tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19690161
06.05.2013
Hà Văn Thùy
Tìm cội nguồn qua di truyền học (10)

SỰ HÌNH THÀNH CƯ DÂN ẤN ĐỘ


Ấn Độ là một quốc gia nhưng cũng là cả một lục địa, có quan hệ với Việt Nam không chỉ về chính trị, kinh tế mà còn mật thiết hơn về văn hóa. Không chỉ cho Đông Dương một nửa cái tên Indo-china, trong quan niệm truyền thống, Ấn Độ còn được coi là một cội nguồn của văn hóa Đông Dương!


Một câu hỏi nảy sinh: phải chăng Ấn Độ chỉ cho mà không nhận gì từ phương Đông? Muốn giải đáp câu hỏi này, cần phải lật tung lịch sử phương Đông, điều mà cho tới nay chưa ai làm được!Trong bài viết này, người viết muốn tìm về cội nguồn lịch sử để góp phần trả lời câu hỏi trên!


Về bản chất, lịch sử của một dân tộc là lịch sử hình thành và phát triển của những cộng đồng dân cư chính yếu làm nên dân tộc ấy. Theo tiêu chí đó thì cho đến nay, phần nhiều quốc gia chưa có được lịch sử đích thực. Trung Hoa chẳng hạn, có tới 24 cuốn sử nhưng nguời Trung Hoa chưa biết tổ tiên họ là ai! Ai cũng nói, họ là “Viêm Hoàng tử tôn” nhưng Viêm là ai, Hoàng là ai họ không biết! Cùng lắm cũng chỉ nói: “Viêm đế họ Khương, Hoàng đế họ Cơ”! Nhưng nếu hỏi tiếp họ Cơ, họ Khương ấy là chủng nào trong bảng phân loại nhân chủng, có màu da gì, sắc tóc gì, họ cà lăm! Ngay những người tiên phong trong bọn họ như Khương Nhung tác giả Totem Sói hay học giả Zhou Jixu cũng lầm lẫn đáng tiếc khi cho rằng, tổ tiên họ là tộc Aryan! Người Việt Nam cũng không hơn gì. Nhận là con cháu các vua Hùng nhưng khi hỏi các vị vua này từ đâu sinh ra, không ai biết! Hiến pháp quy định Việt Nam có 54 “dân tộc” anh em nhưng nếu có ai hỏi, bộ gen của mỗi “dân tộc” đó là gì, không ai trả lời được! Chính vì vậy mà lịch sử của những dân tộc này còn nhiều yếu tố đáng ngờ! Khi tìm hiểu về Ấn Độ, tôi thấy đất nước này cũng không ra ngoài tình trạng đó!


I. Những quan niệm truyền thống


Từ Wikipedia Anh ngữ, chúng ta có những thông tin như sau:


 “Ấn Độ chiếm 2,4% diện tích đất với trên 17,5% dân số thế giới, là quốc gia có diện tích đất canh tác nhiều hơn bất kỳ nước nào khác ngoại trừ Hoa Kỳ. Diện tích mặt nước chỉ sau Canada và Mỹ. Người Ấn Độ chủ yếu xoay quanh cuộc sống nông nghiệp tại các làng nhỏ. Theo điều tra dân số năm 2001, dân cư Ấn Độ gồm hai nhóm chính: Indo-Aryan 72%, Dravidian 25%; 3% còn lại thuộc về người Mông Cổ và những chủng thiểu số khác. 72,2% dân số sống trong khoảng 638.000 ngôi làng và 27,8% còn lại sống tại hơn 5.100 thành phố và hơn 380 khu đô thị. Nhân khẩu học của Ấn Độ khá đa dạng, với số dân khoảng 1.170.000.000 người (ước tính vào tháng Bảy, 2009), chiếm trên một phần sáu dân số thế giới. Ấn Độ có hơn hai nghìn các nhóm chủng tộc, với sự có mặt của tất cả các tôn giáo lớn, cũng như bốn gia đình ngôn ngữ chính (Ấn-Âu, Dravidian, ngữ hệ Nam Á và các ngôn ngữ tộc Tạng-Miến) cùng một ngôn ngữ cô lập (các ngôn ngữ Nihali được sử dụng tại các bộ phận của Maharashtra). Tình trạng dân cư còn bị phức tạp hóa do các biến thể rất lớn xảy ra trên các tham số xã hội như thu nhập và giáo dục. Chỉ châu Phi mới vượt quá sự đa dạng về ngôn ngữ, văn hóa, di truyền của Ấn Độ.”


Đấy là hiện trạng dân cư Ấn Độ. Nhưng lịch sử hình thành khối dân cư vĩ đại này còn phức tạp hơn nhiều. Là thuộc địa của nước Anh, đế quốc hùng mạnh và văn minh nhất thế giới một thời nên lịch sử dân cư Ấn Độ từng được quan tâm nghiên cứu rất sớm. Nhiều ý kiến cho rằng dân cư Ấn là một hỗn hợp của chủng tộc bản địa Dravidian (có thể thuộc một nhóm Australoid), với chủng tộc Aryan xâm nhập (thuộc chủng Caucasoid). Tuy nhiên một số tác giả cũng cho rằng có sự hòa trộn nào đó với chủng Mông Cổ.


Edgar Thurston xác định Homo Dravida là những người có nhiều điểm chung với các thổ dân Úc hơn là người láng giềng Indo-Aryan đẳng cấp cao của họ. Để làm bằng chứng, ông viện dẫn khả năng sử dụng bu-me-răng của quân nhân Kallan và Marawan với tài leo cây ở cả dân Kadirs ở đồi Anamalai và dân Dayaks Borneo.


Năm 1865, nhà nhân chủng học Thomas Huxley nói: "Cái được gọi là dân cư Dravidian ở Nam Ấn dẫn chúng ta nhớ lại về thể chất cũng như địa lý, đối với người Úc trong khi người Mincopies nhỏ bé của đảo Andaman nằm giữa chủng tộc Negro và Negrito, và, như ông Busk đã chỉ ra, thỉnh thoảng xuất hiện sự kết hợp hiếm hoi của dạng đầu ngắn, hoặc đầu ngắn với mái tóc xoăn ". “Những người Hindu của thung lũng sông Hằng và sông Ấn, có mọi lý do để tin là do kết quả từ sự hòa trộn với nhau của các quần thể khác biệt... Người Aryan xâm lược là những người da trắng. Thật khó mà nghi ngờ rằng họ trộn lẫn với người thổ dân da sẫm Dravidian và rằng người Hinđu đẳng cấp cao là những gì họ đang có trong sự thuần khiết dòng máu Aryan mà họ thừa kế... Tôi không biết bất cứ nguyên nhân tốt đẹp nào cho sự khác biệt thể chất giữa một Hinđu đẳng cấp cao và một Dravidian, ngoại trừ máu Aryan trong tĩnh mạch của người Aryan.”


Tuy nhiên, tình trạng “hắc chủng” của Dravidians vẫn còn tranh cãi. Năm 1898, nhà dân tộc học Friedrich Ratzel nhận xét về "đặc tính Mông Cổ" của “Dravidians”, dẫn đến giả thuyết của ông về “sự liên hệ gần gũi của Dravidians với dân cư Tây Tạng" mà ông cho biết thêm "người Tây Tạng có thể được xác định là thuộc về chủng Mông Cổ". Năm 1899, một tạp chí gọi là "Khoa học" tóm tắt kết quả khảo sát của Ratzel ở Ấn Độ với "Ấn Độ dành cho tác giả [của Lịch sử của Nhân Loại, Ratzel], một khu vực nơi mà các chủng tộc đã bị phá vỡ và nhào trộn bởi những kẻ chinh phục. Chắc chắn rằng một tiền Dravidian thuộc về hắc chủng có mặt đầu tiên, tầm vóc thấp kết quả của điều kiện kinh tế xã hội nghèo khó. Dravidians đã kế vị người da đen, và có thể người Malay đã xâm nhập, nhưng mối quan hệ gần gũi với người Úc bị từ chối. Sau đó Aryan và Mông Cổ đã thành công, tạo thành nồi lẩu thập cẩm hiện nay thông qua các cuộc chinh phục và pha trộn… " Năm 1900, nhà nhân chủng học Joseph Deniker nói: "Chủng Dravidian được kết nối với cả Indonesian và Úc... Chủng tộc Dravidian, mà có lẽ tốt hơn nếu gọi là Nam Ấn, được phổ biến giữa các dân tộc của miền Nam Ấn Độ, nói các ngôn ngữ Dravidian, cùng với dân Kols và những người khác của Ấn Độ... Người Veddhas... cũng gần gũi hơn với Dravidian, mà hơn thế nữa cũng thâm nhập giữa các cư dân của Ấn Độ, ngay cả vào giữa thung lũng sông Hằng "… Deniker nhận định: "Dravidians như một chủng phụ, thuộc nhóm tóc xoăn hay dợn sóng và da đen, trong đó bao gồm Ethiopia và Úc ".


Sau khi độc lập, tuân thủ chủ trương của Chính phủ để ngăn cản sự phân biệt chủng tộc trong cộng đồng, cuộc điều tra dân số năm 1951 đã không công nhận bất kỳ nhóm chủng tộc nào ở Ấn Độ.


II. Nhận thức mới


Theo những phát hiện di truyền học mới nhất1 thì sớm hơn 74000 năm trước, người di cư từ châu Phi men theo bờ Ấn Độ dương đã tới Ấn Độ. Nhưng 74000 năm trước, núi lửa Toba trên đảo Sumatra phun trào, phủ nham thạch lên toàn vùng Nam Á, thiêu trụi các cánh rừng và hủy diệt tất cả những người có mặt trong khu vực. Sau “mùa đông nguyên tử” là một ngàn năm băng giá, những người sống sót ở xung quanh tiến vào tái chiếm Ấn Độ. Đó là những người da đen Negritoid, cư trú ở Nam và Đông Nam Ấn, trở thành dân cư bản địa.


Khoảng 50.000 năm trước, từ Đông Dương, người Việt cổ vượt qua đất Mianmar sang Ấn. Người Việt cổ ra đời khoảng 70.000 năm trước, do hòa huyết của hai đại chủng Australoid và Mongoloid từ châu Phi sang theo bờ biển Nam Á. Có nghĩa là những người tới Đông Nam Á cùng nguồn cội với những người tới Ấn Độ. Nhưng vì nguyên do nào đó, trong những người dừng lại Ấn Độ chỉ có Negrito mà không có Mongoloid. Tại đồng bằng Hainanland, là thềm biển Đông ngày nay, người Australoid kết hợp với người Mongoloid sinh ra bốn chủng Việt cổ: Indonesian, Melanesian, Vedoid và Negritoid. Do số lượng người Australoid vượt trội nên trong cộng đồng Việt cổ, yếu tố Australoid trở thành chủ đạo và được nhân chủng học xếp vào nhóm loại hình Australoid. Khoảng 40.000 năm trước, do khí hậu phía Bắc bớt lạnh, người Việt lên khai phá Trung Hoa, rồi từ Tây Nam Trung Hoa di cư vào Ấn Độ2. Tại đây, người Việt gặp người bản địa da đen Negro, vốn là người tái chiếm đất Ấn sau thảm họa Toba. Rất có thể một tình trạng sau: tuy có mặt nơi đây rất sớm, nhưng vì nhiều nguyên nhân, giống như đồng chủng của họ trên một số hòn đảo Đông Nam Á, sinh xuất của người Negro thấp, dân số tăng chậm và trở thành những bộ lạc thiểu số sống ở Nam Ấn cho tới hôm nay. Đó là chưa kể, do hôn phối cận huyết kéo dài, họ bị suy thoái về di truyền, trở về gần với dạng gốc châu Phi. Như vậy, khoảng 40000 năm trước, người Australoid, mà chủ lực là chủng Indonesian có mặt trên toàn tiểu lục địa Ấn Độ, được lịch sử gọi là Dravidian.


Đối chiếu sự phát hiện của di truyền học hôm nay với những nhận định của giới nhân chủng học Anh thế kỷ XIX, ta thấy, theo tiêu chí hình thái học sọ người, các nhà nhân chủng học Anh đã nhận xét đúng về nhân học của cộng đồng Dravidian: vừa có yếu tố Australoid, vừa có yếu tố Indonesian, vừa có chất Mông Cổ, lại có những đặc điểm Ethiopia. Điều này thêm bằng cớ xác nhận Dravidian là con lai của Mongoloid và Australoid từ châu Phi tới.


Cuộc thiên di của người Việt cổ tới Ấn liên tục qua nhiều thiên niên kỷ, tới giai đoạn người Hòa Bình mang công cụ Đá Mới, sau đó là cây kê và lúa nước sang xây dựng kinh tế nông nghiệp trên đất Ấn Độ. Khoảng 3000 năm TCN, người Dravidian đã sáng tạo nên văn minh sông Indus nổi tiếng. Khảo cổ học phát hiện những hiện vật của văn hóa vật thể của người Dravidian nhưng không giúp khám phá văn hóa phi vật thể của họ. Đến nay, ta có thể khẳng định rằng đó là nền văn hóa nông nghiệp được kế thừa từ tộc Việt trên địa bàn Đông Nam Á cũng như trên lưu vực Dương Tử.


Khoảng 2000 năm TCN, người Aryan thuộc chủng Á – Âu (Eurasian), là những bộ lạc du mục rất thiện chiến từ Iran kéo vào xâm lăng Ấn Độ. Đây là cuộc chiến khốc liệt. Người Aryan tiêu diệt và bắt người Dravidian làm nô lệ. Không chỉ cướp đoạt tài sản, người Aryan còn chiếm khối lượng lớn đất canh tác của dân bản địa và dồn họ xuống phía Nam. Là dân du mục có nền văn minh khá cao, người Aryan mang tới Ấn Độ chữ Phạn, xã hội chia đẳng cấp và đạo Balamôn, một đa thần giáo với những kinh sách khẳng định việc phân chia giai cấp.


Sau Công nguyên, tiểu lục địa Ấn Độ còn chịu nhiều cuộc xâm lăng của người Hồi giáo từ Afganistan, người Hy Lạp, người Mông Cổ. Những cuộc xâm lăng này đem tới đất Ấn nguồn gen mới khiến cho về mặt di truyền, bộ gen người Ấn Độ thêm đa dạng.


Hiện nay ở Ấn Độ có xu hướng cho rằng, không có cuộc xâm lăng của người Aryan cho nên không hề có Aryan, Dravidian mà người Ấn cùng bộ mã gen di truyền. Do sống ở vùng khí hậu nhiệt đới nên người miền Nam Ấn có nước da đen. Do sống ở phía bắc nên người Bắc Ấn da trắng. Thuyết này không phải không có lý khi quan sát ngoại hình người Ấn. Nhưng thực ra thì sự tương đồng về di truyền này được tạo nên từ sự hòa huyết giữa người Aryan và người Dravidian sau 4000 năm chung sống.


Mới đây, tháng 12 năm 2009, Viện Sinh học hệ gen và Tích hợp (Institute of Genomics and Integrative Biology) có trụ sở ở bang Bangolore công bố bản tin “Tổ tiên người Trung Hoa tới từ Ấn Độ” (Ancestors of Chinese came from India)3 của Mitali Mukerji, nội dung như sau: “Các nghiên cứu cho thấy rằng con người đầu tiên di cư đến tiểu lục địa Ấn Độ từ châu Phi khoảng 100.000 năm trước đây và sau đó lan ra các phần khác của châu Á…”


Công bố này phủ định những nghiên cứu trước đó về sự hình thành dân cư Đông Á. Tuy nhiên, đây là nghiên cứu riêng lẻ, chưa được kiểm chứng. Và cũng như mọi nghiên cứu di truyền khác về sự thiên di của con người, cần được củng cố bằng những chứng cứ khảo cổ học. Nhưng như ta biết, những tư liệu khảo cổ hiện có không ủng hộ ý kiến này.


Tôi xin phát biểu như sau:


1. Đúng là người di cư từ châu Phi đã tới Ân Độ trước 74.000 năm trước. Nhưng theo giả thuyết Tai biến Toba (Toba catastrophe theory), khoảng 74000 năm trước, núi lửa Toba phun trào, tạo ra “mùa đông nguyên tử” tại tiểu lục địa Ấn Độ, đã hủy diệt không chỉ những người đã định cư ở đây mà cả môi trường sống. Sau tai biến hàng nghìn năm, những người sống sót trong vùng lân cận đã tái chiếm Ấn Độ. Nhưng những người này khó có thể đạt được số lượng lớn tới mức lan ra chiếm toàn bộ châu Á. Lý do như sau: Thời điểm này đang trong Kỷ Băng Hà, phần lớn phía Bắc Ấn Độ đóng băng. Chỉ vùng Nam Ấn với những con sông và bờ biển là nơi thuận lợi cho con người sinh sống. Tuy lúc đó, mực nước biển thấp hơn hôm nay 130 mét nhưng do bờ biển Ấn Độ quá dốc nên diện tích có thể cư trú hẹp. Một diện tích hẹp như vậy khó có điều kiện để cho một lượng lớn con người sinh sống.


2. Người xâm nhập đầu tiên tới Ấn thuộc chủng da đen Negro, vóc hình thấp. Với mã di truyền như vậy họ không thể sinh ra người châu Á hiện nay thuộc chủng Mongoloid phương Nam.


3. Ta biết, đa số người Ấn hiện tại có nguồn gen Eurasian, tức là mã di truyền Ấn-Ấu. Nếu người từ Ấn lan ra để trở thành tổ tiên người Trung Hoa thì nay người Trung Hoa phải mang mã di truyền giống người Ấn, tức bộ gen Eurasian. Trong khi đó, đại bộ phận người Trung Hoa mang gen Mongoloid phương Nam. Như vậy thực tế không ủng hộ giả thuyết trên.


III. Bài học từ lịch sử


Sự kiện 2000 năm TCN, người Aryan xâm lăng lãnh thổ của người Dravidian ở Ấn Độ cũng giống như 600 năm trước đó người Mông Cổ xâm chiếm đất đai của người Bách Việt phía Nam Hoàng Hà. Cùng là sự xâm lăng của những tộc du mục đối với các bộ lạc nông nghiệp nhưng tình huống hai cuộc xâm lược khác nhau đã đưa tới những hệ lụy lịch sử hoàn toàn khác nhau. Người Mông Cổ du mục nhân số ít. Khi vào Trung Nguyên, một vùng đất mênh mông, kinh tế trù phú, gặp cuộc kháng chiến mãnh liệt của số người đông đảo gấp bội, kẻ xâm lăng tuy thiện chiến nhưng cũng không thể chiến thắng dễ dàng. Vì vậy, người Mông Cổ thấy không thể và cũng không cần tiêu diệt dân bản địa hay bắt làm nô lệ mà thực hiện chính sách khôn ngoan: giành cho người Mông Cổ vị trí thống trị, hoạt động thương mại còn cho người bản địa làm nông nghiệp và những nghề nặng nhọc. Chính sách khôn khéo này xoa dịu sự đối kháng của người Bách Việt và sớm tạo nên mối hòa đồng trong xã hội4. Một thời gian sau, do sự chung sống nên xảy ra hòa huyết Mông-Việt, tạo ra chủng mới Mongoloid phương Nam được gọi là người Hoa Hạ.


Tình trạng Ấn Độ có khác: khi vào Ấn Độ, người Aryan không chỉ là đội quân hùng mạnh, có văn minh cao mà còn rất đông đảo. Ỷ vào sức mạnh và văn minh của mình, người Aryan tiêu diệt người Dravidian bản địa, cướp đoạt đất đai, tài sản và bắt khối người lớn Dravidian làm nô lệ. Thất bại trong cuộc chiến không cân sức, người bản địa Dravidian lui về phía Nam, trong khi kẻ chiến thắng đặt ách thống trị lên toàn cõi Ấn Độ. Cùng với chế độ thực dân da trắng, người Aryan còn truyền bá đạo Balamôn, tôn giáo đa thần, khẳng định sự phân chia đẳng cấp, trong đó người Dravidian thuộc đẳng cấp nô lệ. Nền văn hóa nông nghiệp giầu tính nhân văn của người bản địa Dravidian bị chôn vùi.


Trong lịch sử Ấn Độ, có một lần văn hóa Dravidian vùng lên đòi lại vị trí của mình, đó là khoảng 500 năm TCN, khi Phật giáo ra đời truyền bá giáo lý của Phật Thích Ca. Có thể nói rằng, 1700 năm tồn tại của đạo Phật là cơ hội hóa giải những mâu thuẫn nội tại vừa sâu sắc vừa khốc liệt của xã hội Ấn Độ. Nhưng từ cuối thế kỷ XII, sự trỗi dậy của lớp tăng lữ Balamôn được hỗ trợ của người Aryan cầm quyền, đã trục xuất Phật giáo khỏi đất Ấn. Bị xua đuổi khỏi quê hương của mình, Phật giáo không những không bị tuyệt diệt mà lại phát triển mạnh trong các quốc gia châu Á khác, từ Trung Quốc tới Nhật Bản và Đông Dương. Điều này không ngẫu nhiên mà do nguyên nhân chủng tộc, lịch sử, văn hóa sâu xa: đạo Phật là sản phẩm của văn hóa, tâm linh tộc Việt, nảy sinh trong hoàn cảnh Ấn Độ. Khi trở lại cộng đồng nông nghiệp Việt tộc, có nghĩa là trở về nguồn cội của mình, nó có những điều kiện tốt nhất để phát triển.


Sau khi xóa bỏ đạo Phật, Ấn Độ giáo với giáo điều Balamôn phân chia đẳng cấp được xác lập địa vị tuyệt đối. Đấy là tai họa lớn với đất nước Ấn Độ, di hại tới ngày nay. Do hoàn cảnh lịch sử như vậy, người bản địa Dravidian trở thành thiểu số, bị đàn áp và bị kìm giữ trong vòng lạc hậu, nghèo khó. Cũng do sự phân biệt ngặt nghèo về sắc tộc và giai cấp, việc hòa huyết giữa người Aryan và người Dravidian bị cấm đoán, tạo nên mối mâu thuẫn sắc tộc vô cùng gay gắt, gieo đau khổ cho phần lớn dân Ấn và làm suy kiệt nước Ấn.


Người Ấn có thể có lý do để không công nhận có những sắc tộc tồn tại trên đất nước mình. Nhưng đấy phải chăng là hành động của con đà điểu vùi đầu trong cánh? Vấn đề không phải là che giấu sự thật lịch sử mà là tìm lại cội nguồn lịch sử để rút ra nguyên nhân tai họa do lịch sử gây nên hòng tìm cách khắc phục. Phải chăng lúc này Ấn Độ nên tìm lại lịch sử thành tạo khối dân cư vĩ đại của mình, từ đó phát hiện lại văn hóa cùng minh triết của Việt tộc Dravidian góp phần xây dựng đất nước?


Tháng 4. 2010


CỘI NGUỒN VĂN MINH Ở TRUNG QUỐC,
SỰ KHÁC NHAU GIỮA TÀI LIỆU KHẢO CỔ
 VÀ CỔ SỬ CÙNG SỰ LÝ GIẢI


Tìm hiểu nguồn gốc văn minh ở lưu vực Hoàng Hà


Zhou Jixu


Trung tâm nghiên cứu Đông Á, Đại học Pennsylvania, Philadelphia, Pennsylvania


Khoa Trung Quốc, Đại học Sichuan, Chengdu, Sichuan


Tạp chí Sino-Platonic Papers, Đại học Pennsylvania. Number 175 December, 2006


Hà Văn Thùy (lược dịch)


LND: Đây là tài liệu mới nhất, trình bày một cách hệ thống, phong phú nhiều tư liệu về văn minh tiền sử Trung Hoa, đặc biệt quý là những chứng cứ khảo cổ học. Tác giả cũng đóng góp những nhận định riêng của mình. Tài liệu dài 62 trang khổ A4. Trong bốn phần của tài liệu, tôi bỏ qua phần II: Sự bắt đầu của nông nghiệp theo tài liệu lịch sử Trung Hoa và những trang so sánh giữa tiếng Trung Hoa cổ và ngôn ngữ Tiền Ấn- Âu.


Ở phần cuối, người dịch mạo muội có đôi lời bình luận.


Tóm tắt:


Dự án nghiên cứu này dựa trên cách nhìn hoàn toàn mới về tiền sử châu thổ Hoàng Hà với những nhân tố chứng tỏ rằng: văn minh Hoàng Hà không phải là sản phẩm của sự tiến hóa độc lập mà là do tác động của yếu tố ngoại lai tới văn hóa bản địa.


Nền nông nghiệp sớm nhất ở Trung Quốc, như phát hiện của khảo cổ học Trung Hoa, xuất hiện trước 4000 năm TCN, trải rộng giữa lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử. Nhưng theo các tài liệu cổ thì sản xuất nông nghiệp bắt đầu sớm nhất vào thời Hậu Tắc (后稷), khoảng 2100 năm TCN ở trung lưu Hoàng Hà. Tại sao có chênh lệch về thời gian lớn như vậy? Cách giải thích là: những câu chuyện về nông nghiệp mà Hậu Tắc là đại diện đầu tiên của nông nghiệp chỉ thuộc về dân cư của nhà nước Hoàng Đế, những người có nguồn gốc du mục. Hậu Tắc và nhân dân của ông học hỏi việc trồng trọt từ dân bản địa sống trên lưu vực sông Hoàng Hà và Dương Tử 5000 năm TCN, nhưng cho đến nay họ đã được hòa đồng trong lịch sử.


Các bộ lạc của Hoàng Đế chiếm giữ trung lưu Hoàng Hà vì họ có sức mạnh, nhưng họ củng cố, mở rộng, và tiếp tục sự cai trị của mình tại Trung Quốc bằng cách chấp nhận các nền văn hóa nông nghiệp. Các dân tộc chiếm đất là một nhánh Tiền Ấn-Âu. Các hồ sơ lịch sử, chẳng hạn như Thượng Thư (Shang Shu), kinh Thi (Shi Jing), Quốc Chuẩn (Zuo Zhuan - Biên niên của các nhà nước phong kiến), và Sử ký (Shi Ji), vv… tất cả chỉ mô tả sự hình thành và suy tàn của nhà nước Hoàng Đế.


Những nền văn minh bản địa 5.000 năm TCN trên lưu vực Hoàng Hà và Dương Tử bị loại trừ khỏi văn bản lịch sử truyền thống và bởi vậy đã bị vùi lấp trong 3.000 năm. Nghiên cứu này cố gắng bộc lộ các dữ kiện lịch sử với những bằng chứng về khảo cổ học, tài liệu cổ, và ngôn ngữ học lịch sử.


Từ khóa:


Nguồn gốc của nông nghiệp, khảo cổ học, tài liệu cổ, ngôn ngữ học lịch sử.


1. Hậu Tắc (khoảng 2100 năm TCN) là tổ tiên của bộ lạc Chu, mà sau này đã tăng trưởng mạnh mẽ để thành lập vương triều Chu ở Trung Quốc (1046-220 TCN) Hậu Tắc được coi là một trong những nhà lãnh đạo của các nhóm có thế lực trong số hậu duệ của Hoàng Đế, dựa theo các tài liệu cổ điển Trung Hoa.


Nội dung: Tài liệu gồm 4 phần:


I. Sự bắt đầu của văn minh nông nghiệp theo bằng chứng khảo cổ học.


II. Sự bắt đầu của nông nghiệp theo tài liệu lịch sử Trung Hoa.


III. Giải thích sự khác nhau giữa phát hiện khảo cổ và tài liệu lịch sử


IV. Kết luận


I. Sự bắt đầu của văn minh nông nghiệp theo bằng chứng khảo cổ học.


I. 1. Phác thảo về nông nghiệp tiền sử Trung Quốc


Về ý nghĩa của nông nghiệp sản xuất ngũ cốc đối với văn minh nhân loại, nhà thực vật học Paul C. Mangelsdorf đã nói: “Không có nền văn minh nào xứng đáng với tên gọi đó cho tới khi phát hiện ra nông nghiệp trồng ngũ cốc.” Đó có thể chủ yếu là vấn đề về dinh dưỡng... Hạt ngũ cốc, cũng như trứng và sữa, thực phẩm được thiên nhiên tạo nên nhằm cung cấp carbohydrate, protein, mỡ, khoáng chất và vitamin... Có lẽ mối quan hệ giữa ngũ cốc và các nền văn minh cũng là một sản phẩm của kỷ luật mà ngũ cốc áp đặt lên những người trồng cấy chúng. Ngũ cốc chỉ được trồng từ hạt giống và phải được trồng và thu hoạch đúng thời vụ. Ở đây họ quan tâm đến những giống cây trồng khác nhau, trong đó có thời tiết lúc gieo trồng và thu hoạch, gần như ở bất kỳ thời điểm nào trong năm... Sự phát triển của ngũ cốc luôn luôn dẫn tới trạng thái cuộc sống định cư... Nông nghiệp ngũ cốc cung cấp ổn định nguồn thực phẩm, tạo điều kiện vui chơi giải trí, nuôi dưỡng nghệ thuật, thủ công và khoa học. Có thể nói rằng: "Một mình nông nghiệp ngũ cốc cũng tương đương các hình thức sản xuất lương thực khác về khoản đóng thuế, dinh dưỡng, khuyến khích lao động và tài khéo léo.” (“Wheat,” Scientific American, CLXXXIX, July 1953, 50-59. Quoted in Ho 1975: 44-45, fn). Nông nghiệp sản xuất ngũ cốc là cơ sở cần thiết của mọi nền văn minh cổ xưa.


Trong nửa thế kỷ qua, các nhà khảo cổ Trung Quốc đã thực hiện nhiều khám phá mới về nền văn minh tiền sử Trung Hoa. Từ thời Đá Mới đến đầu triều đại nhà Hạ (khoảng 7000-2000 năm TCN), đã tìm thấy rất nhiều di chỉ văn hóa tiền sử ở trung lưu thung lũng Hoàng Hà và trung, hạ lưu sông Dương Tử, chẳng hạn như văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao - 仰韶, 4600-3000 năm TCN), văn hóa Long Sơn (Longshan -龙山- 3000-2200 năm TCN) trong thung lũng Hoàng Hà; các di chỉ văn hóa Hà Mẫu Độ (Hemudu 5000-4000 năm TCN), văn hóa Liangzhu (2800-1800 năm TCN) tại vùng hạ lưu Dương Tử. Các di chỉ này cho thấy thung lũng Hoàng Hà và Dương Tử là một trong những khu vực đầu tiên trên thế giới xuất hiện văn minh nông nghiệp. Đáng ngạc nhiên là nhiều nơi trong số những địa điểm này đã có nông nghiệp rất phát triển lâu dài trước thời điểm hình thành nông nghiệp (khoảng 2100 năm TCN) được đề cập nhiều lần trong một số sách cổ Trung Hoa. Có một sự khác biệt lớn về thời gian (cũng như địa điểm) giữa những khám phá khảo cổ học và ghi chép của tài liệu cổ. Văn minh nông nghiệp Trung Quốc cổ có thể được chia làm hai khu vực: trung lưu Hoàng Hà và trung lưu, hạ luu sông Dương Tử. Đã có những ngũ cốc khác nhau được trồng ở hai khu vực: cây kê ở vùng trước còn lúa gạo ở vùng sau. Vài di tích lúa được phát hiện tại các di chỉ của văn minh Yangshao trong thung lũng Hoàng Hà. Theo Zhou Jixu: “The Rise of the Agricultural Civilization in China,Sino-Platonic Papers, 175 (December, 2006)2 (sau đây viết tắt là sđd), cây kê thuộc hai giống khác nhau là Setaria và Panicum. Phổ biến là loài Setaria italica đại diện của giống Setaria, được đặt tên bằng tiếng Hoa là su (). Sau đó là hai loài phụ của Panicum miliaceum, được gọi bằng tiếng Hoa là Shu () và Ji () (Hồ 1975: 57). Lúa ở Trung Quốc thuộc hai loài phụ là Oryza sativa japonica, có dạng hạt tròn gọi là canh đạo (粳稻), và O. sativa indica, là dạng "nhiệt đới" chín sớm với gạo hạt dài, gọi là tiên đạo (籼稻) (Hồ 1975: 62). Chúng ta sẽ xem xét các nguồn gốc của cây kê và lúa gạo sản xuất tại Trung Quốc, dựa trên những nghiên cứu của các học giả và các tài liệu khảo cổ trong những thập kỷ gần đây.


I. 2. Thời điểm trồng kê


Giáo sư Ho Ping-Ti trong công trình “Cái nôi phương Đông” viết: “Trong thế giới cũ, lĩnh vực nông nghiệp đầu tiên xuất hiện ở Tây Nam châu Á, trên những dải đồi vùng Lưỡi liềm Phì nhiêu, khoảng 7000 năm TCN. Một số địa điểm xuất hiện sau 5000 năm TCN. Nông nghiệp thâm canh hơn nhờ tưới nước xuất hiện ở đồng bằng sông Tigris và Euphrates. Việc sản xuất nông nghiệp của Ai Cập cổ xưa và các thung lũng sông Indus cũng tùy thuộc vào lũ lụt và thủy lợi. Tuy nhiên, trong số các đặc điểm chính của hệ thống nông nghiệp sớm nhất Trung Quốc, nó đã được tự do từ các ảnh hưởng của lũ lụt lớn của vùng đồng trũng sông Hoàng Hà, và như là một hệ quả, diễn ra thiếu sự tưới nước nguyên thủy.” (Hồ 1977: 44). Trong công trình của mình, ông đã chứng minh rằng các trung tâm Đá Mới ở Bắc Trung Quốc, ngoài Mesopotamia và Trung Mỹ, là một khu vực, trong đó nông nghiệp độc lập phát triển. Vùng văn hóa Đá Mới trung lưu Hoàng Hà là một trong ba trung tâm văn minh nông nghiệp sớm nhất trên thế giới. "Đây là lĩnh vực sản xuất nông nghiệp dựa trên các hạt ngũ cốc đã đạt tới văn minh đầu tiên trong cả thế giới cũ và mới" (Hồ 1977: 40). Sau đây là tóm tắt các chứng cứ chính của GS Hồ trong công trình dầy 440 trang. Những trích dẫn từ Cái nôi phương Đông (Hồ, 1977).
Chúng ta biết rằng không có vấn đề là Setaria italica đã được phát triển rộng rãi trong các cao nguyên hoàng thổ thuộc thời kỳ Ngưỡng Thiều. Bằng chứng khảo cổ quan trọng nhất là di chỉ điển hình của văn hóa Ngưỡng Thiều tại Bán Pha (Pan-po
半坡), những chum vại đầy vỏ S. italica đã được tìm thấy trong các kho. Số lượng hạt kê dự trữ, cùng với sự giàu có của nông nghiệp và sự bố trí phức tạp của các làng mạc được thành lập ngoài sự nghi ngờ rằng Setaria italica đã được trồng và thu hoạch bởi những người đàn ông (trang 57).


Bán Pha là giai đoạn cực kỳ quan trọng cho sự hiểu biết về các nền văn minh khởi thủy của Trung Quốc vì nó được gọi là giai đoạn sớm nhất của lĩnh vực sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên cây kê, thuần hóa vật nuôi chủ yếu trên con lợn, bố trí cộng đồng làng với những nghĩa địa kiểu mẫu, sơn gốm, những ký tự và con số nguyên bản Trung Quốc.


Zhou Jixu, (sđd. 3) dẫn một loạt 4 dữ liệu Carbon phóng xạ cho thấy di chỉ này tồn tại gần như liên tục trong sáu trăm năm thuộc thiên niên kỷ thứ năm TCN (trang 16).


Bảng I: Một số niên đại C14 trong văn minh tiền sử Trung Hoa


2. Banpo, Sian Yangshao: 4115±110 B.C; 4865±110 B.C.


4. Banpo, Sian Yangshao: 3955±105 B.C; 4555±105 B.C.


5. Banpo, Sian Yangshao: 3890±105 B.C; 4490±105 B.C.


6. Banpo, Sian Yangshao: 3635±105 B.C; 4235±105 B.C.


7. Hougang (后岗) Anyang (安阳) Henan


Yangshao: 3535±105 B.C; 4135±105 B.C.


GS Hồ chỉ ra rằng Setaria và Panicum là những giống kê bản xứ (trong những vùng đất cao hoàng thổ của Trung Quốc), theo bằng chứng từ những tài liệu cổ, những cây kê mọc hoang còn tồn tại tới hôm nay ở vùng hoàng thổ, cùng lịch sử lâu dài việc trồng trọt chúng. GS Hồ cũng thảo luận về chủng tộc và nguồn gốc địa lý của người Ngưỡng Thiều. Ông kết luận rằng người Ngưỡng Thiều đến từ miền Nam Trung Quốc, bằng cách sử dụng các bằng chứng về địa lý, môi trường, cổ nhân học, những đồ vật tiêu biểu và văn hóa. Dưới đây là những tóm tắt của ông.


1. Các bằng chứng về thổ nhưỡng và thực vật học: những lớp phủ băng lục địa chưa bao giờ bao trùm toàn bộ Trung Quốc trong thời Pleistocene. Trong nhiều địa phương ở miền Bắc và miền Nam Trung Quốc, các loại đất phát triển từ Cretaceous (120 triệu đến 60 triệu năm trước), và tertiary (60 triệu đến 1 triệu năm trước). Sự tồn tại của các loại đất là căn cứ cho rằng chúng hình thành từ lâu trước thời đại Băng Hà. "Sự phong phú khác thường của hệ cây gỗ Đông Á vượt quá số lượng giống loài tại tất cả các phần còn lại của khu vực phía Bắc... Sự phong phú của hệ thực vật Đông Á, đặc biệt là Trung Quốc, là do tính đa dạng lớn của nó về mặt địa hình, khí hậu và các điều kiện sinh thái. Về mặt lịch sử, do không có sự đóng băng rộng lớn trong thời gian Pleistocene cho phép sự bảo tồn một số lớn giống trước đây phân tán rộng nhưng sau đó biến mất trong những phần khác của thế giới." (4) Biloba Ginko và Metasequoia (5) là những thí dụ nổi tiếng nhất của những "hóa thạch sống" làm chứng cho sự thiếu vắng những lớp phủ băng lục địa ở Trung Quốc. Bởi vậy trong thời gian băng giá cuối cùng, những vùng đất thấp phía Nam Trung Quốc có khả năng thích hợp hơn với người tiền sử so với người phía Bắc Trung Quốc, trong điều kiện khí hậu và tài nguyên thiên nhiên cho sự tồn tại của con người.


2. Bằng chứng từ cổ nhân học: như khi so sánh với những nhóm người Mông Cổ khác, người Ngưỡng Thiều mang đặc tính cơ thể gần nhất với người Trung Hoa hiện đại ở miền Nam Trung Quốc và người Đông Dương hiện đại. Gần gũi tiếp theo của họ là với người Trung Hoa hiện đại ở Bắc Trung Quốc. Họ có những đặc trưng thể chất khác biệt rõ ràng với người Eskimos của Alaska, Tungus của Manchuria, người Tây Tạng, và người Mongoloid vùng hồ Baikal. Theo thuật ngữ nhân chủng học Xô-viết được chấp nhận bởi trường phái lục địa Trung Hoa, người Ngưỡng Thiều Trung Quốc được phân loại theo "chi nhánh Thái Bình Dương của chủng Mongoloid" hoặc "chủng Mongoloid phương Nam," và như vậy là phân biệt với các proto-Tungus của Manchuria, những người được xếp vào chủng "Mongoloid phương Bắc" (Ho 1975: 38).


3. Bằng chứng của những đồ vật đặc trưng cho văn hóa Ngưỡng Thiều. "Đặc tính nổi bật nhất của những đồ vật đá thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều, ngoài tính độc đáo hình học của chúng, là sự thịnh hành những công cụ mài bóng. Người dân của nền văn hóa này đã không biết kỹ thuật tạo vẩy và sửa rìa (flaking & chipping). Trong việc sản xuất rìu, mũi mác, mũi tên, những cái cày, liềm và dùi đục lỗ, họ sử dụng phương pháp mài. Điều này thể hiện những truyền thống văn hóa đặc biệt và cội nguồn của văn hóa Ngưỡng Thiều, không liên quan đến phía bắc, nơi kỹ thuật ghè đẽo thịnh hành, mà tới phía Nam và vùng biển phía Đông Trung quốc ".


4. Bằng chứng của chuỗi văn hóa: Những nhà khảo cổ Hoa lục xác minh giai đoạn sớm nhất của văn hóa Ngưỡng Thiều gần gũi với những công cụ của di chỉ Lijiachun trong hạt Xixiang, di chỉ Shensi ở phía nam núi Tần Lĩnh (Qinling). Ở Lijiachun, nhiều đồ gốm có hình dạng tương tự với một vài địa điểm của Ngưỡng Thiều, tuy nhiên có hai khác biệt quan trọng: sự thịnh hành của đồ gốm cordmarke và sự vắng đồ gốm sơn.


Dọc theo bờ biển Thái Bình Dương phía Đông và Đông Nam Á, trong nhiều vùng nửa phía Nam Trung Quốc, đồ gốm sớm nhất và ổn định là cordmarke, và từ Lijiachun phía Nam Qinling và trên sông Hán Giang nối Shensi với trung lưu sông Dương Tử, một sắc thái miền Nam của di chỉ văn hóa Ngưỡng Thiều là điều không thể nghi ngờ (Ho 1975: 39-40). Giáo sư Hồ kết luận: “Trong viễn cảnh tầm xa, nền tảng của hệ thống nông nghiệp bền vững nhất thế giới, một hệ thống quá rộng lớn để làm nên đặc tính vững bền của văn minh Trung Hoa, được đặt vào vùng hạt nhân Ngưỡng Thiều trong thời kỳ đồ Đá Mới” (Ho 1975: 48).


Có hay không việc văn hóa Đá Mới Ngưỡng Thiều hình thành và phát triển độc lập, vẫn còn là điều tranh luận (Zhang 2004). Nhưng bằng chứng được trích ở trên đủ chứng tỏ một thực tại lịch sử: một văn minh nông nghiệp trưởng thành đã tồn tại trong thung lũng sông Hoàng Hà.


I. 3. Thời điểm xuất hiện việc trồng lúa.


Một khu vực hạt nhân khác của văn minh nông nghiệp sớm nhất ở Trung Quốc đã được hình thành tại lưu vực sông Dương Tử. Khoảng 7000-5000 năm TCN, đã có nền nông nghiệp trồng lúa trưởng thành ở trung và hạ lưu sông Dương Tử. Những nhà khảo cổ học Trung Hoa đã đạt được những thành tựu đáng kể trong lĩnh vực này từ những năm 1950.


Có một lời giải chung cho câu hỏi này trong tài liệu của giáo sư Zhu Naicheng: "Tổng quan về nông nghiệp trồng lúa tiền sử Trung Quốc" (Zhu 2005). Sau đây trình bày những phác thảo của bài viết.


Nguồn gốc của nghề trồng lúa ở Trung Quốc được hình thành khoảng 10.000 TCN, theo khảo cổ tiền sử Trung Quốc và kết quả phân tích các mẫu thực vật cổ. Theo bài báo của Zhu, có bốn giai đoạn phát triển của nghề trồng lúa thời tiền sử Trung Quốc.


(còn tiếp)


Nguồn: Tìm cội nguồn qua di truyền học. Khảo luận của Hà Văn Thùy. NXB Văn học, 2011.


www.trieuxuan.info



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nguyễn Quang Sáng: Trong mâm rượu/ Nói xấu người vắng mặt/ Rượu sẽ thành thuốc độc - Trần Thanh Phương 19.06.2017
Nói có sách (5) - Vũ Bằng 19.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (4) - Tư Mã Thiên 12.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (3) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (1): Lời giới thiệu của Dịch giả Nhữ Thành (Phan Ngọc) - Phan Ngọc 11.06.2017
Sử ký Tư Mã Thiên (2) - Tư Mã Thiên 11.06.2017
Lượm lặt ở đám giỗ cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt - Lưu Trọng Văn 06.06.2017
Nói có sách (4) - Vũ Bằng 06.06.2017
Người Tây bái phục cách chửi nhau của người Việt! - Nguyễn Công Tiễu 06.06.2017
Nói có sách (3) - Vũ Bằng 06.06.2017
xem thêm »