tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21290784
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
20.11.2016
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (13)

Vừa đi lại và ra khỏi nhà được, tôi muốn trở về nhà chồng cũ. Nhưng đến nơi, tôi chỉ nhìn thấy một bãi đất trống. Chồng tôi trong cơn giận, không chỉ bằng lòng sai người triệt hạ nó mà còn san bằng tất cả dãy phố có nhà tôi. Sự cường bạo chưa từng thấy thật đấy, song tôi biết kiện ai? Người gây ra chuyện đã tính trước nên đã giấu tên, tôi không có cách gì biết rõ. Vả chăng, cho dù tôi có biết, thì tôi cũng phải thấy rằng, cách thức đối xử ấy chẳng phải bắt nguồn từ một quyền lực tuyệt đối đó sao? Làm sao tôi dám đi thưa kiện?


Buồn bã, trong tay không còn có gì, tôi đành trở về với chị gái Zôbêít thân yêu của tôi, người mà bệ hạ vừa nghe thuật chuyện. Tôi kể cho chị tôi nghe chuyện mình bị hắt hủi. Chị tiếp đón tôi với tấm lòng nhân hậu và nói: "Cuộc đời là như thế đấy, thông thường nó tước đoạt của ta tài sản, bạn bè hoặc người yêu, hoặc tất cả những thứ đó cùng một lúc".


Đồng thời để chứng minh điều vừa nói, chị kể cho tôi nghe về cái chết của hoàng tử trẻ do sự ghen tuông của hai người chị ruột của chị gây nên. Chị lại kể cho tôi nghe tiếp chuyện hai người này bị hóa kiếp thành chó như thế nào. Sau khi hết lời an ủi vỗ về tôi, chị giới thiệu chị gái tôi cũng đã về đây ở với chị từ sau khi mẹ tôi qua đời.


Thế là, sau khi tạ ơn Thượng đế đã cho chị em chúng tôi đoàn tụ, chúng tôi quyết định ở vậy cùng nhau, từ nay không bao giờ xa nhau. Chúng tôi sống cuộc đời thanh bình như vậy đã lâu. Vì tôi được giao việc chi tiêu trong gia đình, tôi lấy làm thích thú tự mình đi mua sắm những thức ăn vật dụng cần thiết. Hôm qua, đi mua hàng, tôi nhờ một gã khuân vác đầu óc thông minh và tính tình dễ mến, đưa về nhà. Chúng tôi giữ anh lại chuyện vãn cho vui. Vào chập tối có ba khất sĩ đến xin chúng tôi cho nghỉ nhờ đến sáng hôm sau. Chúng tôi tiếp họ với một điều kiện mà họ chấp thuận. Sau khi được mời dùng bữa, họ mừng chúng tôi một bản hòa tấu theo cách của họ, thì chợt nghe tiếng gõ cửa. Đấy là ba nhà buôn ở Mútxun, người nào trông cũng rất chững chạc. Họ cũng yêu cầu chúng tôi một điều như các khất sĩ. Chúng tôi cũng đồng ý với cùng điều kiện ấy. Nhưng không một ai chịu tôn trọng điều kiện cả. Tuy nhiên, mặc dù chúng tôi có đủ tư cách cũng như quyền lực trừng phạt họ về việc đó, chúng tôi chỉ đòi hỏi họ kể cho nghe chuyện về đời mình. Chúng tôi cũng chỉ hạn chế sự trả thù vào cái việc là sau đấy mời họ ra khỏi nhà, không cho phép họ được nghỉ nhờ cho đến sáng như họ yêu cầu lúc mới đến mà thôi".


Hoàng đế Hanrun An-Rasít rất hài lòng về việc mình đã rõ cả những điều muốn biết. Vua công khai bày tỏ sự thích thú đối với những chuyện vừa nghe kể.


Sự hiếu kỳ đã được thỏa mãn, hoàng đế muốn tỏ rõ quyền uy và lòng hào hiệp của mình đối với ba khất sĩ hoàng tử và sự nhân từ đối với ba thiếu phụ. Không thông qua vai trò của tể tướng như thường lệ, vua tự mình truyền với nàng Zôbêít: "Thưa bà, bà tiên mà thoạt đầu bà phải tuân theo một luật lệ khắt khe, bà tiên ấy có nói cho bà rõ chỗ ở hay là có hứa hẹn sẽ lại gặp bà để khôi phục nguyên hình cho hai con chó cái kia không?".


- Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, - nàng Zôbêít đáp, - tôi quên chưa tâu để bệ hạ rõ là bà tiên ấy có trao cho tôi một nắm tóc nhỏ. Bà dặn rằng một ngày nào đó có thể tôi sẽ cần đến sự có mặt của bà. Lúc ấy, tôi chỉ cần đốt cháy hai sợi tóc là bà sẽ đến ngay tức khắc, cho dù bà đang ở bên kia dãy núi Côcadơ.


- Mớ tóc ấy đâu rồi, thưa bà? - Hoàng đế lại hỏi.


Nàng đáp, từ dạo ấy nàng vẫn chú ý luôn luôn mang theo bên người. Quả vậy, nàng lấy mớ tóc ra, rồi hé tấm rèm cửa che giữa nàng và vua, nàng đưa cho Người. Hoàng đế nói: "Thế thì chúng ta hãy mời bà tiên đến đây. Bà làm việc đó lúc này đúng hơn lúc nào hết. Ta muốn như vậy".


Nàng Zôbêít đồng ý. Người ta mang lửa đến. Nàng bỏ vào đó cả món tóc. Lập tức cung điện rung chuyển.


Bà tiên hiện ra trước mặt hoàng đế dưới dạng một người đàn bà ăn mặc tuyệt đẹp. "Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, - bà tiên nói, - tôi sẵn sàng tuân lệnh bệ hạ. Bà vừa gọi tôi đến đây từng giúp tôi một việc quan trọng. Để biểu lộ lòng biết ơn, tôi đã trả thù hộ bà ta về sự bất nghĩa của hai chị gái bằng cách hóa kiếp chúng thành chó. Nhưng nếu bệ hạ muốn, tôi sẽ trả lại nguyên hình cho họ".


- Hỡi tiên nữ xinh đẹp, - hoàng đế nói, - bà sẽ làm cho ta hết sức vui lòng. Bà hãy ban cho họ cái ơn ấy. Tiếp đấy, ta sẽ kiếm cách an ủi họ sau một thời gian bị trừng phạt quá nặng nề. Nhưng trước hết, ta còn có một điều nữa yêu cầu bà, hãy giúp cho người đàn bà bị một ông chồng không rõ tính danh đối xử hết sức thô bạo kia. Vì bà tinh thông mọi sự, chắc bà không thể không biết việc này. Xin bà hãy vui lòng nói cho ta rõ tên đứa dã man nào đã không những cho nô lệ đánh đập nàng một cách tàn bạo mà còn tước đoạt rất bất công tất cả tài sản của nàng. Ta lấy làm lạ sao một hành động bất công, vô nhân đạo, xúc phạm đến uy danh ta như vậy mà ta không hề hay biết.


Bà tiên đáp:


- Để làm vui lòng bệ hạ, tôi sẽ cho hai con chó cái trở lại nguyên hình. Tôi sẽ chữa cho người đàn bà này khỏi hẳn các vết sẹo, không còn cái gì tỏ ra là nàng đã từng bị đánh đập bao giờ. Sau đấy, tôi sẽ tâu bệ hạ rõ tên họ kẻ nào đã hành hạ nàng như thế.


Hoàng đế cho người đến nhà nàng Zôbêít tìm hai con chó cái. Khi chúng được dẫn tới, theo yêu cầu của bà tiên, người ta mang đến một cốc nước đầy. Bà niệm những lời không ai nghe rõ, rồi đổ nước lên người nàng Amin và lên hai con chó cái. Hai con chó biến thành hai người phụ nữ xinh đẹp khác thường. Các vết sẹo trên người nàng Amin cũng biến mất. Tiếp đó, bà tiên tâu cùng hoàng đế: "Tâu Đấng thống lĩnh các tín đồ, bây giờ chỉ còn có việc nói để bệ hạ rõ ai là ông chồng mà bệ hạ muốn tìm. Người đó rất gần gũi với bệ hạ, bởi vì đó chính là thái tử Amanh, con trai cả của bệ hạ, anh trai của hoàng tử Amun. Vì say mê đắm đuối người đàn bà này khi được nghe truyền tụng về sắc đẹp của nàng, chàng đã kiếm ra một cái cớ đánh lừa nàng đến nhà và cưới nàng làm vợ. Về trận đòn chàng sai đánh nàng, ít nhiều chàng cũng đáng được tha thứ. Vợ chàng đã hơi quá dễ tính, và những lời nàng đưa ra để biện bạch lại có thể làm cho người ta nghĩ rằng nàng đã sai lầm nặng hơn là sự thực. Đấy là tất cả những gì tôi có thể nói để thỏa mãn sự hiếu kỳ của bệ hạ".


Nói đến đây, bà tiên chào hoàng đế rồi biến mất.


Nhà vua vô cùng khâm phục và hài lòng về những biến đổi vừa xảy ra nhờ có mình. Vua liền có những cử chỉ mà muôn đời về sau người ta vẫn còn nhắc đến. Thoạt tiên, vua cho gọi hoàng tử Amanh đến và bảo là Người đã rõ đám cưới bí mật của chàng, vua nói cho chàng rõ nguyên nhân gây nên vết thương trên má nàng Amin.


Hoàng tử không chờ vua cha phán bảo, chàng xin nhận lại vợ ngay tức khắc.


Sau đấy, hoàng đế tuyên bố nhận Zôbêít làm vợ. Vua lại gợi ý ba chị em kia nên lấy ba khất sĩ con vua. Họ rất biết ơn và nhận cưới ba nàng. Hoàng đế ban cho mỗi chàng một tòa lâu đài tráng lệ trong thành phố Bátđa và cất nhắc họ lên giữ những trách nhiệm cao sang trong nước. Vua cho họ tham dự các công việc cơ mật của triều đình. Viên đệ nhất pháp quan thành phố Bátđa được triệu đến cùng với những người làm chứng, lập các giấy giá thú. Và hoàng đế Harun An-Rasít trứ danh, người mang lại hạnh phúc cho bấy nhiêu người đã trải qua những bước gian truân không sao tưởng tượng nổi, được mọi người vô cùng ca ngợi và hàm ơn.


CHUYỆN XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN


Nàng Sêhêrazát kể:


- Tâu bệ hạ, vẫn dưới triều đại hoàng đế Harun An-Rasít, ở Bátđa có một người khuân vác già tên là Hin- bát.


Một hôm thời tiết oi nồng, lão vác một kiện hàng rất nặng đưa từ đầu này đến đầu kia thành phố, đã thấm mệt mà đường thì vẫn còn xa. Lão đến một phố gió thổi mát rượi, vỉa hè tưới nước hoa hồng. Không thể ước mong được chỗ nào dễ chịu hơn để mà nghỉ ngơi và lấy lại sức, lão đặt kiện hàng xuống đất rồi ngồi lên trên, ngay cạnh một tòa nhà lớn. Trong chốc lát, lão lấy làm thú vị là đã dừng lại nghỉ chân ở chỗ này. Không khí ngào ngạt hương trầm tỏa ra từ các cửa sổ tòa dinh thự, quyện với mùi thơm của nước hoa hồng. Ngoài những thứ đó, lão còn nghe thấy trong nhà vang lên tiếng hòa nhạc. Thêm vào đó là tiếng hát du dương của rất nhiều chim họa mi cùng nhiều loại chim chóc khác đặc sản vùng Bátđa. Nhạc điệu êm đềm quyện với khói thơm của nhiều loại thịt bốc lên, làm cho lão đoán chắc trong nhà đang có yến tiệc và liên hoan. Lão muốn biết ai ở tòa nhà này. Lão chưa rõ lắm bởi vì ít khi có dịp đi qua đây. Để thỏa tính tò mò, lão đến gần mấy người đầy tớ ăn mặc rất đẹp đứng ở cổng và hỏi một người: chủ nhân của dinh thự này tên là gì. "Ô kìa! - người đày tớ đáp - bác sống ở Bátđa mà không biết rằng đây là nhà ngài Xinbát người đi biển, nhà hàng hải nổi tiếng đã đi khắp bốn biển năm châu đó ư?".


Lão khuân vác đã từng nghe nói đến tài sản giàu có của Xinbát. Lão không khỏi ganh tị một con người mà điều kiện sống sung sướng trái ngược hẳn với hoàn cảnh thảm thương của lão. Đầu óc cay cú vì những suy nghĩ ấy, lão ngước mắt nhìn trời và nói khá to để cho mọi người có thể nghe được: "Hỡi Đấng tạo hóa thiêng liêng, xin hãy nhìn sự khác biệt giữa Xinbát và tôi đây. Ngày nào tôi cũng chịu đựng muôn nghìn gian lao khổ cực, thế mà vất vả lắm mới nuôi sống được bản thân và gia đình bằng bánh mì đen nuốt không nổi, trong khi ngài Xinbát may mắn kia thì tiêu phí vô vàn của cải và sống một cuộc đời nhung lụa. Ông ta đã làm gì để được cuộc đời êm đềm như vậy? Tôi đã làm gì để chịu cảnh khốn khổ thế này?".


 Nói xong giẫm chân xuống đất thình thịch như thể một con người hoàn toàn mất trí vì khổ đau và tuyệt vọng.


Hinbát đang mải mê với những ý nghĩ sầu não ấy, thì một người hầu từ trong dinh ra, đến nắm cánh tay lão và nói: "Mời bác đi theo tôi vào đây. Ngài Xinbát chủ tôi muốn nói chuyện với bác".


Hinbát không khỏi kinh ngạc về lời mời mọc đó. Sau những điều lão vừa thốt ra, lão có lý do để sợ rằng Xinbát sai mời lão vào nhà nhằm gây chuyện lôi thôi gì chăng. Bởi vậy lão muốn thoái thác, viện cớ là không thể bỏ hàng lại giữa phố mà đi. Nhưng người hầu Xinbát quả quyết với lão rằng sẽ có người trông nom hộ. Anh ta hối thúc lão vào buộc lòng lão phải chiều theo.


Người hầu đưa lão vào một gian phòng lớn, ở đây đã có khá đông người ngồi quanh một bàn tiệc dọn đầy các loại thức ăn ngon. Ở chỗ ngồi danh dự là một nhân vật sang trọng, quắc thước, có một bộ râu dài đáng kính. Sau ông là đám gia nhân tôi tớ lăng xăng hầu hạ. Nhân vật ấy chính là Xinbát. Lão khuân vác càng thêm bối rối khi trông thấy toàn là người sang trọng với cỗ bàn linh đình. Lão vừa vái chào vừa run.


Xinbát bảo lão đến gần, mời lão ngồi xuống bên phải mình, ông tự tay lấy thức ăn mời lão ăn và rót rượu mời lão uống một thứ rượu hảo hạng xếp đầy trong tủ rượu.


Cuối bữa khi nhận thấy khách khứa đã no say Xinbát liền cất lời nói với Hinbát. Ông gọi lão khuân vác là "người anh em" theo phong tục của người A Rập khi nói chuyện thân mật với nhau. Ông hỏi lão người ở đâu, tên họ là chi và làm nghề nghiệp gì.


- Thưa ngài, tôi tên là Hinbát.


- Ta rất sung sướng được gặp người anh em. Ta tin rằng tất cả các vị có mặt ở đây hôm nay cũng đều vui thích về việc đó. Song ta muốn được nghe người anh em lặp lại câu vừa nói lúc nãy ở ngoài đường.


Nghe vậy, Hinbát vô cùng bối rối. Lão cúi đầu đáp: - Thưa ngài, tôi xin thú thật là vì quá mệt nhọc cho nên có phát bẳn, lỡ lời có bật ra mấy câu không được đúng đắn. Mong ngài hãy lượng tình tha thứ cho.


- Ồ, xin người anh em chớ nghĩ rằng ta bất công đến mức còn để bụng cái việc ấy - Xinbát đáp: - Ta thông cảm với tình cảnh của bạn. Ta không những không trách móc mà còn phàn nàn cho bạn nữa.


Nhưng ta cần làm cho bạn thoát khỏi một sai lầm. Ta cho là hình như bạn cho rằng ta tạo nên được tất cả mọi tiện nghi và cuộc sống nhàn hạ mà bạn trông thấy đây không chút gian nan vất vả, không tốn sức lao động. Bạn chớ có nhầm. Ta chỉ đạt đến hoàn cảnh sung túc như ngày nay sau khi đã phải trải qua bao nhiêu năm tháng chịu đựng tất cả những nỗi khó nhọc về thể xác cũng như về tinh thần quá sức tưởng tượng của con người. Vâng, thưa các ngài - ông nói với toàn thể khách dự tiệc - tôi có thể quả quyết với các ngài rằng những nỗi khó nhọc ấy kỳ lạ quá mức, đến nỗi có thể làm cho những kẻ hám của cải giàu sang nhất cũng phải tiêu tan cái ý muốn tai hại là vượt biển tìm vàng. Có lẽ các ngài chỉ được nghe một cách mơ hồ về những cuộc phiêu lưu quái dị và những nỗi hiểm nghèo tôi đã trải qua trên khắp bốn biển năm châu trong bảy chuyến đi của mình. Hôm nay gặp dịp tốt, tôi xin thuật lại trung thực để các ngài nghe. Tôi nghĩ các ngài sẽ không đến nỗi phải chán tai.


Vì Xinbát muốn kể chuyện của mình đặc biệt cho lão khuân vác nghe, cho nên trước khi bắt đầu, ông truyền cho gia nhân mang kiện hàng của lão để lại ở giữa phố đến nơi lão có trách nhiệm phải đưa đến. Tiếp đó, ông kể chuyện mình bằng những lời lẽ như sau:


 


CHUYếN ĐI ĐầU TIÊN CủA XINBáT NGƯờI ĐI BIểN


Tôi thừa hưởng của gia đình tôi nhiều tài sản đáng kể. Nhưng tôi đã tiêu phí mất phần lớn qua các cuộc chơi bời trác táng thuở thanh niên. May sao tôi kịp tỉnh ra khỏi sự mê muội. 


Suy nghĩ về những hành động của mình, tôi nhận ra rằng của cải giàu sang có thể tiêu tan, rồi chẳng mấy chốc mà cạn hết vốn liếng, nếu cứ kiểu làm ăn tồi như tôi hồi đó. Tôi còn nghĩ rằng, trong cuộc sống không nề nếp, tôi đã phung phí bậy bạ thời gian, vật quí báu nhất trên đời. Tôi còn hiểu ra, nghèo khó trong lúc tuổi tác già nua là điều tồi tệ và thảm thương nhất trong mọi điều khổ cực. Tôi nhớ lại những lời của Đấng Xalômông vĩ đại mà có lần tôi được nghe cha tôi dạy: "Thà chui vào nhà mồ còn đỡ chán hơn là sống trong cảnh nghèo khó". Thấm thía tất những điều suy ngẫm đó, tôi thu vén những gì gia tài của mình còn lại, đưa ra chợ bán đấu giá tất cả Sau đó, tôi kết bạn với mấy nhà buôn đường biển. Tôi hỏi ý kiến những người mà tôi cho là có thể giúp được mình những lời khuyên nhủ tốt. Cuối cùng, tôi quyết định làm cho số tiền bạc còn lại của mình sinh lợi. Một khi đã định bụng, tôi thực hiện ngay, không chút chậm trễ.


Tôi đến Banxôra, ở đấy tôi cùng nhiều nhà buôn đáp xuống một chiếc tàu cùng nhau góp tiền thuê chung.


Chúng tôi giương buồm, lên đường đi về vùng đông Ấn Độ qua vịnh Ba Tư. Vịnh này nằm ở giữa, bên phải là bờ biển xứ ả Rập Hạnh Phúc, bên trái là bờ biển nước Ba Tư. Chỗ rộng nhất theo ý kiến chung, ước chừng bảy mươi hải lý. Ra khỏi vịnh ấy là vào biển của xứ Lơ Văng, cũng gọi là biển Ấn Độ, rộng bao la. Bờ biển phía bên này là duyên hải nước Abxini. Muốn đến quần đảo Vácvác thì phải đi bốn nghìn năm trăm hải lý. Lúc đầu tôi khó chịu vì cái chứng người ta gọi là say sóng. Nhưng sức khỏe tôi bình phục ngay. Và từ đó trở đi, không bao giờ tôi còn bị say sóng nữa.


Dọc đường, chúng tôi ghé vào nhiều đảo để mua bán và đổi chác hàng hóa. Một hôm, tàu chúng tôi đang giương buồm chạy thì gió lặng làm tàu dừng lại trước một hòn đảo nhỏ chỉ cao là là mặt nước, có màu xanh tươi phủ trông giống như một bãi cỏ. Thuyền trưởng cho hạ buồm ghé tàu vào hòn đảo, và cho phép những người đi tàu được lên bờ. Tôi cùng một số người lên đảo.


Nhưng, trong lúc chúng tôi đang mải mê ăn uống vui chơi và nghỉ ngơi cho đỡ mệt vì sóng biển, thì hòn đảo đột nhiên rung động làm mọi người bị chao đảo mạnh.


Người ở lại trên tàu trông thấy kêu lên gọi chúng tôi hãy mau mau lên tàu, không thì sẽ chết mất. Vì cái mà chúng tôi tưởng là hòn đảo ấy thật ra là lưng một con cá voi. Những người nhanh chân nhất xô lên xuồng. Những người khác nhảy xuống biển bơi. Còn tôi, tôi đang còn ở trên đảo, hay nói cho đúng hơn là trên lưng con cá voi ấy thì nó đã ngụp xuống biển. Tôi chỉ kịp có đủ thời gian bám vào một mảnh gỗ đưa từ dưới tàu lên để làm củi đun. Trong thời gian ấy, viên thuyền trưởng sau khi đã đón lên tàu những người trong chiếc xuồng và vớt thêm được mấy người nữa đang bơi, muốn lợi dụng cơn gió mạnh và thuận chiều vừa mới nổi lên, liền ra lệnh giương buồm. Tôi mất hết hy vọng có thể kịp bơi tới chiếc tàu.


Thế là tôi bị dập vùi trong sóng biển, khi thì xô sang bên này, khi thì giạt sang phía kia, suốt ngày hôm ấy và cả đêm tiếp theo. Tôi giành với sóng để sống sót. Sáng hôm sau, tôi kiệt sức. Đã tuyệt vọng tưởng không thể nào thoát chết thì may mắn làm sao, một ngọn sóng xô tôi dạt lên một hòn đảo. Bờ biển cao và hiểm trở. Có lẽ tôi đã phải khó khăn lắm mới lên được tới bờ nếu không nhờ có mấy cái rễ cây, mà hình như số phận đã dành ra đấy để cứu vớt tôi, giúp cho tôi có chỗ bấu víu. Tôi nằm dài ra mặt đất, và cứ như vậy gần như chết dở cho đến khi trời sáng hẳn và mặt trời lên.


Mặc dù người rất yếu mệt do phải vật lộn với sóng biển và trong bụng không có một chút gì kể từ ngày hôm trước, tôi vẫn cố lê đi tìm vài ngọn cỏ có thể ăn được. Tôi tìm được vài ba thứ, và may mắn gặp một con suối nước rất ngọt, góp phần làm cho tôi lại sức.


Sức khỏe trở lại rồi, tôi bước đi trên đảo, không theo đường sá nhất định nào. Tôi đi vào một đường đồng bằng đẹp và thấy một con ngựa đang gặm cỏ. Tôi bước về phía ấy, vừa sợ vừa mừng, bởi vì không rõ mình đến đấy để chuốc lấy cái chết vào thân hay là sẽ tìm được một cơ hội bảo toàn tính mệnh. Đến gần, tôi nhận rõ đấy là một con ngựa cái, buộc vào một cái cọc. Vẻ đẹp của nó làm cho tôi chú ý. Song trong khi đang ngắm, tôi nghe có tiếng đàn ông nói đâu đây, dường như ở dưới mặt đất. Một lát sau người ấy xuất hiện, tiến tới phía tôi và hỏi tôi là ai. Tôi kể lại chuyện không may của mình. Người ấy liền cầm tay tôi dắt vào trong một cái hang ở đấy có nhiều người khác nữa. Họ đều ngạc nhiên lúc trông thấy tôi, chẳng kém gì tôi kinh lạ khi trông thấy họ.


Tôi ăn mấy thức ăn do những người đó đưa cho. Tôi hỏi họ làm gì ở nơi có vẻ hoang vắng thế này. Họ đáp họ là những người chăn ngựa của vua Miragiơ chúa tể đảo này. Mỗi năm cứ vào mùa này, họ quen lệ đưa các ngựa cái của vua đến đây và buộc vào cọc theo cách tôi vừa trông thấy kia để chờ một con hải mã từ dưới biển lên phủ. Sau khi phủ, hải mã thường ăn thịt ngựa cái. Nhưng bằng cách la hét thật to, họ sẽ đuổi nó trở về biển cả. Con ngựa cái thụ thai sẽ được đưa về nhà. Ngựa con do chúng đẻ ra, gọi là ngựa biển, sẽ để dành riêng cho nhà vua dùng. Họ nói thêm rằng họ định qua ngày hôm sau sẽ trở về. Nếu tôi đến chậm một ngày chắc chắn là tôi sẽ bỏ mạng ở đây, bởi vì dân cư ở rất xa, và tôi không thể nào tìm đến được tới nơi nếu không có người dẫn đường.


Trong khi họ đang nói chuyện với tôi như vậy, thì con hải mã từ biển lên. Đúng như lời họ nói, nó phủ lên con ngựa cái và sau đấy chuẩn bị ăn thịt con này. Nhưng nghe thấy những tiếng ầm ĩ do những người chăn ngựa gây nên hải mã phải bỏ mồi trở xuống biển.


Ngày hôm sau, những người đó trên đường trở về thủ phủ của hòn đảo, mang theo đoàn ngựa cái. Tôi đi theo họ. Vừa đến nơi, tôi được gọi vào chầu vua Miragiơ. Vua hỏi tôi là ai và do đâu tôi đến được vương quốc này. Sau khi nghe tôi trình bày tường tận, nhà vua tỏ lời chia buồn với tôi về điều bất hạnh. Người ra lệnh cho triều thần săn sóc tôi và cung cấp cho tôi tất cả những thức gì cần thiết. Mệnh lệnh của vua được thực hiện chu đáo. Tôi chỉ còn biết ca ngợi lòng hào hiệp của nhà vua và sự nghiêm túc của bầy tôi Người trong việc thi hành mệnh lệnh.


Vì là nhà buôn, tôi năng lui tới chỗ những người cùng nghề. Tôi đặc biệt tìm kiếm những khách nước ngoài ở đây, vừa để hỏi thăm tin tức về Bátđa, vừa để tìm một người nào khả dĩ cùng mình sau đây trở về kinh thành ấy Kinh đô của nhà vua Miragiơ nằm trên bờ biển và có một hải cảng đẹp, ngày nào cũng có tàu buôn của nhiều nước trên thế giới tới cập bến. Tôi cũng giao du với các nhà bác học Ấn Độ và được chuyện trò với họ. Tuy vậy, những việc ấy không cản trở tôi đến chầu vua đều đặn, hoặc là thăm viếng các thống đốc và các tiểu vương, chư hầu của vua Miragiơ thường có dịp gần gũi với Người.


Họ hỏi rất nhiều về đất nước tôi. Về phần mình, muốn hiểu biết phong tục và luật pháp nước họ, tôi hỏi họ tất cả những gì mà tôi cho là đáng tìm hiểu.


Dưới quyền vua Miragiơ có một hòn đảo tên là Cátxen. Người quả quyết với tôi rằng đêm nào ở đấy cũng nghe có tiếng trống đồng, làm cho các thủy thủ đồn rằng thần Đêgian sống ở chốn này. Tôi nảy ra ý muốn chứng kiến điều kỳ lạ ấy. Trong một chuyến đi đến đấy, tôi nhìn thấy những con cá dài từ một trăm đến hai trăm cánh tay. Chúng làm cho con người kinh hãi nhiều hơn là gây hại vì chúng nhát tới mức ta chỉ cần gõ vào tấm ván cho có tiếng động là chúng đã trốn chạy. Tôi còn trông thấy, những con cá khác chỉ dài bằng một cánh tay thôi, nhưng đầu trông giống như đầu con cú vọ.


Một hôm trên đường về, tôi đang đứng ở cảng, vừa lúc một chiếc tàu cập bến. Buông neo xong, người ta bắt đầu bốc dỡ hàng hóa. Các nhà buôn chủ hàng cho chuyển các thứ của mình về kho. Đưa mắt nhìn một vài kiện hàng và những chữ viết bên trên, xem thử những thứ đó là của ai, tôi chợt thấy tên tôi. Sau khi xem xét kỹ tôi không nghi ngờ gì nữa, đây chính là những kiện hàng tôi đã xếp lên tàu khi khởi hành ở Banxôra. Tôi còn nhận ra cả viên thuyền trưởng. Bởi tôi nghĩ rằng chắc ông cho là tôi đã chết, cho nên khi tôi đến gần và hỏi ông những kiện hàng trông thấy kia thuộc về ai ông ta liền đáp: "Trước đây trên tàu chúng tôi có một nhà buôn ở Bátđa tên là Xinbát. Một hôm chúng tôi đến gần một nơi trông như hòn đảo. Ông ta cùng với nhiều hành khách lên chơi trên cái nơi tưởng là hòn đảo ấy, kỳ thực là một con cá voi khổng lồ đang ngủ là là mặt nước. Nó vừa cảm thấy hơi nóng do lửa người ta đốt trên lưng nó để nấu ăn thì cựa mình và lặn ngay xuống biển. Phần lớn những người đang ở trên lưng nó đều chết đuối. Ông Xinbát đáng thương cũng nằm trong số đó. Những kiện hàng kia là của ông ta. Tôi định bán đi, chờ đến bao giờ có dịp gặp một người trong gia đình ông ta thì sẽ trao lại cả vốn lẫn lãi".


- Thưa thuyên trưởng - tôi liền nói - chính tôi là Xinbát đây. Người ông tưởng là đã chết nhưng thật ra là không phải. Những kiện hàng kia chính là tài sản và hàng hóa của tôi.


Thuyên trưởng nghe tôi nói vậy liền thốt lên: "Trời đất! Biết tin ai bây giờ? Con người thật không đáng tin nữa. Chính mắt tôi trông thấy Xinbát chết đuối, các hành khách trên tàu đều nhìn thấy như tôi, thế mà ông dám bảo chính ông là Xinbát! Cả gan làm sao? Nhìn bề ngoài, ông có vẻ một con người thật thà. y thế mà ông lại trí trá khủng khiếp. Ông định chiếm đoạt những của cải không thuộc quyền sở hữu của mình ư?


- Xin ông hãy kiên nhẫn - tôi đáp lời thuyền trưởng - Xin hãy vui lòng nghe những điều tôi thưa với ông đây.


- Nào, ông muốn nói gì nào? - Hãy nói đi, tôi xin nghe đây.


Tôi liền thuật lại tôi thoát chết bằng cách nào, tôi đã gặp những người chăn ngựa của vua Miragiơ và được họ đưa về triều đình ra sao.


Vừa nghe tôi nói thuyền trưởng đã có vẻ nao núng. Chỉ lát sau, ông đã tin hẳn tôi không phải là một kẻ lừa đảo bởi vì có nhiều người cùng đi trên tàu ông cũng đến và đều nhận ra tôi. Họ chúc mừng và tỏ lòng vui thích được gặp lại. Cuối cùng, chính thuyền trưởng cũng nhận ra, ông bá lấy cổ tôi: "Tạ ơn Thượng đế đã cho ông may mắn thoát được một cơn hiểm nghèo to lớn như vậy! Tôi không có cách nào biểu lộ lòng vui mừng vô hạn được gặp lại ông. Tài sản của ông kia, ông hãy nhận lấy. Nó thuộc quyền ông, ông muốn làm gì xin hãy tùy ý".


Tôi cảm ơn, ca ngợi sự trung hậu của thuyền trưởng. Để thừa nhận đức tính ấy, tôi xin ông nhận một vài thứ hàng hóa tôi biếu, song ông từ chối.


Tôi chọn những thứ quí nhất trong các kiện hàng của tôi, mang dâng tặng vua Miragiơ. Nhà vua vốn biết chuyện không may xảy đến cho tôi, liền hỏi tôi tìm đâu ra những vật hiếm như vậy. Tôi thuật lại do sự tình cờ như thế nào mà tôi thu hồi được của cải đã mất. Nhà vua cũng mừng cho tôi. Vua nhận tặng phẩm đồng thời cho lại tôi nhiều món quà có giá trị hơn nữa. Sau đó, tôi từ giã nhà vua và trở lại chiếc tàu cũ. Trước khi xuống tàu, tôi đổi những hàng hóa còn lại lấy hàng địa phương như trâm hương, đàn hương, long não, nhục đậu khấu, đinh hương, hồ tiêu và gừng. Tàu đi qua nhiều hòn đảo nữa, cuối cùng cập bến Banxôra. Tôi về thành phố này với hàng hóa trị giá khoảng một trăm nghìn đồng xơcanh.


Gia đình tôi ra đón. Tôi gặp lại người nhà, mừng vui hết sức, với tất cả tình cảm mãnh liệt và chân thành. Tôi mua nhiều nô lệ nam và nữ, tậu ruộng đất tốt và cho xây một ngôi nhà lớn. Tôi yên cư như vậy đó, định bụng sẽ quên tất cả những khổ ải đã trải qua, và hưởng thụ mọi niềm lạc thú ở đời cho đến già.


Xinbát ngừng lời ở đây, và truyền cho các nhạc công tiếp tục cuộc hòa nhạc mà ông đã làm gián đoạn khi kể lại câu chuyện của mình. Mọi người lại uống rượu và ăn cho đến chiều. Đến lúc chia tay, Xinbát sai mang đến một cái túi đựng một trăm đồng. xơcanh đưa cho lão khuân vác và nói:


- Hinbát, bạn hãy cầm lấy, trở về nhà. Sáng mai xin trở lại đây nghe tôi kể nốt phần tiếp những cuộc phiêu bạt của tôi.


Lão khuân vác ra về, hết sức bối rối về vinh dự và món quà vừa nhận được. Lão thuật lại cho gia đình nghe. Vợ và các con lão đều cảm tạ Thượng đế đã ban cho điều tốt lành thông qua Xinbát.


Ngày hôm sau, Hinbát ăn vận sạch sẽ hơn hôm trước, trở lại nhà người đi biển hào phóng. Ông tươi cười tiếp đón lão với muôn nghìn cử chỉ thân ái. Các khách được mời đến đông đủ. Bàn tiệc dọn ra, mọi người ăn uống rất lâu. Tiệc tan, Xinbát lại cất lời thưa với tất cả: "Thưa quý ngài, xin quý ngài vui lòng nghe tiếp câu chuyện về những sự không may trong chuyến đi biển thứ hai của tôi. Nó còn xứng đáng với sự chú ý của quý vị hơn cả chuyến đi đầu". Mọi người im lặng, Xinbát bắt đầu kể như sau:


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêmNhà văn Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học liên kết xuất bản cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.


www.trieuxuan.info


 







Một ông vua nổi tiếng trong nhiều chuyện kể của người A Rập (ND).




Theo tín ngưỡng của người ả Rập, Đêgian là thần chống lại Thượng đế.




Cánh tay, sải tay là những đơn vị đo chiều dài cổ. Một cánh tay dài khoảng nửa mét (ND).



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sự tích cây nhãn (Em bé và Rồng con) - Phạm Hổ 28.08.2017
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 06.07.2017
Bụng làm dạ chịu hay là truyện thầy hít - Nguyễn Đổng Chi 06.07.2017
Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non - Nguyễn Đổng Chi 22.06.2017
Nữ hành giành bạc - Nguyễn Đổng Chi 22.06.2017
Bò béo bò gầy - Nguyễn Đổng Chi 22.06.2017
2. Sự tích trầu cau và vôi - Nguyễn Đổng Chi 11.03.2017
Nghìn lẻ một đêm (13) - Antoine Galland 20.11.2016
Nghìn lẻ một ngày (18) - FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX 20.11.2016
Nghìn lẻ một đêm (14) - Antoine Galland 20.11.2016
xem thêm »