tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18962337
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
26.06.2016
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (10)

CHUYỆN KHẤT SĨ THỨ BA, CON VUA


Thưa bà rất đáng kính, chuyện tôi sắp kể đây khác xa những chuyện bà vừa mới nghe. Hai hoàng tử nói trước tôi mỗi người mất một con mắt do hậu quả đơn thuần của số phận họ. Còn tôi mất một con mắt là chỉ tại lỗi lầm của mình, tự mình gây nên tội và tự mình rước lấy tai họa vào thân, như bà sẽ rõ qua câu chuyện sau đây.


Tôi tên là Agíp, con của quốc vương Cátxíp. Sau khi cha tôi qua đời, tôi làm chủ tất cả đất nước của Người. Tôi đóng đô ngay trong kinh thành trước đây phụ vương tôi vẫn ở. Thành phố ấy nằm trên bờ biển. Nó có một bến tàu vào loại đẹp nhất và an toàn nhất. Nó có một công xưởng khá lớn đủ cung cấp thiết bị cho một trăm năm mươi chiến hạm luôn luôn sẵn sàng chiến đấu khi cần, và đủ để trang bị cho năm chục tàu chở hàng cùng chừng ấy tàu nhẹ để đi dạo mát và vui chơi trên mặt nước.


Vương quốc tôi còn gồm nhiều thành phố đẹp trên đất liền và nhiều hải đảo lớn hầu hết ở không quá xa tầm mắt của thủ đô.


Sau khi lên ngôi, tôi đi thăm các tỉnh. Sau đấy tôi cho vũ trang hạm đội chuẩn bị đi tuần du các đảo. Tôi muốn, bằng sự có mặt của mình, hòa hợp nhân tâm trăm họ và động viên họ làm bổn phận người dân. Đi thăm các hải đảo về được ít lâu, tôi lại trở ra. Những chuyến đi đi về về ấy giúp tôi làm quen ít nhiều với nghề hàng hải và khiến tôi say mê đến nỗi tôi nhất định sẽ đi thám hiểm những nơi xa xôi ngoài hải phận của mình. Vì mục đích đó, tôi cho chuẩn bị chỉ mười chiếc tàu thôi, rồi xuống tàu và cho giương buồm khởi hành.


Chuyến đi của chúng tôi thuận lợi suốt bốn mươi ngày liền. Nhưng đến đêm thứ bốn mươi mốt, gió bắt đầu thổi ngược chiều rất dữ dội. Một cơn bão lớn nổi lên tưởng chừng như sắp nhận chìm chúng tôi. Tuy nhiên, đến tảng sáng, gió cũng dịu lại, mây tan dần, mặt trời ló ra làm cho thời tiết tốt trở lại. Chúng tôi ghé lại vào hòn đảo, nghỉ lại hai ngày để lấy sức. Xong đâu đấy, chúng tôi lại ra khơi. Sau mười ngày lênh đênh trên biển, chúng tôi bắt đầu hy vọng trông thấy đất liền. Bởi vì cơn bão vừa qua đã làm cho tôi thay đổi ý định. Tôi đã ra lệnh cho quay trở về. Tôi chợt nhận ra người hoa tiêu lạc phương hướng, không biết tàu hiện đang ở vào đâu. Đúng như vậy, vào ngày thứ mười, một thủy thủ được lệnh leo lên một ngọn cột buồm chính để nhận đường, báo xuống rằng bên phải cũng như bên trái chỉ có biển và biển đến tận chân mây, nhưng trước mặt, phía mũi con tàu, có một mảng đen lớn.


Nghe báo cáo, người hoa tiêu biến sắc. Một tay giật khăn đội đầu ném xuống sàn tàu, một tay đấm vào mặt, ông kêu lên: "Ôi! Chúng ta nguy mất rồi, tâu bệ hạ! Không một ai trong chúng ta có thể thoát được tai họa này. Với tất cả kinh nghiệm của mình, tôi cũng không đủ sức bảo vệ bệ hạ". Y vừa nói vừa khóc òa lên như một kẻ biết chắc mình không có cách nào tránh khỏi chết. Nỗi tuyệt vọng của y gieo rắc sự kinh hãi trong cả con tàu.


Tôi hỏi do đâu y tuyệt vọng như vậy. Y đáp: "Than ôi, tâu bệ hạ, cơn bão hôm trước đã làm cho chúng ta đi lạc quá xa, đến mức là nội trưa mai, chúng ta sẽ đến gần cái mảng đen ấy. Đó chẳng gì khác hơn là một quả núi, và quả núi đen ấy chính là một mỏ nam châm. Ngay từ lúc này đây nam châm đã bắt đầu hút cả hạm đội của bệ hạ, bởi vì trong cấu trúc của các con tàu có nhiều đinh và vật bằng sắt. Ngày mai, khi chúng ta chỉ còn một khoảng cách nào đó, sức hút của nam châm sẽ mãnh liệt đến nỗi hút nhổ tất cả đinh đóng trên các tàu. Đinh sẽ bay tới bám vào núi. Tàu bè sẽ tan rã vừa chìm xuống bể. Vì nam châm có đặc tính hút sắt và qua sức hút đó, mỗi ngày ngọn núi càng mạnh hơn lên. Ở phía ngọn núi ấy quay về phía biển phủ đầy những chiếc đinh của không biết bao nhiêu là tàu bè đã vì nó mà lâm nạn. Ngọn núi ấy - người hoa tiêu nói tiếp - lại rất hiểm trở. Trên đỉnh núi có một tháp hình vòm bằng đồng nguyên chất đặt trên những chiếc cột cũng bằng kim loại ấy. Trên ngọn tháp ngất nghểu một con ngựa bằng đồng. Trên mình ngựa là một kỵ sĩ ngực che một tấm chì có khắc những chữ yểm bùa. Tâu bệ hạ, theo truyền thuyết thì cái tượng ấy là nguyên nhân chính gây nên tổn hại cho không biết bao nhiêu tàu bè, làm thiệt không biết bao nhiêu nhân mạng chết đuối ở chỗ này. Nó đang và sẽ vẫn là tai họa chết người cho tất cả những ai không may đến gần nó, cho tới lúc nào pho tượng ấy bị lật nhào".


Người hoa tiêu nói xong lại khóc. Nước mắt của y làm cho tất cả thủy thủ trên tàu đều sa lệ. Bản thân tôi không tin là tôi sắp đến ngày tận số. Tuy vậy, mỗi người vẫn nghĩ tới cách bảo toàn tính mạng của mình bằng một cách thức nào đấy. Trong nỗi phân vân không biết chuyện gì rồi sẽ xảy ra, họ đều viết di chúc nói rõ rằng những ai sống sót sẽ được thừa kế tài sản những kẻ đã qua đời.


Sáng hôm sau, chúng tôi nhìn thấy rất rõ quả núi đen, khiến cho những chuyện người ta kể về nó càng trở nên ghê gớm hơn cả lúc mới nghe. Đến trưa, chúng tôi tới khá gần. Đã bắt đầu thấy được điều người hoa tiêu nói hôm trước. Chúng tôi nhìn thấy những chiếc đinh và các vật khác bằng sắt bay về phía núi và chịu sức hút, cắm sâu vào núi, phát ra những tiếng ghê rợn. Các con tàu tan rã và chìm xuống đáy biển. Ở chỗ ấy, nước sâu đến nỗi dòng dây dò cũng không sao chạm tới đáy. Cả đội quân của tôi đều chết đuối. Do được Thượng đế đoái thương, tôi thoát chết. Tôi bám được vào một tấm ván và dạt vào chân núi. May mắn cho tôi là nơi tôi dạt vào có những bậc thang có thể trèo lên đỉnh núi mà không bị đau đớn gì lắm.


Trông thấy những bậc thang ấy, tôi rất mừng. Tôi tạ ơn Thượng đế, bởi vì bên phải bên trái, ngoài chỗ này ra không đâu có một nơi khả dĩ đặt được bàn chân để thoát chết. Tôi bắt đầu leo lên các bậc thang rất hẹp, thẳng đứng và khó đi đến nỗi chỉ cần gió thổi mạnh hơn một ít là có thể tôi đã ngã lộn đầu xuống biển rồi. Cuối cùng tôi cũng leo được lên đến trên cao mà không xảy ra tai nạn gì. Tôi bước vào trong cái tháp hình vòm và quỳ xuống tạ ơn trời đất.


Tôi ngủ qua đêm dưới cái vòm ấy. Trong chiêm bao, một cụ già đáng kính hiện ra trước mắt tôi và bảo:


- Agíp hãy nghe đây. Khi nào con thức dậy, hãy đào đất ở dưới chân. Con sẽ tìm thấy một cái cung bằng đồng và ba mũi tên bằng chì được làm ra để giải thoát cho loài người khỏi biết bao khổ hạnh đang đe dọa họ. Con nhắm vào bức tượng mà phóng ba mũi tên ấy. Viên kỵ sĩ sẽ nhào xuống biển. Con ngựa nhào xuống bên cạnh con. Con sẽ chôn nó đúng vào chỗ con vừa đào lấy cung tên. Làm xong việc đó, biển sẽ trương ra và dâng lên tận chân cái tháp, cao ngang ngọn núi. Khi biển đã dâng lên tới đấy rồi, con sẽ thấy một chiếc xuồng nhỏ cập bờ. Trên xuồng chỉ có độc một người mà con đã bắn đổ lộn nhào. Con hãy xuống xuồng đi cùng với nó mà nhớ chớ có đọc đến tên Thượng đế. Cứ để mặc cho nó đưa con đi. Nó sẽ đưa con đi trong mười ngày vào một biển khác. Ở đấy con sẽ tìm được phương tiện để trở về nhà an toàn trót lọt, miễn là, như ta đã bảo, con chớ có đọc đến tên Thượng đế trong suốt cuộc hành trình.


Cụ già nói với tôi như vậy. Vừa tỉnh giấc, tôi vội đứng lên, hết sức vui mừng với những điều mộng báo. Tôi làm ngay điều cụ già dặn. Tôi đào lấy chiếc cung và các mũi tên lên, rồi nhắm bức tượng bắn. Đến mũi tên thứ ba, tượng nhào xuống biển, con ngựa ngã xuống cạnh tôi. Tôi chôn nó vào chỗ đã đào lấy chiếc cung và các mũi tên. Trong khoảng thời gian ấy biển bắt đầu trương lên từ từ. Khi mặt biển dâng lên đến chân cái tháp cao hình vòm, ngang ngọn núi, tôi thấy đằng xa trên mặt biển có một cái xuồng tiến về phía mình. Tôi tạ ơn Thượng đế khi thấy mọi việc xảy ra khớp với những điều nghe trong mộng. Chiếc xuồng cập bờ. Tôi nhìn thấy người bằng đồng giống hệt cụ già trong mộng. Tôi bước xuống xuồng và tránh không đọc tên Thượng đế hoặc thốt ra một lời nào khác. Tôi ngồi xuống. Con người bằng đồng chèo xuồng ra xa quả núi. Nó chèo liên tục cho đến ngày thứ chín. Nhiều hòn đảo hiện ra làm cho tôi tin chắc mình sắp thoát sự hiểm nghèo. Nỗi mừng vui thái quá làm tôi quên bẵng điều cấm đoán. Tôi thốt lên: "Nhờ ơn Thượng đế! Cảm tạ Thượng đế!".


Tôi chưa dứt lời thì chiếc xuồng đã chìm xuống đáy biển cùng với con người bằng đồng. Tôi nổi trên mặt nước. Suốt ngày hôm đó, tôi cố bơi về phía bờ mà tôi cho là gần hơn cả. Tiếp đó là một đêm tối om. Tôi không còn biết mình đang ở đâu cho nên cứ bơi bừa. Cuối cùng kiệt sức, tôi không còn hy vọng thoát chết thì gió bỗng thổi mạnh lên. Một con sóng cao tựa quả núi hắt tôi lên một bãi cát rồi rút ra, để tôi nằm lại đó. Tôi vội vàng chạy sâu hơn vào đất liền tránh một con sóng khác có thể vào cuốn mình ra chăng. Việc đầu tiên của tôi là cởi quần áo, vắt kiệt nước rồi trải ra mặt cát còn giữ hơi nóng mặt trời ban ngày, để hong cho khô.


Ngày hôm sau, nắng làm cho áo quần tôi chẳng mấy chốc khô hẳn. Tôi mặc áo và đi sâu vào trong đảo để tìm xem mình đang ở đâu. Đi chưa được bao lâu tôi nhận ra là mình đang ở trên một đảo hoang nhỏ khá đẹp mắt, có nhiều loại cây ăn quả và cây dại. Nhưng đảo cách đất liền khá xa. Điều này làm giảm đi rất nhiều nỗi mừng vừa thoát được nạn đắm tàu. Tuy nhiên, tôi lại phó thác vào Thượng đế, tin rằng Người sẽ định đoạt số phận mình, khi nhìn thấy một chiếc tàu nhỏ giương buồm từ đất liền nhằm vào hòn đảo tôi đang ở, chạy hết tốc lực.


Tin chắc rằng thế nào chiếc tàu sẽ đến buông neo ở đây, và chưa biết rõ những người đi trên đó là bạn hay là thù, tôi nghĩ mình chưa nên ra mặt ngay. Tôi trèo lên một cây khá rậm rạp, từ đấy có thể tha hồ quan sát họ mà không sợ xảy ra việc gì. Chiếc tàu ghé vào một eo nhỏ. Mười tên nô lệ lên bờ mang theo một cái thuổng và các dụng cụ đào đất. Họ đi vào chính giữa đảo. Tôi nhìn thấy họ dừng lại và cuốc xới một lát. Qua cử chỉ của họ, tôi đoán họ đang nâng một cánh cửa nắp lên. Sau đó họ trở lại chiếc tàu, bốc dỡ nhiều thức ăn và giường ghế, rồi mỗi tên vác một thứ đến chỗ chúng vừa cuốc và đi lọt xuống. Tôi hiểu rằng ở đấy có một cái hầm ngầm. Tôi nhìn thấy họ trở lại chiếc tàu một lần nữa, rồi lát sau lên bờ với một cụ già dẫn theo một thiếu niên mười bốn, mười lăm tuổi trông rất khôi ngô. Và khi họ trở lên và đóng cửa nắp lại, phủ kín đất rồi đi về phía eo biển, nơi chiếc tàu buông neo, tôi nhận ra chàng thiếu niên không cùng đi với họ. Từ đấy tôi kết luận là chàng ở lại dưới hầm ngầm. Ý nghĩ đó làm cho tôi cực kỳ kinh ngạc.


Cụ già và các tên nô lệ xuống tàu. Tàu giương buồm lên đường trở về đất liền. Khi con tàu đã đi xa, các thủy thủ không thể nhìn thấy mình được nữa, tôi vội tụt xuống cây và vội vàng đến nơi vừa trông thấy họ cuốc. Tôi đào bới cho tới khi tìm được phiến đá vuông rộng mỗi bề chừng hai, ba bộ. Tôi lật lên và thấy nó che lối xuống một cầu thang cũng xây bằng đá. Tôi bước xuống và thấy mình ở trong một căn phòng rộng trải thảm, có kê một chiếc sập. Trên sập trải một tấm thảm khác và có những chiếc gối tựa bọc vải đắt tiền. Chàng thiếu niên ngồi ở đấy tay cầm chiếc quạt. Tôi nhận rõ những vật ấy, cũng như những trái cây và các lọ hoa để bên cạnh chàng, nhờ ánh sáng của hai cây nến chiếu rọi.


Chàng thiếu niên hoảng hốt khi nhìn thấy tôi. Nhưng để làm yên lòng chàng, vừa bước vào, tôi đã nói: "Thưa ngài, cho dù ngài là ai, cũng xin đừng sợ hãi. Một nhà vua và hoàng tử như tôi đây không thể gây nên cho ngài bất cứ điều xúc phạm nào. Ngược lại, có lẽ chính vận may của ngài đã xui khiến tôi có mặt ở nơi đây để cứu ngài ra khỏi nấm mồ, mà hình như người ta đã chôn sống ngài vì những lý do tôi không rõ. Nhưng, điều làm tôi bối rối và không thể nào hiểu nổi,bởi vì xin nói với ngài: Tôi đã chứng kiến tất cả những gì xảy ra từ khi ngài đến hòn đảo này, là hình như ngài vui lòng để cho chôn sống nơi đây mà không hề kháng cự".


Yên tâm vì lời ấy, chàng thiếu niên tươi cười mời tôi ngồi xuống bên cạnh. Tôi ngồi xuống, chàng liền nói: "Thưa hoàng tử, tôi xin nói để ngài rõ một điều sẽ làm cho ngài ngạc nhiên vì sự đặc biệt của nó. Cha tôi là một nhà buôn vàng ngọc rất giàu có, nhờ sức lao động và tài tháo vát trong nghề nghiệp. Người có một số đông nô lệ và những người giúp việc. Họ đi lại bằng đường biển trên những chiếc tàu của cha tôi để giữ mối liên lạc với các triều đình mà cha tôi cung cấp các đồ châu báu họ cần.


Cha tôi lập gia đình đã lâu mà chưa có con. Một hôm, Người được báo mộng rằng sẽ sinh hạ một đứa con trai nhưng nó sẽ không sống được lâu. Điều đó làm cha tôi rất buồn khi tỉnh giấc. Mấy hôm sau, mẹ tôi cho biết là đã có thai, và tính ra thời gian mình thụ thai trùng hợp với ngày cha tôi được báo mộng. Sau chín tháng mẹ tôi sinh ra tôi. Cả ra đình rất đỗi mừng vui. Cha tôi theo dõi sát giờ tôi ra đời và đi bói các nhà chiêm tinh. Họ nói: "Con trai cụ sẽ sống không gặp tai nạn gì cho đến năm mười lăm tuổi. Đến tuổi ấy, cậu sẽ phải trải qua một nỗi hiểm nguy có thể hại đến tính mạng và có lẽ cũng khó mà qua được. Tuy vậy, nếu nhờ ơn trên mà cậu qua khỏi cái hạn này, thì cậu sẽ sống rất lâu. Bởi vì đến thời gian đó - họ nói thêm - bức tượng kỵ sĩ bằng đồng trên đỉnh núi nam châm sẽ bị hoàng tử Agíp, con vua Cápxít, bắn đổ nhào xuống bể. Các ngôi sao chiếu mệnh chỉ rằng năm mươi ngày sau, con trai cụ sẽ bị chính hoàng tử ấy giết chết".


Vì lời tiên đoán ấy phù hợp với điềm mộng của cha tôi, Người xúc động và buồn bã vô cùng. Tuy vậy, Người vẫn không lơ là việc giáo dục tôi thật chu đáo cho đến năm này đây, là năm tôi mười lăm tuổi. Hôm qua, cha tôi được tin tượng kỵ sĩ bằng đồng đã bị hoàng tử mà tôi vừa gọi tên ấy hất nhào xuống biển mười hôm trước. Tin ấy làm cho Người rơi không biết bao nhiêu nước mắt. Người hoảng hốt đến nỗi không còn ai nhận ra được cha tôi như lúc ngày thường nữa.


Dựa vào lời tiên đoán của các nhà chiêm tinh, cha tôi tìm cách đánh lừa ngôi sao chiếu mệnh của tôi, để cứu cho tôi khỏi bị giết chết. Từ lâu, Người đã cẩn thận cho xây sẵn nơi ở này, phòng khi được tin bức tượng bị lật nhào thì sẽ đưa tôi đến ẩn cho qua năm mươi ngày. Bởi vậy, khi nghe tin tức tượng đó đổ cách đây mười ngày, Người vội vàng đưa tôi đến ẩn náu nơi đây, và hứa bốn mươi ngày nữa sẽ trở lại đón. Về phần tôi, - chàng thiếu niên nói tiếp, - tôi chẳng tin hoàng tử Agíp lại đến tìm tôi mãi ở dưới lòng đất tại một hòn đảo hoang vu thế này. Thưa ngài, đấy là tất cả những điều tôi thưa cùng ngài".


Trong khi con trai nhà buôn bán vàng ngọc kể chuyện cậu ta, tôi giễu thầm các nhà chiêm tinh đã tiên đoán tôi là sẽ giết cậu. Tôi tin chắc lời tiên đoán ấy sẽ không bao giờ thành hiện thực. Bởi vì chàng vừa dứt lời, tôi đã sôi nổi nói ngay:


- Thưa ngài thân mến, xin ngài hãy tin tưởng ở lòng nhân từ của Thượng đế và chớ nên sợ hãi điều gì. Ngài hãy cho rằng chuyện ấy chỉ là một món nợ phải trả và từ giờ phút này ngài đã trả xong. Tôi rất sung sướng, sau khi đắm tàu, được có mặt đúng lúc ở đây để bảo vệ ngài chống những kẻ muốn hại ngài. Tôi sẽ không rời xa ngài suốt bốn mươi ngày sắp tới mà những lời tiên đoán của bọn bói toán đã làm cho ngài lo lắng. Trong thời gian ấy, tôi sẽ đỡ đần ngài mọi công việc tôi có thể làm. Sau đó, tôi sẽ lợi dụng dịp tốt để trở về đất liền trên chiếc tàu của ngài, nếu được thân sinh ngài và ngài cho phép. Khi đã về đến nước nhà, tôi sẽ không quên ơn ngài. Tôi sẽ xin cố gắng tỏ rõ lòng biết ơn một cách xứng đáng.


Những lời nói của tôi làm con nhà buôn vàng ngọc yên tâm và tin cậy. Tôi tránh không nói chính mình là hoàng tử Agíp mà chàng đã sợ và rất lưu ý giữ gìn để không gây cho chàng chút ngờ vực nào. Chúng tôi hàn huyên cho đến tận đêm về nhiều chuyện. Tôi nhận thấy chàng thiếu niên khá thông minh. Chúng tôi cùng ăn những thức ăn trữ sẵn trong hầm. Chàng mang theo nhiều thức ăn đến nỗi giá có thêm nhiều khách khứa nữa chứ không phải mỗi mình tôi, bốn mươi ngày sau vẫn chưa ăn hết. Dùng bữa tối xong, chúng tôi tiếp tục chuyện trò một lúc rồi đi ngủ.


Sáng hôm sau khi chàng vừa tỉnh dậy, tôi đã mang đến một chậu nước. Chàng rửa mặt, tôi đi làm thức ăn và dọn ra khi đến bữa. Sau bữa ăn, tôi nghĩ ra một trò chơi gì đấy để giải trí không chỉ trong ngày hôm ấy mà cả những ngày hôm sau. Tôi sửa soạn bữa chiều cũng giống như làm bữa ăn sáng. Chúng tôi ăn rồi đi ngủ y như ngày hôm trước.


Thời gian làm cho chúng tôi thân nhau. Tôi nhận thấy chàng rất mến tôi. Về phần mình, tôi cũng mến yêu chàng nồng nhiệt đến nỗi nhiều lần tôi tự bảo những nhà chiêm tinh đã tiên đoán với cha chàng rằng con trai cụ sẽ bị chết vì bàn tay tôi quả là những tên bịp bợm. Làm sao tôi có thể phạm một hành động độc ác như vậy. Tóm lại thưa bà, chúng tôi đã sống ba mươi chín ngày hết sức dễ chịu trong cái hầm ngầm dưới đất.


Ngày thứ bốn mươi đến. Sáng sớm vừa tỉnh dậy, chàng thiếu niên đã nói với tôi, giọng sôi nổi như không nén được nỗi mừng vui: "Thưa hoàng tử, hôm nay thế là đến ngày thứ bốn mươi rồi mà tôi chưa chết, đó là nhờ ơn Thượng đế và nhờ có ngài làm bạn. Chẳng bao lâu nữa, cha tôi sẽ không quên cảm tạ ngài và cung cấp cho ngài đủ phương tiện và tiện nghi cần thiết để ngài trở về quý quốc. Nhưng trong khi chờ đợi, - chàng nói thêm, - tôi xin ngài vui lòng đem giúp tôi ít nước nóng và cho vào cái bồn tắm tôi có mang theo. Tôi muốn tắm rửa toàn thân và thay áo quần để đón cha tôi cho đàng hoàng".


Tôi đặt nước lên bếp và chờ cho nước ấm, tôi cho vào đầy cái bồn, tôi tự tay tắm rửa kỳ cọ cho chàng. Tắm xong, chàng lên nằm trên chiếc giường mà tôi đã sắp sẵn. Tôi đắp chăn cho chàng. Sau khi nghỉ ngơi và ngủ một chốc, chàng nói: "Thưa hoàng tử, xin ngài vui lòng mang lại đây giúp tôi một quả dưa hấu và đường, tôi muốn ăn một ít cho mát".


Tôi chọn quả tốt nhất trong số dưa hấu còn lại, đặt lên một cái đĩa, và vì không thấy có dao để bổ, tôi hỏi chàng có biết dao để đâu không. Chàng đáp: "Có một con, để ở cái đầu cột phía trên đầu chỗ tôi kìa". Quả nhiên tôi nhìn thấy một con dao. Nhưng bởi quá vội vàng thành ra khi cầm được con dao trong tay thì chân lại vướng vào chăn, tôi ngã xuống và không may đè lên người chàng thiếu niên. Lưỡi dao đâm thọc vào tim chàng. Chàng chết ngay lúc ấy.


Trông thấy cảnh tượng đó, tôi thét lên những tiếng khủng khiếp. Tôi tự đấm vào đầu, vào mặt, vào ngực mình. Tôi xé toạc áo quần và lăn lộn ra đất, đau đớn và hối hận không thể nào tả xiết. "Than ôi! - Tôi kêu lên. - Chỉ còn mấy giờ nữa thôi là chàng thoát khỏi cơn hiểm nghèo khiến chàng phải đi tìm nơi ẩn náu. Và trong khi chính ta cũng tin rằng nỗi nguy hiểm đã qua rồi thì ta lại trở thành kẻ sát hại chàng, làm cho lời tiên đoán biến thành sự thật. Nhưng, hỡi Thượng đế, - tôi ngẩng đầu đưa hai tay lên trời và nói tiếp, - xin Người hãy tha tội cho con, nếu con đã là thủ phạm gây nên cái chết của chàng thì xin Thượng đế chớ để cho con sống lâu hơn nữa".


Sau tai họa vừa xảy ra, có lẽ tôi đã đón nhận cái chết không chút sợ hãi. Nhưng điều dữ cũng như điều lành không bao giờ đến với ta như mong ước. Tuy vậy, nghĩ rằng những giọt nước mắt và nỗi đau của mình cũng chẳng làm cho chàng thiếu niên sống lại được nào, mà bốn mươi ngày lại sắp sửa trôi qua, tôi có thể bị thân phụ chàng bắt giữ. Tôi liền ra khỏi cái hầm ngầm và leo lên khỏi cầu thang. Tôi hạ phiến đá lớn lấp lối đi vào rồi phủ đất lên trên.


Làm vừa xong công việc đó, nhìn ra biển về phía đất liền, tôi trông thấy chiếc tàu đến đón chàng thiếu niên. Tôi suy nghĩ xem nên làm gì đây, rồi tự nhủ: "Nếu ta lộ mặt, chắc chắn cụ già sẽ cho bọn nô lệ bắt và giết chết ngay khi ông cụ nhìn thấy tình trạng con trai. Cho dù ta có biện bạch thế nào chăng nữa cũng không thể làm cho ông cụ tin là ta vô tội. Chi bằng tránh mặt đi, còn hơn là đưa thân ra mà chịu mối căm hờn của ông cụ.


Gần hầm ngầm có một cây to cành lá rậm rịt, tôi thấy có thể nấp ở đấy được. Tôi trèo lên, và vừa loay hoay tìm được chỗ nấp sao cho khỏi bị trông thấy thì chiếc tàu đã cập bến đúng vào chỗ nó từng ghé hôm nọ. Cụ già cùng bọn nô lệ lên bờ ngay và đi về phía hầm ngầm với bộ điệu chứng tỏ họ có ít nhiều hy vọng. Nhưng khi trông thấy đất vừa mới xới lên, tất cả đều biến sắc, đặc biệt là cụ già. Họ nâng phiến đá lên rồi chui xuống. Họ gọi tên chàng thiếu niên. Không có tiếng đáp. Nỗi lo sợ của họ càng tăng thêm. Họ tìm kiếm và trông thấy chàng nằm dài trên giường, lưỡi dao cắm vào đúng giữa tim, bởi vì tôi đã không có đủ can đảm rút dao ra. Trước cảnh tượng ấy, họ thét lên những tiếng đau đớn. Những tiếng kêu ấy làm khuấy động cả những nỗi đau đớn của chính tôi. Cụ già ngã xuống bất tỉnh nhân sự. Để cho cụ được ra chỗ thoáng, bọn nô lệ bế cụ lên đưa ra khỏi hầm và đặt nằm xuống ngay dưới gốc cây tôi đang nấp.


Mặc dù được chăm sóc như vậy, người cha tội nghiệp vẫn mê man một lúc khá lâu, và nhiều khi đã làm cho bọn nô lệ tưởng cụ già khó lòng qua khỏi.


Tuy nhiên, rồi ông cụ cũng hồi tỉnh sau cơn ngất khá lâu. Thế là bọn nô lệ đưa thi hài con trai ông cụ được mặc bộ áo quần đẹp nhất ra. Đào mộ xong, họ hạ huyệt. Cụ già đầm đìa nước mắt, có hai tên nô lệ dìu, ném xuống một vài nắm đất đầu tiên, sau đó bọn nô lệ lấp kín huyệt.


Làm xong công việc ấy, họ mang bàn ghế và thức ăn còn lại dưới hầm ngầm lên và xếp xuống tàu. Sau đó cụ già không đứng vững nữa vì đau đớn quá, được đặt lên một cái cáng tạm và khiêng xuống tàu. Tàu giương buồm rời đảo và chẳng bao lâu đi khuất ngoài tầm mắt tôi.


Trên hoang đảo, chỉ còn lại một mình tôi. Đêm đến, tôi xuống ngủ trong cái hầm không bị lấp. Ban ngày tôi đi lang thang quanh đảo. Khi nào thấy mệt thì dừng lại ở những chỗ sạch sẽ nhất để nghỉ ngơi.


Tôi sống cuộc đời chán chường ấy suốt một tháng. Sau thời gian ấy, tôi nhận thấy biển co lại khá nhiều và hòn đảo thì vươn rộng thêm ra. Hình như đất liền nhích gần lại. Đúng như vậy, nước rút đến nỗi giữa đất liền và tôi chỉ còn một khoảng biển hẹp. Tôi lội qua vào đất liền, nước chỉ ngập đến nửa ống chân. Đi bộ trên bãi cát rất lâu, tôi rất mệt. Cuối cùng, tôi đến được một nơi đất rắn hơn, và đi cách bờ biển khá xa thì trông thấy tít tắp đằng trước mặt hình như có một đám lửa lớn. Điều đó làm cho tôi vui lên một chút. Tôi tự bảo: May ra ta có thể gặp được người nào, không có lẽ lửa tự nó cháy lên. Nhưng càng đến gần tôi càng vỡ nhẽ là mình nhầm. Chỉ lát sau, cái mà tôi cho là đám lửa ấy kỳ thực là một tòa lâu đài bằng đồng đỏ, ánh nắng rọi vào làm cho từ xa nom như bốc lửa.


Tôi dừng lại gần tòa lâu đài ấy và ngồi xuống, vừa để ngắm nghía cấu trúc tuyệt đẹp của nó, vừa để lấy lại đôi chút hơi sức. Tôi chưa kịp quan sát thật kỹ lưỡng cho đáng với ngôi nhà tráng lệ thì chợt trông thấy mười chàng trẻ tuổi tuấn tú và có vẻ như vừa đi dạo mát trở về. Nhưng điều tôi cho là khá kỳ cục, là tất cả đều bị chột mắt bên phải. Họ đi theo một cụ già cao lớn và có vẻ đáng kính.


Tôi ngạc nhiên lạ lùng sao lại gặp bấy nhiêu người chột cùng một lúc và cùng mất đúng một bên mắt. Trong lúc tôi đang cố suy nghĩ chuyện gì xảy ra làm cho họ tập hợp lại một nơi, thì họ đã đến gần và tỏ vẻ vui mừng được gặp tôi. Sau những lời chào hỏi ban đầu, họ hỏi tôi vì sao đến đây. Tôi đáp: "Câu chuyện của tôi khá dài dòng, nếu các vị vui lòng ngồi xuống, tôi xin thỏa mãn điều các vị muốn biết". Họ ngồi xuống. Tôi kể cho họ nghe những việc đã xảy ra cho tôi từ ngày từ giã đất nước mình cho đến lúc bây giờ. Họ đều rất lấy làm ngạc nhiên về những chuyện đó.


Khi tôi kể xong, các ngài trẻ tuổi ấy mời tôi cùng họ vào trong lâu đài. Tôi nhận lời. Chúng tôi đi qua vô số là sảnh ngoài, phòng đợi, phòng riêng và phòng làm việc, đồ đạc đều rất sạch sẽ, rồi đến một phòng khách lớn. Ở đây có mười chiếc bục nhỏ màu xanh tách biệt kê thành vòng tròn, vừa dùng để ngồi nghỉ ban ngày, vừa để ngủ đêm. Chính giữa vòng tròn ấy là chiếc bục thứ mười một, cùng màu sắc nhưng thấp hơn. Cụ già tôi đã nói đến ngồi lên chiếc bục ở giữa, còn các ngài trẻ tuổi ngồi ở những chiếc bục chung quanh.


Vì mỗi chiếc bục chỉ ngồi được một người, một chàng trẻ tuổi liền bảo tôi: "Bạn hãy ngồi xuống tấm thảm chính giữa, và chớ có hỏi han về bất cứ những gì có liên quan đến chúng tôi. Chớ có hỏi vì sao tất cả chúng tôi đều chột mắt bên phải. Bạn hãy bằng lòng chỉ nhìn xem thôi, không nên tò mò hơn nữa".


Cụ già không ngồi yên lâu. Cụ đứng dậy và đi ra. Chỉ lát sau trở lại mang bữa cơm chiều cho mười chàng trẻ tuổi. Cụ chia khẩu phần riêng cho từng người. Cụ cũng đưa cho tôi một suất. Tôi bắt chước những người khác lặng lẽ ăn một mình. Đến cuối bữa ăn thì chính cụ già ấy mang cho mỗi người một cốc rượu. Mọi người cho câu chuyện của tôi kỳ lạ đến nỗi sau khi ăn xong, họ bắt tôi thuật lại lần nữa. Câu chuyện về tôi trở thành đầu đề bàn luận suốt cả phần lớn đêm ấy. Chợt nhớ ra đêm đã về khuya, một chàng bảo cụ già: "Bác thấy đã đến lúc đi ngủ, thế mà bác chưa đưa cho chúng tôi những thứ cần thiết để chúng tôi làm phận sự". Nghe nói, cụ già liền đứng dậy đi vào một căn buồng rồi lần lượt mang ra mười cái chậu, tất cả đều phủ vải xanh. Cụ già đặt trước mặt mỗi chàng một cái chậu và một cây đuốc.


Họ mở chậu ra, bên trong đựng tro, than, bột và bồ hóng. Họ trộn lẫn những thứ ấy lại với nhau, rồi bắt đầu chà lên bôi nhọ nhem mặt mũi cho đến lúc nhìn phát khiếp. Sau khi bôi đen mặt mũi như vậy rồi, họ bắt đầu khóc lóc và vừa đấm đầu đấm ngực, vừa luôn miệng kêu than: "Đây là kết quả của sự ăn không ngồi rồi và chơi bời trác táng của chúng tôi!".


Thưa bà, xin bà hãy hình dung sự bực bội của tôi suốt thời gian ấy. Biết bao nhiêu lần tôi đã định phá tan sự im lặng mà các ngài ấy buộc tôi phải giữ, để cất lời hỏi họ. Suốt đêm hôm ấy, tôi không thể nào ngủ được.


Ngày hôm sau vừa tỉnh giấc, khi chúng tôi ra ngoài trời để hít thở không khí, tôi hỏi họ: "Thưa quý ngài, tôi tuyên bố là tôi không chấp nhận cái luật lệ các ngài đề ra cho tôi hôm qua. Tôi không tuân thủ nó nữa đâu. Các ngài đều là những con người khôn ngoan và thông minh rất mực, điều đó đã rõ, ấy thế nhưng tôi lại trông thấy các ngài có những hành động mà trừ những kẻ mất trí ra, không ai có thể làm. Cho dù có tai họa nào xảy đến với tôi chăng nữa tôi cũng không thể cầm lòng không hỏi vì sao các ngài lại đi bôi tro, than và bồ hóng lên mặt, và sau nữa, vì sao tất cả các ngài chỉ có mỗi một con mắt? Chắc hẳn có một điều gì đó rất kỳ lạ gây nên. Bởi vậy, tôi van các ngài hãy vui lòng nói cho tôi rõ".


Đáp lại những lời van nài khẩn thiết như vậy, họ chỉ một mực nói là những điều tôi hỏi chẳng có quan hệ gì với tôi, tôi chẳng có chút lợi ích gì ở đấy và hãy nghỉ yên. Ban ngày chúng tôi chuyện trò về những việc không đâu, rồi đêm đêm, sau khi ăn tối riêng rẽ, cụ già lại mang các chậu xanh đến, các chàng trẻ tuổi lại bôi mặt lọ lem, lại tự đấm mình mà kêu than: "Đây là kết quả của sự ăn không ngồi rồi và chơi bời trác táng của chúng tôi!". Ngày hôm sau và những ngày hôm sau nữa, họ vẫn làm những hành động đó.


Cuối cùng không kìm nổi sự hiếu kỳ nữa, tôi yêu cầu họ một cách rất nghiêm chỉnh, hoặc là nói cho tôi biết, hoặc là chỉ cho tôi con đường để cho tôi có thể trở về nước nhà. Bởi vì tôi không thể nào ở lại với họ lâu hơn nữa, để tối nào cũng phải chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng như vậy mà không được phép tìm hiểu căn nguyên.


Thay mặt tất cả, một ngài trả lời tôi: "Xin ngài chớ ngạc nhiên về thái độ của chúng tôi đối với ngài. Nếu cho đến tận bây giờ chúng tôi chưa vâng theo những yêu cầu của ngài, chẳng qua là vì tình thân hữu và để tránh cho ngài nỗi buồn sẽ phải lâm vào tình trạng như chúng tôi đấy thôi. Nếu ngài muốn nếm qua cái số phận khốn khổ như số phận chúng tôi, xin ngài cứ việc nói ra, chúng tôi sẵn sàng làm thỏa những điều ngài mong muốn". Tôi nói với họ rằng tôi quyết tâm chịu đựng đủ mọi điều. Ngài trai trẻ lại nói: "Một lần nữa chúng tôi khuyên ngài nên kiềm chế bớt sự tò mò, nó sẽ làm cho ngài thiệt mất con mắt bên phải đấy".


- Không hề gì, - tôi đáp, - tôi xin tuyên bố rằng nếu điều không may ấy xảy ra cho tôi, tôi sẽ không đổ tại các ngài gây nên, mà nhận là lỗi chỉ tại ở chính mình mà thôi.


Chàng lại cho tôi biết rằng, sau này nếu tôi đã bị mất đi một mắt, tôi sẽ không thể hy vọng được ở lại đây cùng với họ, giả dụ rằng tôi muốn như vậy, bởi vì họ đã đủ về số lượng rồi, không thể tăng thêm hơn nữa. Tôi đáp tôi sẽ lấy làm thích thú nếu được không bao giờ phải xa rời những con người trung hậu như họ. Nhưng nếu bắt buộc phải chia tay thì tôi cũng sẵn sàng phục tùng với bất cứ giá nào, tôi cũng mong họ đáp ứng cho điều tôi thỉnh cầu.


Mười ngài trai trẻ thấy lòng tôi không lay chuyển, liền bắt một con cừu, cắt tiết. Sau khi lột da, họ đưa cho tôi con dao họ vừa dùng và nói: "Ngài hãy cầm lấy con dao này, nó sẽ giúp ích ngài vào những dịp mà chúng tôi sắp nói để ngài rõ đây. Ngài sẽ khoác tấm da này lên người và chúng tôi sẽ khâu ngài trong đó. Sau đấy chúng tôi để ngài lại đây và bỏ đi. Lúc ấy, một con chim rất to mà người ta gọi là đại bàng sẽ xuất hiện trên không. Tưởng ngài là một con cừu, nó sẽ sà xuống cắp và tha ngài lên tận chín tầng mây. Nhưng ngài đừng vì thế mà kinh hãi. Nó sẽ bay trở lại mặt đất và đặt ngài xuống đỉnh một ngọn núi. Vừa chạm đất, ngài hãy dùng dao rạch đứt da cừu và chui ra. Con đại bàng vừa trông thấy ngài, sẽ sợ hãi bay đi nơi khác, để cho ngài tự do. Ngài đừng dừng lại mà cứ đi mãi cho đến khi thấy một tòa lâu đài lớn kỳ diệu, phủ toàn vàng gấm, ngọc bích và các loại đá quý khác. Ngài hãy đến trước cái cổng thường xuyên bỏ ngỏ và cứ mạnh dạn bước vào. Tất cả chúng tôi có mặt ở đây, ai cũng đều đã từng ở trong lâu đài ấy cả. Chúng tôi không nói với ngài là đã trông thấy những gì hoặc điều gì đã xảy ra cho chúng tôi; tự ngài khắc biết. Điều chúng tôi có thể thưa với ngài là mỗi chúng tôi đều phải trả giá bằng con mắt bên phải. Cái hình phạt mà ngài từng chứng kiến ở đây là một việc chúng tôi buộc phải làm vì đã từng sống trong lâu đài ấy. Chuyện về từng người, chúng tôi ai cũng đầy rẫy những sự phiêu lưu kỳ lạ, mỗi người có thể chép thành một cuốn sách dày. Nhưng giờ đây, chúng tôi không thể nói được nhiều hơn nữa.


Thưa bà, một trong số mười người chột mắt nói xong những điều mà tôi vừa thuật lại hầu bà, tôi liền chui luôn vào tấm da cừu, tay cầm con dao họ vừa đưa cho. Các ngài ấy vui lòng khâu kín tấm da lại, họ để tôi ở lại chỗ trống và trở vào phòng khách. Con đại bàng mà họ nói đến chẳng mấy chốc xuất hiện. Nó bổ nhào xuống, cắp tôi vào giữa các móng như cắp một con cừu rồi mang tôi lên đỉnh một ngọn núi cao.


Lúc cảm thấy chạm đất, tôi dùng con dao rạch đứt tấm da và chui ra. Con đại bàng vừa trông thấy người đã vội cất cánh bay đi. Con đại bàng ấy là một con chim trắng to lớn kỳ dị. Nói về sức lực thì nó khỏe đến mức có thể nhấc bổng cả một con voi từ dưới đồng bằng đưa lên tận núi cao để ăn thịt. Nôn nóng muốn chóng đến được tòa lâu đài, tôi không để mất một chút thì giờ. Tôi đi vội vã đến nỗi chỉ sau chưa đến nửa ngày đường đã tới nơi. Có thể nói là tôi thấy tòa lâu đài thực tế còn đẹp hơn cả người ta mô tả.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêmNhà văn Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học liên kết xuất bản cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
2. Sự tích trầu cau và vôi - Nguyễn Đổng Chi 11.03.2017
Nghìn lẻ một đêm (13) - Antoine Galland 20.11.2016
Nghìn lẻ một ngày (18) - FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX 20.11.2016
Nghìn lẻ một đêm (14) - Antoine Galland 20.11.2016
Nghìn lẻ một đêm (11): Chuyến đi thứ hai của Ximbat người đi biển - Antoine Galland 12.08.2016
Nghìn lẻ một đêm (10) - Antoine Galland 26.06.2016
Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối - Nguyễn Đổng Chi 11.05.2016
35. Sự tích núi Ngũ-hành - Nguyễn Đổng Chi 30.03.2016
34. Sự tích thành Lồi - Nguyễn Đổng Chi 29.03.2016
33. Sự tích đá Bà Rầu - Nguyễn Đổng Chi 19.03.2016
xem thêm »