tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19355178
Điện ảnh, âm nhạc và hội họa
05.05.2013
Tư liệu
Nguyễn Tư Nghiêm - Dương Bích Liên - Nguyễn Sáng - Bùi Xuân Phái

Nguyễn Tư Nghiêm


Theo nhà nghiên cứu mỹ thuật Nguyễn Đỗ Bảo, “trong 8 danh họa và nhà điêu khắc vừa được Nhà nước tặng giải thưởng cao quý Hồ Chí Minh, danh họa Nguyễn Tư Nghiêm thật xứng đáng đứng trong hàng ngũ “bát tú” trên bầu trời nghệ thuật nước nhà. Sự đóng góp lớn lao nhất của ông vẫn là mở ra cho mình một lối vẽ không lặp lại những người đi trước, và sau đó là đức tính kiên trì lao động, sáng tạo nghệ thuật… góp phần tôn vinh nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại”.


Sự nghiệp hội họa của Nguyễn Tư Nghiêm đã được giới chuyên môn và công chúng yêu nghệ thuật ghi nhận, trang trọng xếp vào một trong những vị trí đầu tiên của nhóm “tứ trụ”, thế hệ thứ hai gồm: Sáng (Nguyễn Sáng) – Nghiêm (Nguyễn Tư Nghiêm) – Liên (Dương Bích Liên) – Phái (Bùi Xuân Phái) của thập niêm 1970-1980 bên cạnh 4 “đại thụ” của thế hệ thứ nhất: “Nhất Trí (Nguyễn Gia Trí), nhì Vân (Tô Ngọc Vân), tam Lân (Nguyễn Tường Lân), tứ Cẩn (Trần Văn Cẩn)”.


Danh họa Nguyễn Tư Nghiêm sinh năm 1922 ở huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Từ thời thơ ấu, ông đã thích vẽ. Năm 1941, ông ra Hà Nội thi vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, học cùng khóa với Bùi Xuân Phái, Huỳnh Văn Gấm… khóa XV (1941-1946).


Năm thứ 3, ông được Giáo sư Tô Ngọc Vân, một danh họa nổi tiếng về sơn dầu trực tiếp hướng dẫn. Giáo sư Tô Ngọc Vân hay khuyến khích các học trò vẽ sáng tạo, tránh sự gò bó khuôn sáo… nên học trò Nguyễn Tư Nghiêm tha hồ phá cách.


Nguyễn Tư Nghiêm thường vẽ sơn dầu bằng bay như bức Người gác Văn Miếu, với lối vẽ khá giản lược mà vẫn thành công. Đó là bức tranh “mô-đéc” nhất lúc bấy giờ, làm chấn động giới hội họa với lối vẽ táo bạo, mới lạ. Sau này, năm 1944, bức Người gác Văn Miếu được Hội đồng giám khảo Triển lãm Mỹ thuật Salon Unique tặng giải nhất.


Có câu chuyện khá thú vị về tài học của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm như sau: Nguyễn Tư Nghiêm và Huỳnh Văn Gấm luôn tìm tòi lối vẽ phá cách, khác với lối vẽ hiện thực cổ điển.


Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương vào những năm cuối, do sơn dầu thiếu nên giáo sư Joseph Inguimbenty rất khắt khe trong việc cấp sơn dầu cho sinh viên sáng tác.


Riêng Nguyễn Tư Nghiêm thì ngoại lệ: luôn được thầy cấp cho nhiều sơn dầu để vẽ. Họa sĩ Nguyễn Sáng thắc mắc thì được giáo sư Joseph Inguimberty trả lời: “Nghiêm vẽ sơn dầu tôi cho 20 điểm, còn các anh thì tôi cho Deux zéros (hai điểm 0!)”.


Tranh của ông màu không tươi rói, rực rỡ, lại có phần hơi đục nhưng hòa sắc thâm trầm, khúc triết, hài hòa trong từng mảng miếng đột ngột, bất ngờ. Đường nét đơn giản, khỏe khoắn, được cách điệu trên cái hồn điêu khắc dân gian. Đó là thế giới khắc gỗ đã thăng hoa dưới nét cọ Nguyễn Tư Nghiêm.


Nét vẽ của danh họa Nguyễn Tư Nghiêm trong họa phẩm Múa sư tử thì không chê vào đâu được. Những hình dáng, những khuôn mặt méo mó, xộc xệch, nhưng lại là những méo mó chủ ý và có duyên tạo nên một hiệu quả nghệ thuật bậc thầy mà những nghệ sĩ non tay không thể và không dám làm.


Năm 1945, ông về quê tham gia Việt Minh và là cán bộ Ủy ban kháng chiến Nam Đàn. Năm 1947, ông lên chiến khu Việt Bắc. Năm 1952, ông là sinh viên đầu tiên được công nhận tốt nghiệp khóa kháng chiến Việt Bắc và sau đó trở thành giảng viên khóa mỹ thuật đầu tiên của trường do họa sĩ Tô Ngọc Vân làm hiệu trưởng.


Với sự mẫn cảm của người nghệ sĩ, Nguyễn Tư Nghiêm đã tạo dựng một phong cách nghệ thuật đặc biệt từ việc học tập mỹ thuật dân tộc, kết hợp giữa quá khứ với hiện đại. Những phù điêu trong đình, chùa là nơi ông tiếp thu tinh hoa truyền thống và lấy cảm hướng sáng tạo.


Họa phẩm Điệu múa cổ là một ví dụ điển hình từ việc học tập, ảnh hưởng vốn mỹ thuật truyền thống của ông. Tác phẩm nghệ thuật của Nguyễn Tư Nghiêm vừa mang đậm bản sắc dân tộc vừa hòa quyện cùng hơi thở cuộc sống.


Thời đó, trong lúc các họa sĩ khác đang loay hoay tìm lối vẽ riêng cho mình thì ông đã rất vững vàng trong bút pháp và lối vẽ cách điệu phóng khoáng cho dù tác phẩm đó là bột màu, sơn dầu hay sơn mài…


Bức Con nghé quả thực – sơn mài, màu sắc đẹp, phong phú nhưng còn mang chất hiện thực. Bức này hiện đang được lưu trữ ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Ở lĩnh vực tranh Tết, các đồng nghiệp chỉ hứng thú khi vẽ các con vật có hình thù đẹp như rồng, hổ, ngựa, gà… Nguyễn Tư Nghiêm vẽ tất cả các con vật trong 12 con giáp, con nào cũng được ông thêm bớt các chi tiết cực đắt để nâng lên thành hình tượng nghệ thuật hấp dẫn.


Như bức Tết năm Mùi, với lối vẽ cách điệu quen thuộc, những đường nét thẳng, đơn giản, khúc triết và khỏe khoắn kết hợp với gam màu trầm, đặc biệt vú con dê mẹ được ông nhấn to, căng tròn trong khi con dê con đang bú say sưa… Bức tranh thấm đẫm chất phồn thực, mang hiệu quả thẩm mỹ cao.


Trong lĩnh vực hội họa, Nguyễn Tư Nghiêm là một họa sĩ luôn khám phá, đào sâu thể nghiệm và không bao giờ cho phép bằng lòng với chính mình. Cùng một chủ đề, ông có thể làm đi làm lại mãi: ví như từ Thánh Gióng (1976) đến Thánh Gióng (1990) là một chặng đường dài của những chắt lọc, tìm kiếm ngôn ngữ kỳ công.


Nguyễn Tư Nghiêm là một trong số ít họa sĩ nước nhà thực sự trở về với cội nguồn dân tộc, tìm kiếm những gì gần gũi với vốn cổ dân tộc, mang âm hưởng nghệ thuật dân gian để sáng tạo nên một phong cách mỹ thuật Việt Nam hiện đại.


Cho dù mãi đến năm 1984 ông mới có được một cuộc triễn lãm của riêng mình tại thủ đô Hà Nội, song người ta vẫn coi ông là một trong những người “mở đường” cho nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại và xứng đáng là một trong “bát tú” trên bầu trời mỹ thuật Việt Nam.


 


Nguồn: Tạp chí Hồn Việt


 


Dương Bích Liên


(17 tháng 7 năm 1924 – 12 tháng 12 năm 1988) là một hoạ sĩ Việt Nam. Ông đặc biệt thành công với những tác phẩm về chân dung thiếu nữ (Phố Phái, gái Liên). Dương Bích Liên là một trong nhóm tứ kiệt của làng hội hoạ Việt Nam: Nghiêm, Liên, Sáng, Phái.


Dương Bích Liên sinh tại Hà Nội trong một gia đình trí thức quan lại. Ông là con trai duy nhất của một quan tri phủ. Quê gốc của ông ở làng Phú Thị, tổng Mễ Sở, phủ Khoái Châu (nay là thôn Phú Thị, xã Mễ Sở, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên). Dòng họ Dương của ông ở Khoái Châu có truyền thống hiếu học, thời nào cũng có văn nhân khoa bảng và những người đỗ đạt cao.


  Bước ngoặt


Xuất thân trong một gia đình quyền thế và giàu có, nhưng năm 17 tuổi, ông trở nên yêu thích nghệ thuật, nảy ra ý muốn từ bỏ cảnh sống giàu sang để chạy theo cuộc đời gió bụi.


Năm 1941, Dương Bích Liên gặp họa sĩ Hoàng Lập Ngôn. Khi đó Hoàng Lập Ngôn vừa thiết kế xong chiếc xe ngựa và đặt tên cho chiếc xe tự chế của mình là Nhà Lăn Mê Ly, hoạ sĩ dùng chiếc xe ngựa kéo này làm phương tiện giao thông để đi vẽ người và trực cảnh khắp đó đây. Dương Bích Liên được họa sĩ Hoàng Lập Ngôn nhập hội, lên xe lăn xuyên Việt.


Chiếc xe "Nhà Lăn Mê Ly" tưởng sẽ phiêu du đất trời dài lâu nhưng chỉ lăn được đến Thanh Hoá thì quan phủ sai người đi truy tìm. Người nhà quan phủ tìm ra "Nhà Lăn Mê Ly" và áp giải cậu công tử về nhà.


Sau chuyến lãng du mang tính chất số mệnh đó, Dương Bích Liên quyết định ghi tên theo học Trường Cao Đẳng Mỹ Thuật Đông Dương. Từ đây, Dương Bích Liên bắt đầu sự nghiệp hội họa.


 Thời kì sáng tác


Dương Bích Liên là một trong những học trò cuối cùng của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương. Ông học khoa Hội họa, khóa XVIII (1944-1945).


Năm 1946, Dương Bích Liên và nhiều trí thức văn nghệ sĩ Hà Nội tham gia kháng chiến chống Pháp. Ông hoạt động ở đoàn kịch của Phạm Văn Khoa, Đoàn văn công của Nguyễn Xuân Khoát, vào Đoàn Văn hóa kháng chiến cùng với họa sỹ Tô Ngọc Vân, Thế Lữ..., làm báo “ Vệ quốc đoàn”.


Năm 1949, ông là một trong những hoạ sỹ đầu tiên được kết nạp Đảng tại vùng kháng chiến cùng một ngày với hoạ sỹ Mai Văn Hiến và nhà văn Trần Đăng.


Năm 1952, ông được giao trọng trách lên chiến khu sống gần và vẽ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tác phẩm Hồ Chủ tịch qua suối đoạt giải nhất Triển lãm mỹ thuật toàn quốc 1980 và hiện được bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Năm 1954, Dương Bích Liên trở về tiếp quản thủ đô. Được tổ chức biên chế vào “tổ sáng tác” cùng các họa sỹ Bùi Xuân Phái, Nguyễn Sáng...


Năm 1968, ông đi thực tế ở mỏ than Quảng Ninh cùng các họa sỹ: Nguyễn Tiến Chung, Bùi Xuân Phái, Nguyễn Tư Nghiêm, Nguyễn Sáng, Huỳnh Văn Gấm...


Giai đoạn sáng tác sung sức nhất của Dương Bích Liên là vào thập niên 70. Trong thời gian này, ông đã gửi các tác phẩm của mình tham dự triển lãm nhưng chúng sớm bị loại, như bức Hào và bức Bác Hồ nói chuyện với Vệ Quốc Quân. Riêng bức thứ 2, sau khi bị loại, người ta không còn thấy tăm tích tác phẩm này nữa. Bức tranh mô tả cảnh Hồ Chí Minh đang nói chuyện với người lính Vệ Quốc Quân ở trong Chiến khu Việt Bắc. Lý do bức tranh bị loại là họa sĩ đã vẽ người lính nhắm mắt trong khi vị lãnh tụ đang nói chuyện. Theo cách thanh minh của Dương Bích Liên, chỉ khi nào người ta extreme ( cực sướng) thì người ta thường nhắm mắt. Nhưng vào thời thời đó, không ai dám nghe theo cách diễn giải của hoạ sĩ.


Người ta cho rằng ông đã tự ái và đau buồn vì sự lạnh nhạt của nhân thế đối với những tác phẩm của mình, thế nên về cuối đời ông đã gần như không có hứng thú sáng tác nữa.


Năm 1984, Nhà nước chính thức mời bộ tứ Nghiêm, Liên, Sáng, Phái tổ chức triển lãm cá nhân. Riêng Dương Bích Liên từ chối. Do vậy, lúc sinh thời, ông là một họa sĩ không có cuộc triển lãm nào cho riêng mình.


 Những ngày cuối đời


Trước khi mất vài chục ngày, Dương Bích Liên bảo bạn ông là Nguyễn Hào Hải mang ông trở về 55 Bà Triệu. Ông muốn được chết ở nhà của mình. Dương Bích Liên lựa chọn một cái chết lặng lẽ, không bệnh tật, không đau ốm mà tịch cốc không ăn chỉ uống rượu.


 


Trong 20 ngày sau cùng của họa sỹ, Nguyễn Hào Hải là người duy nhất thường xuyên qua lại thăm nom bên cạnh họa sỹ. Sau khi Dương Bích Liên mất, Hào Hải đã có bài viết về 20 ngày cuối cùng của họa sỹ Dương Bích Liên đăng trên tạp chí Mỹ thuật.


Trước khi chết, Dương Bích Liên có một ước nguyện: "Sau này, trong cái ngày tiễn đưa tôi về bên kia thế giới, tôi không muốn có ai là người lớn, tôi muốn đưa tiễn tôi là một đứa bé ăn mặc thật đúng điệu. Chỉ có đứa bé ấy, đi lững thững bên chiếc xe ngựa chở cái xác không hồn của tôi ra nghĩa trang".


Dương Bích Liên mất khoảng 9h sáng ngày 12 tháng 12 năm 1988. Tối hôm trước đó, Nguyễn Hào Hải trò chuyện với họa sỹ gần 2h đêm mới trở về nhà. Phan Kế Bảo, người hàng xóm của họa sỹ lên gọi cửa không còn nghe thấy tiếng họa sỹ trả lời, nhòm qua khe cửa thấy cánh tay của họa sỹ buông thõng xuống giường. Ông vội vã lên Viện Triết học báo tin cho Nguyễn Hào Hải.


Đám tang của Dương Bích Liên người ta không thể làm theo ý nguyện của ông. Vài tháng sau khi họa sỹ mất, các nhà làm phim dựng lại toàn bộ đám tang của người bạn tri âm tri kỷ mà họ yêu mến. Trong phim, có một bé trai ăn mặc điệu theo kiểu châu Âu, lững thững sau xe ngựa chở cỗ quan tài, vừa đi vừa rắc những cánh hoa xuống hai ven đường, trong khung cảnh của trời chiều mùa thu.


 Con người


Trong nhóm tứ kiệt Nghiêm, Liên, Sáng, Phái, Dương Bích Liên ít được nhiều người biết đến bởi ông đã "tự nguyện chọn tiếng im lặng của hội họa làm bản thân". Ông sống cô đơn, thu mình lặng lẽ, trốn chạy chính mình và trốn chạy những khát vọng.


Dương Bích Liên sống không gia đình, không vợ con, không họ hàng, và ít bạn hữu. Căn nhà nhỏ ở 55 Bà Triệu của ông trống không, đồ đạc chỉ một chiếc giường nhỏ quanh năm phủ ga trắng muốt, một chiếc võng và một bàn một ghế độc nhất. Sinh thời, ông có rất ít bạn thân ngoại trừ Bùi Xuân Phái và Nguyễn Sáng.


 


Nhà phê bình Phan Cẩm Thượng viết về Dương Bích Liên:


"Nếu cùng thời với các danh hoạ hàng đầu Trường Đông Dương, chắc ông còn mơ mộng hơn họ, bởi phẩm chất mơ mộng chiếm toàn bộ nghệ thuật của ông, dù đôi lúc được trình bày dưới vẻ khắc nghiệt. Ông không bám vào một cảnh trí như Bùi Xuân Phái, không trầm kha vào các ý tưởng số phận như Nguyễn Sáng, mà tinh tế đứng bên ngoài cái mình vẽ ra vừa như là một sự kiện hiện hữu có thực, vừa như chuyện bịa, cảnh nằm mơ".


Hoạ sĩ Dương Bích Liên là người dành cả cuộc đời cho nghệ thuật đến mức lơ đãng và quên chính bản thân mình.


 Sự nghiệp


Dương Bích Liên là một họa sĩ cách mạng đầu tiên trong làng hội hoạ Việt Nam. Là một hoạ sĩ tài ba, tâm huyết, Dương Bích Liên rất say mê vẽ, ngay cả trong những ngày chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ diễn ra ác liệt nhất, ông cũng không rời giá vẽ. Sự nghiệp hội hoạ của Dương Bích Liên là một tài sản quý của kho tàng Mỹ thuật Việt Nam.


Năm 2000, họa sỹ Dương Bích Liên được Nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học Nghệ thuật (đợt II).


  Quan điểm nghệ thuật


Dương Bích Liên không có ý dày công cất giữ những sáng tạo của mình. Khi chết, ông muốn được đốt hết những bức tranh đã vẽ. Tác phẩm của ông còn lại ngày hôm nay là hàng trăm bức tranh, chủ yếu là do bạn bè quý mến ông và nâng niu cất giữ.


Trường phái hội hoạ


Dương Bích Liên dày công nghiên cứu các phong cách, trào lưu nghệ thuật thế giới. Ông thiên về vẽ chân dung, rất nổi tiếng với đề tài thiếu nữ. Mọi chất liệu đều được ông thể hiện nhuần nhuyễn, độc đáo, siêu thoát đặc biệt là các thể loại sơn mài, sơn dầu, phấn và chì than.


 


Đề tài


Nhìn vào sự nghiệp sáng tác của ông có đến 2/3 tác phẩm về đề tài phụ nữ, trong đó có những tác phẩm là tuyệt tác của hội hoạ Việt Nam hiện đại, với hành ngữ của giới mộ điệu:    " Phố Phái, Gái Liên". Dương Bích Liên dành nhiều sáng tác cho đề tài thiếu nữ với bao tình cảm ưu ái, say mê và trìu mến nhất. Các nhân vật nữ luôn là những nguồn cảm hứng, những hình ảnh trung tâm của những biểu cảm thẩm mỹ và lý tưởng thẩm mỹ. Chân dung thiếu nữ của ông rất đa dạng, là những cô gái đẹp ông nhận ra và bắt gặp trong cuộc sống đời thường, mang một ánh sáng dung dị, thánh thiện trong trẻo.


Tác phẩm nồi tiếng


 


    Đi học đêm.(sơn dầu)


    Ngày mùa. (sơn dầu)


    Chiều vàng. (sơn mài)


    Chiều biên giới.


    Lều hoang.


    Dĩ vãng.


    Hai em bé bên sông Hồng.


    Bác Hồ qua suối.


    Hào.


    Đi cấy sau mùa lũ.


    ...


 


Chân dung Thiếu nữ


    Thiếu nữ và hoa cúc trắng.


    Thiếu nữ và hoa phong lan.


    Thiếu nữ bên hồ.


    Thiếu phụ.


    Chân dung.


    Tuyết Mai.


    Gửi lời chào Jacqueline Picasso.


 


Nguyễn Sáng - Người tận hiến


              


Các tác phẩm của Nguyễn Sáng mang rõ những thông điệp lớn về thân phận con người, khẳng định một tài năng lớn của sáng tạo hiện đại cho nền mỹ thuật Việt Nam, sống và vẽ, dấn thân và quyết liệt cho sáng tạo…


 


Người lữ hành cô độc


Sinh năm 1923 tại Mỹ Tho, khác với những người trong gia đình, Nguyễn Sáng chọn cho mình một con đường riêng mang tên: nghệ thuật. Kể từ đấy bắt đầu cuộc vật vã hóa thân mệt nhọc, cuộc chạy đua kiệt sức tới những bến bờ vô định của cái đẹp. Cuộc kiếm tìm quên ngày tháng, đói nghèo, thiệt thòi và bất hạnh.


Là người thích hội họa chính thống, Nguyễn Sáng đã làm một cuộc viễn du đất Bắc, bởi “Chỉ có ở đấy mới hợp với cái tạng và ước vọng sinh thành của người nghệ sĩ”. Năm 1938-1939, từ Sài Gòn ông ra Hà Nội thi đỗ vào Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương khóa XIV (1940-1945). Tháng 8-1945, ông tham gia cách mạng ở Hà Nội. Cuối tháng 12-1946, ông lên chiến khu Việt Bắc. Cũng năm này, Nguyễn Sáng vẽ bộ chân tem chân dung Hồ Chủ Tịch – là bộ tem đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa; ngoài ra ông còn tham gia vẽ giấy bạc cho Bộ Tài chính (còn gọi là giấy bạc Cụ Hồ). Hòa bình lập lại ông về Hà Nội, ở tầng 3, nhà số 65, Phố Nguyễn Thái Học.


Nguyễn Sáng là một người lữ hành cô độc đúng cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Trong sáng tác ông thăng hoa bay bổng chừng nào thì trong cuộc sống thường nhật ông túng quẫn chừng ấy. Khi những người cùng thời với ông, buồn cho số phận còn được tình yêu chia sẻ, mất tình yêu còn được cuộc sống đền bù… thì ông “chẳng có gì ngoài một tấm lòng và hai bàn tay trắng”. Chính cái nỗi “khó sống” ấy là nguyên cớ cho Nguyễn Sáng dồn hết mọi nỗi niềm, tâm tư vào tranh, nhờ vào đấy chúng ta có một kho tàng nghệ thuật vô giá. Như một tín đồ của mỹ thuật giáo, ông thà tuẫn đạo chứ nhất định không chịu cải đạo. Sự tôn sùng cái đẹp, coi cái đẹp là mục đích của nghệ thuật, chi phối toàn bộ hoạt động nghệ thuật của ông. Tranh Nguyễn Sáng khỏe khoắn và hoành tráng, chính xác và ngang tàng. Như bức Chùa phố Minh – sơn mài, hết sức tinh tế, công phu mà táo bạo, hào phóng, giản lược, chắt lọc mà hàm súc, sung mãn, thể hiện một bút pháp tài hoa bậc thầy. Hơn nữa, Nguyễn Sáng đã khéo léo, tài tình trong việc dung hợp những họa tiết tạo hình của tranh dân gian Việt Nam, mà chủ yếu là tranh hàng Trống, tranh Đông Hồ; hình tượng lớn, mộc mạc, từng mảng lớn, khỏe khoắn, đường nét lớn, phóng khoáng, đơn giản, không chú ý đền tiểu tiết… tạo cảm giác trở về nguồn xa xưa của cha ông. Gắn bó với truyền thống và bản sắc văn hóa dân tộc, kết hợp với lối diễn hình, biểu cảm mới mẻ, hiện đại qua ngôn ngữ nghệ thuật tạo hình phương Tây: lập thể, trừu tượng, siêu thực... làm cho tác phẩm của Nguyễn Sáng vừa mang bản sắc dân tộc vừa chứa đựng cảm quan thời đại.


 


Sáng tạo - bản năng sống


Vỗn sẵn mang trong mình dòng máu phóng khoáng của dân Nam Bộ, cùng sự sâu sắc, tinh tế, hào hoa của người Hà thành đã tạo nên một Nguyễn Sáng đầy cá tính. Nguyễn Sáng vẽ cái gì ra cái đó, và đằng sau sự rõ ràng ấy là cả một kiến thức sâu rộng về mỹ thuật. Ở bức Thiếu nữ bên hoa sen - sơn dầu, một thiếu nữ dịu dàng, khỏe mạnh dáng ngồi như chuẩn bị bay lên. Đấy là hình ảnh của con người mới làm chủ vận mệnh mình, thay cho con người ẻo lả, yếu đuối ngày xưa. Bóng tối phía sau hình con ngựa, gợi cho người xem liên tưởng đến hình ảnh ngựa Gióng của chàng trai làng Phù Đổng.


 


Nguyễn Sáng vẽ chân dung rất đơn giản và hiện thực, lột tả hết cái thần của người mẫu, nhưng được diễn tả cách tân, khoáng đạt không nệ thực. Ông là bậc thầy về mô tả, làm nổi bật cả tính cách lẫn đặc điểm nhân vật. Thế nhưng bức Trong vòm chuối - sơn mài, lại là một không gian thuần khiết và mãnh liệt, thơ mộng và chân thực của làng quê Việt Nam...


 


Năm 1977, Nguyễn Sáng cùng vợ vào Sài Gòn sống tại số nhà 40/05 đường Đinh Tiên Hoàng, quận Bình Thành. Đến năm 1979, sau khi cô Thủy - vợ ông qua đời, ông trở lại Hà Nội. Nếu cô đơn là bản chất của nghệ thuật thì Nguyễn Sáng là một nghệ sĩ thứ thiệt, nghệ sĩ từ trong cội nguồn. Ông không màng công danh địa vị, không lo cho cuộc sống đời thường, chỉ tập trung vẽ.


Mang nhu cầu nghệ thuật và sáng tạo như một bản năng sống. Nguyễn Sáng tâm sự: “Nếu không phải vì nghệ thuật, anh có rải tiền đầy đường tôi cũng giẫm lên mà đi, còn vì nghệ thuật tôi có thể nhặt từng đồng xu để sống”. Đó là tuyên ngôn sống của Nguyễn Sáng - một họa sĩ tài danh, ngang ngạnh, gai góc và thất thường. Với ông, nghệ thuật bao giờ cũng bắt đầu bằng tình yêu, lòng thành kính và sự tự nguyện hiến dâng.


 


Người bẻ bước ngoặt xuống dòng ngôn ngữ cho nền hội họa mở


Nghệ thuật của Nguyễn Sáng gắn liền với lịch sử cách mạng, lịch sử nghệ thuật dân tộc. Ông là một họa sĩ hàng đầu của hội họa cách mạng Việt Nam; là một trong số những họa sĩ có tác phẩm đẹp nhất về đề tài chiến tranh cách mạng với những: Giặc đốt làng tôi, Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ, Hành quân đêm mưa, Bộ đội nghỉ trưa trên đồi, Thành đồng Tổ quốc… Được biết, có bảo tàng nước ngoài muốn có bức Kết nạp Đảng ở Điện Biên Phủ để triển lãm, họ đã đặt bảo hiểm cả triệu USD.


Bằng sự mẫn cảm nghệ thuật bậc thầy, Nguyễn Sáng là một trong số ít họa sĩ nước nhà thực sự trở về cội nguồn dân tộc, tìm kiếm những gì gần gũi với đời sống mang âm hưởng nghệ


Sáng- Nghiêm-Liên-Phái vẫn được xưng tựng như những đỉnh cao nghệ thuật nước nhà, bên cạnh bộ tứ đàn anh: nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn


 


Nghệ thuật dân gian. Ông đã làm một cuộc cách tân đáng kể trong lĩnh và sơn dầu và nhất là sơn mài, là người “có công lớn trong việc bẻ một bước ngoặt ngôn ngữ cho nền hội họa mới chúng ta” (Thái Bá Vân). Năm 1987, ông quay trở lại Sài Gòn, và ngày 16-12-1988, bước lãng du nghệ thuật của một danh họa tài năng lắm truân chuyên đã dừng bước. Tên ông đã được ghi trong cuốn Từ điển Bách khoa Larousse của Pháp. Thành công của Nguyễn Sáng chính là qua tranh, ông đã nêu bật được cái nhạc điệu tâm hồn của người đương thời, những thứ biến thiên theo thời gian, nên những bức tranh này như một sự lưu trữ tâm trạng của quá khứ. Càng ngày càng trở nên vô giá.


 


Trịnh Chu


Nguồn:  Tạp chí Người đô thị


 


Bùi Xuân Phái - Hoạ sĩ của Hà Nội


Đã có lần người ta thử đặt câu hỏi rằng: nếu hội họa Việt Nam vắng đi gương mặt Bùi Xuân Phái? Câu trả lời là không thể được ! Sẽ có một khoảng trống rất lớn không sao bù đắp nổi. Bùi Xuân Phái được coi là họa sĩ Việt Nam nổi tiếng nhất ở nước ngoài đã đành, song đấy mới chỉ là một phần. Nền mỹ thuật có thể thiếu đi một tên tuổi, nhưng không thể thiếu đi những tác phẩm vào loại đẹp nhất, phản ánh sâu xa nhất tinh thần dân tộc Việt - những phố cổ, chèo, chân dung... - chỉ Bùi Xuân Phái mới vẽ ra được. Đó là những tác phẩm của một thời, một thủa, vừa mới gần đây mà như đã rất xa và có lẽ sẽ không quay lại được.


 


Bùi Xuân Phái là họa sĩ đúng với ý nghĩa thuần khiết nhất của danh từ này, một họa sĩ với một tài năng lớn. Sinh năm 1920 tại Hà Nội, Bùi Xuân Phái vào học Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, khóa cuối cùng (1941-1946), thời ấy, ông chưa có gì nổi trội so với rất nhiều tên tuổi trong nền mỹ thuật hiện đại. Đúng ra là phải vào thập niên 70, khi người Hà Nội chợt nhận ra rằng đã từ lâu có một "Phố Phái" hiện hữu, đầy ắp trong lòng thành phố của mình, cho đến bây giờ người ta mới hiểu Bùi Xuân Phái đã "như một mạch nước ngầm, ngày càng lan rộng và thẩm thấu chân thành đến tận cùng những tâm hồn xa lạ" (Thái Bá Vân), người ta mới nhận ra tầm vóc của ông. Tuy nhiên, khi còn là học sinh Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, Bùi Xuân Phái đã vẽ phố và đã đi dự triển lãm ở Tô-ki-ô, đã nhận giải thưởng Triễn lãm Mỹ thuật loàn quốc năm 1946. Ngoài Giải thưởng Hồ Chí Minh lớn lao dành cho cả cuộc đời sáng tác của mình, Bùi Xuân Phái đã từng nhận nhiều giải thưởng khác (Mỹ thuật toàn quốc 1980; Mỹ thuật Thủ đô 1969, 1981, 1983, 1984; Giải thưởng đồ họa Leipzig...). Song sự ghi nhận lớn nhất mà ông giành được thì không chỉ ở các giải thưởng, mà ở một cái tên cả nước Việt Nam đều biết. cái tên "Phố Phái". Mỗi con đường, mỗi phố đều mang tên một danh nhân, còn những phố, đường mang tên "Phố Phái" thì nhiều không ai đếm được. Nó tồn lại trong hoài niệm của rất nhiều người, dù thành phố đổi thay bao nhiêu, những nơi gợi lại bóng hình "Phố Phái" vẫn là nơi chứa chan nhiều cảm xúc.Suốt hơn 40 năm, Bùi Xuân Phái dành cho Hà Nội tất cả tình yêu của mình. Ông sống chỉ để vẽ, ông "mắc bệnh" vẽ, vẽ vào bất cứ lúc nào, bất cứ chỗ nào có thể vẽ được. Vẽ với ông là sống và thở. Từ một tấm toan đến một mảnh giấy báo, từ một bìa sách đến một vỏ bao thuốc lá... ông tạo nên hàng nghìn bức vẽ khác nhau về phố cổ - Những tranh phố của ông đủ để dựng một thành phố thật, thân thiết với những Hàng Khoai, Hàng Mắm, Hàng Chĩnh, Hàng Rươi, nhưng là một thành phố của kí ức bâng khuâng đến từng mảng tường vôi lở, từng mái ngói rêu phong đổ bóng thời gian và bao nhiêu ô cửa nhỏ đăm đắm đợi chờ. Cả đến những áng mây trắng ngần trĩu nặng niềm ưu tư thanh khiết, và những cột điện đầu ngõ xiêu vẹo mong manh... Tất cả đều để gợi nhớ chứ không để tả. Một bút pháp vừa thực vừa hư, gây ấn tượng một cách sâu sắc, nó làm người ta không ngờ những nơi bình dị mắt ta quen nhìn hàng ngày lại có thể đẹp một cách giản dị mà mãnh liệt đến thế. Nhà phê bình mỹ thuật Thái Bá Vân viết : "Hà Nội rất hội họa ở nhũng phố phường xưa. Và có thể nói công bằng, theo cách của nghệ thuật rằng Bùi Xuân Phái đã phát hiện ra nó. Là người Hà Nội, hình tượng được sinh ra là để gắn bó, để cảm hóa chúng ta về một thế giới hình thể và màu sắc của riêng đây. "Phố Phái" là phố của chung tất cả mọi người, ông chỉ là người phát hiện ra nó - người đầu tiên và sau ông, hình như vẫn chưa có ai, dù đã có rất nhiều họa sĩ mê say đi tìm vẻ đẹp nơi rêu phong phố cổ".Một mảng tranh nữa mà Bùi Xuân Phái cũng được coi là người độc quyền - mảng chèo - cũng không thể biết được ông đã vẽ bao nhiêu bức chèo lớn và nhỏ. Bớt trầm tư, cô tịch hơn mảng tranh phố, những bức chèo của Bùi Xuân Phái chứa đựng cái thẩm mỹ dân gian hóm hỉnh của làng xã Việt Nam. Những hề say, hề gậy, những đào lệch, đào thương... được làm sống động bằng một ngôn ngữ hội họa cũng nôm na, ước lệ như diễn xuất chèo. Các nhà phê bình cho rằng ứng xử thẩm mỹ của Bùi Xuân Phái với cái sân khấu chèo của mình là thân thiện và nhân tình. ông tự nhập thể vào cuộc hội hè với những âm thanh và nhịp điệu của làng xã Việt Nam với ý thức khám phá thêm một sắc màu hội họa dân tộc. Nhưng ông không kể lể như chèo : ông làm nên một ngôn ngữ chèo. Nhân vật của ông, những biến thiên ngàn năm của người nông dân đồng bằng Bắc Bộ xuất hiện đầy chất thơ, sâu sắc và nhẹ nhõm. Năm 1960, Bùi Xuân Phái làm trang trí cho vở chèo Sợi tơ vàng, có lẽ ông phát hiện ra chèo từ đấy, và tạo ra một thế giới riêng, cho mình và cho chèo. Khác hẳn với phố cổ, mảng tranh chèo, những minh họa cho tập sách về Hề chèo năm 1977, cho tập Thơ Hồ Xuân Hương in sau đó... khiến người ta phát hiện ra một Bùi Xuân Phái trẻ trung, dí dỏm, đậm chất "u-mua". Trước và sau ông, chưa có ai làm được như vậy. Tên của ông vẫn là một đỉnh dốc chưa có ai vượt qua.Không chỉ có phố cổ, không chỉ có chèo, không chỉ có chân dung - mảng chân dung mà Nguyễn Quân đã nhận xét : "...Tự họa và chân dung của ông không là gương soi của diện mạo mà là gương soi của đường điện tâm đồ cảm xúc bên trong, ở dưới mặt tranh, lịch sử của cá nhân, nắng gió của thời gian, dấu vết của lao động, của đau đớn và niềm tin, đọng lại như dấu ấn của số phận, kỷ niệm của đời người". Bùi Xuân Phái còn có những bức thật đẹp về nhiều miền khác nhau của Tổ quốc : Mỏ than, Xúc than vào lò, Phân xưởng nhuộm, Hòa Bình, Cát Bà, Cảng Đà Nẵng, phố cổ Hội An... Điều kỳ lạ là ông vẽ giản dị thế, mà người ta có thể nhìn mãi không biết chán những bức tranh của ông, dù một chủ đề, ông vẽ cả trăm, cả nghìn bức cũng vậy. Người ta nhận ra ông, không thể lẫn với ai, ở từng nét vẽ, từng mảng màu. Những đường viền đậm đặc và run rẩy, những gam nâu, xám, những đốm đỏ, cam bất chợt rực cháy...đặc trưng của Bùi Xuân Phái luôn luôn làm người ta kinh ngạc vì sự đơn giản đến lạ lùng của nó.Những tập hợp tranh của ông, những bài viết về ông thật phong phú. Trần Hậu Tuấn, nhà sưu tập đã khởi nghiệp bằng lòng yêu mến các tác phẩm của Bùi Xuân Phái, đã in ba cuốn sách về ông và vẫn nuôi ý định xuất bản tiếp một cuốn sách lớn, gần như toàn bộ tác phẩm của ông, vào năm 1998 nhân kỷ niệm 10 năm ngày mất của Bùi Xuân Phái.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhạc sĩ Lê Thương và 70 năm Hòn Vọng Phu - Tư liệu sưu tầm 23.05.2017
Cục Nghệ thuật biểu diễn làm sai lệch nhạc Phạm Duy - Tư liệu 22.05.2017
Cannes: Đẹp nên bị ghét và giỏi nên được yêu - Tư liệu 18.05.2017
Tượng đài không biết để đâu vẫn là vấn đề của TP.HCM - Tư liệu 14.05.2017
Sở Văn hóa Thể thao TP.HCM lý giải việc cấm ca khúc xưa - Tư liệu 27.04.2017
Người đẹp 'Kong: Skull Island' cô đơn vì... nổi tiếng - Tư liệu 27.04.2017
Ca khúc trước 1975 và sự im lặng khó hiểu của Sở VH-TT TP.HCM - Quỳnh Nguyễn 26.04.2017
“Leningrad – Thành phố thân thương đến phát khóc...” - Tư liệu 05.04.2017
Dạ cổ hoài lang: kịch bản lỗi, và khung hình không điện ảnh - Nhiều tác giả 30.03.2017
Gởi hai chú Lưu, Kha/ Về ca khúc Con đường xưa em đi - Đỗ Duy Ngọc 20.03.2017
xem thêm »