tài mà thôi. Theo ý kiến của tôi thì bọn Nguyễn Tri Phương, Nguyễn Công Nhàn hiện đang chờ án xử, nên cho họ lập công chuộc tội. Họ cảm kích thì khí mạnh tăng thêm, ngõ hầu có thể làm nên việc được.


Công thì thưởng, tội thì răn, đó là lệ thường. Ngày nay sao câu nệ làm gì, người nào có tài thì phá cách mà dùng cũng được.


Chức thấp thì không có quyền, tướng không có quyền thì khiến ai được?”.


Nhưng vua và đình thần còn đang dùng dằng chưa quyết thì tin Biên Hòa thất thủ bay về, đình thần lại xin như Đăng Quế. Bấy giờ vua mới đặc cách chuẩn cho bọn Tri Phương, Công Nhàn được khai phục chức hàm.


Đại Nam thực lục, tập VII, Tr. 744


Cũng như đông đảo sĩ phu nước ta lúc bấy giờ, nung nấu nhiệt tâm yêu nước thương nòi, một lòng chống quân xâm lược phương Tây, nhưng do sở học theo lối nhà Nho lỗi thời, Trương Đăng Quế chỉ đưa ra được một số biện pháp ngắn hạn chưa xứng tầm một bản Luận cương chính trị thích đáng với tình hình trong và ngoài nước lúc bấy giờ. Tuy nhiên, không thể đòi hỏi một ông lão gần đất xa trời đề ra được chánh sách đổi mới cho triều đình. Đó là nhiệm vụ của lớp người bốn mươi năm mươi tuổi đương quyền như Phan Đình Phùng, Tôn Thất Thuyết, Ông Ích Khiêm, Nguyễn Lộ Trạch, Nguyễn Trường Tộ, Bùi Viện... sau này. Nhưng như chúng ta đã biết, không một ai có thể làm chuyện đổi mới một lực lượng trí thức chỉ biết mỗi cái học cũ.


(còn tiếp)


Nguồn: Trương Đăng Quế - Cuộc đời và sự nghiệp. NXB Văn học. 1-2009.

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hà Nội – Gặp gỡ với nụ cười (4) - Hà Minh Đức 04.04.2017
Gặp một người “Hà Nội Xưa và nay” và… - Thái Thành Đức Phổ 04.04.2017
Ma túy, những câu chuyện khốc liệt - Hoàng Điệp – Mai Vinh 23.03.2017
Một làng biên giới - Võ Phiến 23.03.2017
Những đám khói - Võ Phiến 23.03.2017
Khó, dễ Nguyễn Tuân - Đào Nguyên 22.03.2017
Ở nơi “con chim bay bạc đầu chưa tới” - Ngô Vĩnh Bình 22.03.2017
Lê Văn Thảo, người lữ hành lặng lẽ - Nguyễn Xuân Hưng 21.03.2017
Hoa của đất: Nhà toán học lỗi lạc của quê hương Gò Nổi - Kỳ Lam - Hàm Châu 19.03.2017
Không khóc ở Mỹ Sơn - Inrasara Phú Trạm 16.03.2017
xem thêm »