tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23647113
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
18.08.2012
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (9)

CHUYỆN KẺ GHEN GHÉT VÀ NGƯỜI BỊ GHEN GHÉT


Trong một thành phố khá lớn nọ, có hai người nhà ở xế cửa nhau. Một người nuôi một mối ghen ghét đến nỗi người bị ghen ghét đành phải dọn nhà đi xa. Ông chắc rằng chỉ tại ở gần nhau cho nên mới bị hàng xóm của mình thù ghét, ông đã hết sức lấy lòng mà vẫn không làm sao cho gã giảm bớt hằn thù được chút nào. Ông bán nhà cùng với ít đồ đạc của mình và đến kinh thành tậu một mảnh đất nhỏ cách phố xá chừng nửa dặm đường. Ngôi nhà khá đầy đủ tiện nghi, có một mảnh vườn đẹp và một cái sân rộng vừa phải. Trong sân có một bể chứa nước sâu đã lâu ngày không dùng chứa nước.


Con người tốt bụng mua được chỗ nhà đất ấy rồi, liền đi tu để sống một cuộc đời ẩn dật. Ông cho xây thêm nhiều phòng tu ở trong nhà. Chỉ ít lâu sau nhà ông đã trở thành một cộng đồng đông đảo tu sĩ. Đức độ của ông chẳng bao lâu nổi tiếng và do đó thu hút khá đông thiên hạ, cả những dân thường cũng như các quan chức trong thành phố đến thăm. Tóm lại, mọi người đều hết sức quý trọng và yêu mến ông. Nhiều người từ xa đến xin ông cầu nguyện cho. Tất cả những ai được gặp ông trở về đều đồn đại về những phước lành mà họ tin là được trời ban cho thông qua vị tu sĩ.


Danh vọng lớn của ông truyền về đến tận thành phố quê hương nơi mà ông đã rời bỏ, làm cho con người hay ghen ghét kia quá đỗi buồn rầu. Đến mức gã phải bỏ cửa bỏ nhà và công việc làm ăn ra đi với quyết tâm tìm cách giết hại người hàng xóm cũ cho bằng được. Nhằm mục đích đó, gã đến tu viện của các ẩn sĩ và được viện trưởng trước đây vốn là hàng xóm của gã, tiếp đón một cách cực kỳ thân ái. Gã hay ghen ghét nói với ông rằng gã đến đây để bàn với ông một việc hệ trọng, chỉ có thể nói chuyện riêng với mỗi mình ông ta mà thôi. Gã nói thêm: "Để không cho ai có thể nghe được câu chuyện giữa chúng ta, tôi xin ngài, chúng ta hãy cùng đi dạo trong sân. Và vì trời cũng sắp tối rồi, xin ngài hãy ra lệnh cho các tu sĩ của ngài trở về buồng riêng của họ".


Vị trưởng tu sĩ làm theo lời gã yêu cầu. Khi gã hay ghen ghét chỉ còn lại một mình với con người tốt bụng ấy, gã vừa đi sóng đôi với ông trong sân vừa bắt đầu nói huyên thuyên cho tới khi đến bên bờ cái bể chứa, thì xô nhào ông xuống đấy. Chẳng có ai hay biết gì về hành động độc ác ấy. Làm xong, gã chạy vội ra cửa tu viện và thoát ra ngoài không để ai trông thấy. Gã trở về nhà, hí hửng với chuyến đi, tin chắc rằng người mình ghen ghét không còn sống trên đời này nữa. Nhưng gã đã nhầm to.


Cái bể chứa ấy vốn có tiên và thần ở. Họ có mặt đúng lúc để cứu vị trưởng các tu sĩ. Họ đón lấy ông và đỡ ông xuống đáy bể một cách nhẹ nhàng đến nỗi ông chẳng cảm thấy đau đớn chút nào. Ông có cảm giác về một chuyện gì đó phi thường trong khi ngã lẽ ra đã làm cho ông thiệt mạng, song ông không nhìn rõ mà cũng chẳng nghe thấy gì.


Tuy vậy, lát sau ông nghe có tiếng nói: "Các bạn có biết con người mà chúng ta vừa cứu giúp ấy là ai không?". Nhiều tiếng khác trả lời không biết, giọng nói đầu tiên lại đáp: "Tôi sẽ cho các bạn hay. Người này với lòng nhân từ rộng lớn nhất thế gian, đã rời bỏ thành phố ông đang sống đến đây ở, với niềm hy vọng có thể chữa cho một người hàng xóm khỏi cái bệnh ghen ghét mình. Ông ta được mọi người đồng tình quý trọng đến nỗi gã hay ghen ghét kia không chịu nổi, đã tìm đến đây với ý định giết hại ông. Việc đó hẳn đã xảy ra nếu không gặp chúng ta cứu giúp con người tốt bụng, mà tiếng tăm vang động đến nỗi hoàng đế đang ngự thành phố bên cạnh ngày mai sẽ đến thăm, để nhờ ông cầu nguyện cho công chúa". Một giọng khác hỏi tại sao công chúa lại phải cần đến tu sĩ cầu nguyện cho. Giọng đầu tiên đáp: "Các bạn không biết rằng nàng bị thần Maimun, con trai của Đimđin, ám vì nó phải lòng nàng ư? Nhưng tôi biết cách mà vị trưởng các tu sĩ tốt bụng này sẽ dùng để chữa cho nàng rồi. Việc dễ dàng thôi, tôi xin nói để các bạn rõ. Trong tu viện của ông có một con mèo đen, cuối đuôi nó có một đốm trắng chỉ lớn bằng đồng hào. Ông ta chỉ cần bứt bảy sợi lông từ cái đốm trắng ấy, đốt lên và dùng khói xông đầu cho công chúa. Lập tức nàng sẽ lành hẳn bệnh và thoát khỏi sự ám ảnh của thần Maimun con trai của Đimđin. Lão ấy sẽ không bao giờ dám bén mảng đến gần nàng một lần thứ hai nữa".


Vị trưởng các tu sĩ không để sót một lời qua lại nào giữa các vị thần tiên. Sau khi nói xong câu chuyện ấy, các vị thần tiên lặng im cho đến sáng. Ngày hôm sau, trời bắt đầu sáng. Nhờ trông rõ được mọi vật, ông nhận ra một cái lỗ và từ đó thoát ra khỏi bể chứa và đi ra ngoài chẳng khó nhọc gì vì nó đã hỏng ở nhiều nơi.


Các tu sĩ đang đi tìm ông, rất vui mừng thấy ông trở về. Ông kể vắn tắt về hành động độc ác của người khách mà ông đã tiếp đón niềm nở ngày hôm trước, rồi trở về buồng riêng. Con mèo đen mà ông nghe nói đêm hôm trước qua câu chuyện giữa các vị thần tiên chỉ lát sau đã đến cọ vào người ông như thường lệ. Ông bứt bảy sợi lông ở cái đốm trắng cuối đuôi của nó, để riêng ra một nơi phòng khi cần đến.


Mặt trời vừa mọc chưa bao lâu thì xa giá hoàng đế đã đến trước tu viện. Người không muốn từ nan bất cứ một việc gì có thể mong chóng chữa khỏi bệnh cho công chúa. Vua ra lệnh đội bảo vệ dừng lại trước cửa, rồi cùng với các quan đại thần tùy giá bước vào. Các tu sĩ tiếp đón nhà vua hết sức kính trọng. Hoàng đế gọi riêng vị trưởng tu sĩ ra và nói: "Chắc tiên sinh đã rõ lý do gì đưa ta đến đây".


- Tâu bệ hạ, có. - Tu sĩ trả lời khiêm tốn. - Nếu tôi không nhầm, căn bệnh của công chúa là nguyên nhân khiến cho tôi được cái vinh hạnh mà mình không xứng đáng là nghênh tiếp bệ hạ.


- Đúng như vậy. - Hoàng đế đáp. - Tiên sinh sẽ làm cho ta sống lại nếu như qua những lời cầu nguyện của mình, tiên sinh có thể giúp cho con gái ta khỏi bệnh, điều mà ta hy vọng là tiên sinh có thể thực hiện được.


- Tâu bệ hạ, - con người tốt bụng nói, - nếu bệ hạ vui lòng cho mời công chúa lại đây, tôi mong rằng với sự cứu giúp và ơn cao cả của Thượng đế, công chúa sẽ hoàn toàn khỏi bệnh trở về.


Nhà vua rất đỗi vui mừng, lập tức sai đi tìm con gái. Lát sau, công chúa đến cùng một đoàn tùy tùng đông đúc gồm các nữ tì và quan hoạn. Nàng đeo mạng không để cho ai nhìn rõ mặt. Vị trưởng các tu sĩ cho đốt một lò than trên đầu công chúa. Khi ông vừa đặt lên than hồng bảy sợi lông mèo thì lập tức thần Maimun con trai của Đimđin thét lên một tiếng dữ tợn và xuất khỏi công chúa mà chẳng hề ai trông thấy gì cả.


Thoạt tiên là đưa tay vén tấm mạng che mặt để xem mình đang ở đâu, nàng kêu lên: "Ta ở đâu thế này? Ai đưa ta đến đây?".


Nghe câu đó, hoàng đế không nén được mừng vui. Người ôm con gái, hôn lên mắt con. Người cũng hôn tay vị trưởng tu sĩ và nói với các quan đi theo: "Các khanh hãy cho ta biết cảm tưởng. Người đã chữa cho con gái ta khỏi bệnh như thế này đáng được ban thưởng gì?". Các quan đều trả lời ông đáng được kết hôn cùng công chúa. "Điều đó hợp ý ta - hoàng đế nói tiếp - và ta nhận người này là con rể ta từ giờ phút này".


Ít lâu sau tể tướng qua đời. Hoàng đế cử tu sĩ lên thay. Rồi hoàng đế cũng băng hà mà không có con trai nối nghiệp. Các giáo phái và dân quân trong nước họp mặt lại nhất trí tuyên bố thừa nhận tể tướng mới lên ngôi hoàng đế.


Vị tu sĩ tốt bụng nối ngôi vua thay bố vợ. Một hôm, đang cùng với cả triều đình ngự giá trên đường thì ông chợt trông thấy người vẫn ghen ghét mình lẫn trong đám đông dân chúng bên đường. Vua gọi một thượng thư tùy giá và khẽ bảo: "Khanh hãy đến và dẫn người kia lại đây cho ta, chú ý chớ làm cho anh ta kinh hãi". Quan thượng thư tuân lệnh. Khi người hay ghen ghét được đưa đến, hoàng đế bảo y: "Anh bạn ơi, tôi rất sung sướng được gặp lại bạn". Rồi nói với một viên quan khác: "Hãy lập tức trao cho người này một nghìn đồng vàng lấy ở kho vàng của ta. Ngoài ra hãy cấp cho anh ta hai mươi gánh hàng hóa quý nhất trong kho ta. Và hãy cử một đội bảo vệ đủ mạnh để dẫn đường và hộ tống anh về tận nhà".


Sau khi giao cho ông quan nhiệm vụ ấy, hoàng đế từ biệt gã hay ghen ghét và tiếp tục cuộc tuần du. Khi tôi  đã kể cho lão hung thần vừa giết hại nàng công chúa đảo Gỗ Mun nghe hết câu chuyện ấy, tôi liền rút ra câu kết luận: "Hỡi thần linh, - tôi nói, - ngài thấy rằng vị hoàng đế hay làm việc lành ấy không chỉ vui lòng quên việc mình đã từng bị gã hay ghen ghét kia làm cho suýt thiệt mạng, mà còn đối đãi tử tế và cho gã trở về với tất cả lòng độ lượng mà ngài vừa nghe". Tóm lại, tôi đem hết tài hùng biện ra van lão hãy noi theo một tấm gương tốt đẹp như vậy để tha tội cho tôi. Nhưng tôi vẫn không sao lay chuyển được lão.


- Tất cả những gì ta có thể làm được cho mày - lão bảo tôi - ấy là không giết chết mày. Nhưng chớ có vội mừng là ta sẽ để cho mày trở về an toàn nguyên vẹn. Ta phải cho mày thấy pháp thuật của ta có thể làm được những gì.


Dứt lời, lão túm lấy tôi một cách hung bạo, mang tôi xuyên qua vòm cao của tòa lâu đài dưới đất. Đất mở ra cho lão bay qua. Lão đưa tôi lên cao vút đến nỗi nhìn thấy quả đất giống như một vầng mây trắng nhỏ. Từ độ cao ấy, lão lao xuống mặt đất nhanh như chớp giật và đặt chân lên đỉnh một ngọn núi.


Ở đấy lão nhặt một nắm đất, đọc hay đúng hơn là lầm bầm mấy câu thần chú tôi không hiểu gì cả, rồi ném đất vào tôi: "Hãy từ bỏ mặt người, - lão nói, - và hãy mang mặt khỉ". Lão biến mất ngay, để lại mỗi mình tôi, cô đơn, người hóa thành khỉ, nặng trĩu đau buồn, ở một xứ xa lạ không rõ ở gần hay xa đất nước của vua cha.


Tôi từ núi cao đi dần xuống và vào một xứ đồng đất bằng phẳng. Sau một tháng thì đi tận cùng xứ ấy, tới sát bờ biển. Biển lúc bấy giờ đang lặng. Tôi nhận ra một chiếc tàu cách bờ chừng nửa dặm. Không để lỡ mất thời cơ tốt như vậy, tôi bẻ một cành cây to, kéo xuống biển và cưỡi lên trên, chân bên này chân bên kia, mỗi tay cầm một chiếc gậy làm chèo.


Bơi bằng cách ấy, tôi tiến đến phía chiếc tàu. Khi tôi đã đến khá gần để người trên tàu có thể nhận rõ, các thủy thủ và khách tập trung trên sàn tàu đều cho là một cảnh tượng kỳ dị. Mọi người đều nhìn tôi rất thán phục. Trong lúc đó tôi đến được sát mạn tàu. Bám vào một sợi dây, tôi leo lên tới sàn tàu. Nhưng bởi vì không thể nói ra lời, tôi lâm vào một tình trạng bối rối khủng khiếp. Quả vậy, mối nguy hiểm tôi đang trải qua lúc này cũng không kém ghê gớm như khi còn thuộc quyền sinh sát của lão hung thần. Các nhà buôn vốn mê tín và hay nghĩ ngợi xa xôi, họ tin rằng cho tôi lên tàu, tôi có thể mang tai họa đến cho tàu bè của họ. Bởi vậy, một người nói: "Tôi sẽ cho nó một chùy chết tươi". Một người khác: "Tôi muốn cho nó một mũi tên xuyên suốt qua người". Một người nữa: "Phải ném nó xuống bể". Một người nào đó có lẽ đã làm được điều họ nói nếu tôi không níu lấy áo thuyền trưởng và phủ phục dưới chân ông ta. Tôi nắm lấy áo ông theo bộ điệu một người đang cầu khẩn. Xúc động sâu sắc trước cử chỉ và nước mắt ròng ròng của tôi, ông ta nhận che chở tôi. Ông nói sẽ làm cho kẻ nào định gây hại cho tôi sẽ phải hối hận. Ông ta còn vuốt ve tôi rất lâu. Về phía mình, bởi vì không nói được ra lời, tôi đành tìm cách để qua cử chỉ, biểu lộ lòng biết ơn.


Sau đợt biển lặng, gió nổi lên không mạnh nhưng kéo dài. Suốt năm mươi ngày gió không đổi hướng, giúp chúng tôi cập bến thuận lợi một thành phố đẹp rất đông dân và buôn bán sầm uất. Tàu neo lại đấy. Thành phố ấy rất quan trọng vì chính là kinh đô của một quốc gia hùng mạnh.


Chiếc tàu của chúng tôi nhanh chóng bị vô số những chiếc thuyền con đến vây quanh. Những chiếc thuyền này chở đầy những người, hoặc đến chào mừng bạn bè thân thuộc mới tới, hoặc đến hỏi thăm tin tức những người ở các nơi tàu vừa rời bến. Cũng có nhiều người đến chỉ để xem một chiếc tàu từ xa mới đến cho thỏa sự tò mò mà thôi.


Trong số người này có mấy ông quan muốn nhân danh hoàng đế nói chuyện với các nhà buôn trên tàu. Các nhà buôn đến ra mắt. Một quan nói: "Hoàng đế chúng tôi giao chúng tôi nhiệm vụ biểu lộ lòng vui mừng của Người trước việc các vị đến đây. Người mong các vị vui lòng viết lên cuộn giấy mỗi người vài ba dòng chữ. Để các vị hiểu ý định của hoàng thượng, tôi xin trình bày thêm là Người có một tể tướng vừa rất có năng lực xử lý các công việc vừa viết chữ cực kỳ hoàn hảo. Vị đại thần ấy vừa qua đời cách đây mấy ngày. Hoàng đế chúng tôi rất buồn, và bởi vì không bao giờ Người nhìn nét bút của tể tướng mà không khâm phục, cho nên Người long trọng thề rằng chỉ trao chức tể tướng cho vị nào viết chữ cũng đẹp như chữ cố tể tướng mà thôi. Nhiều người đã dâng trình nét bút của mình, nhưng cho đến nay chưa có một ai trong đất nước chúng tôi được coi là xứng đáng giữ cương vị tể tướng".


Các nhà buôn trên tàu, vị nào tự xét bút mình đủ đẹp để có thể nhòm ngó địa vị cao sang ấy, đều lần lượt viết ra những gì họ muốn nói. Khi họ viết xong, tôi tiến lên và nhấc cuộc giấy từ tay người đang cầm. Mọi người, đặc biệt là các nhà buôn vừa mới viết chữ, ngỡ rằng tôi muốn xé rách hoặc ném xuống bể liền kêu toáng lên. Song, họ yên tâm ngay khi thấy tôi cầm cuộn giấy khá chững chạc và ra hiệu tỏ ý muốn đến lượt mình cũng được viết. Điều đó làm cho họ đổi lo âu thành thán phục. Tuy vậy, bởi vì chưa bao giờ ai trông thấy khỉ biết viết chữ, và không thể nào tin là tôi lại giỏi hơn những người khác, cho nên họ muốn giật lấy cuộn giấy khỏi tay tôi. May sao thuyền trưởng lại bênh vực: "Các ngài cứ mặc nó, cứ để cho nó viết. Nếu nó chỉ bôi bẩn giấy, tôi hứa với các ngài sẽ trừng phạt nó ngay tức khắc. Nếu ngược lại, nó viết tốt, điều mà tôi hy vọng, bởi vì suốt đời tôi chưa bao giờ trông thấy một con khỉ khéo léo hơn, tài giỏi hơn hoặc am hiểu việc đời hơn con này, tôi tuyên bố nhận nó làm con nuôi. Tôi có một đứa con trai, nhưng xét ra không được thông minh bằng con khỉ này".


Thấy không có ai phản đối ý kiến của thuyền trưởng, tôi cầm bút và chỉ buông xuống sau khi viết xong sáu kiểu chữ A Rập vẫn thường dùng. Mỗi kiểu chữ viết hàm chứa nội dung một bài thơ hai câu hoặc thơ tứ tuyệt vừa mới nghĩ ra để ca ngợi đức vua. Nét chữ của tôi không những làm lu mờ nét chữ các nhà buôn, mà tôi còn dám nói rằng cho đến lúc bấy giờ ở nước này chưa ai được nhìn thấy có những chữ viết tốt đến như vậy bao giờ.


Tôi viết xong, các quan cầm cuộn giấy và mang về dâng lên hoàng đế.


Nhà vua không để ý gì đến các chữ viết khác. Người chỉ xem nét bút của tôi và rất lấy làm vừa lòng. Người phán bảo các quan: "Hãy lấy con ngựa đẹp nhất, yên cương sang trọng nhất trong chuồng ngựa của ta, và mang theo một chiếc áo gấm lộng lẫy nhất để mặc cho người đã viết sáu kiểu chữ này, rồi đón ông ta đến đây cho ta".


Nghe lệnh của hoàng đế, các quan bật cười. Nhà vua nổi giận vì sự phạm thượng đó, định trị tội thì họ vội tâu: "Xin bệ hạ tha tội cho chúng tôi. Những chữ viết này không phải do người mà do một con khỉ viết ra".


- Các người nói thế nào? - Hoàng đế thốt lên. - Những nét chữ tài hoa này lại không phải do bàn tay một con người viết sao?


- Tâu bệ hạ, không. - Một quan đáp. - Chúng tôi xin quả quyết với bệ hạ rằng đây là nét bút của một con khỉ, nó viết những dòng này ngay trước mắt của chúng tôi.


Hoàng đế thấy có sự quá lạ lùng cho nên tò mò muốn gặp tôi. Người phán: "Các người cứ việc làm như lời ta bảo. Hãy mau chóng đón về đây cho ta con khỉ hiếm thấy thế này".


Các quan trở lại chiếc tàu và trình bày lệnh đó với thuyền trưởng. Ông này đáp rằng hoàng đế là chúa tể, lệnh của Người phải được tuân theo. Lập tức họ mặc cho tôi chiếc áo gấm rất sang trọng, cho tôi lên bờ rồi đặt tôi ngồi lên yên con ngựa của hoàng đế và đưa tôi vào cung. Ở đấy nhà vua cùng với một số đông triều thần mà nhà vua vừa cho triệu đến để tăng thêm vinh hạnh cho tôi, đang chờ đợi.


Cuộc đi bắt đầu. Từ hải cảng qua các phố xá, các quảng trường công cộng, sau các cửa sổ cho đến trên sân thượng các lâu đài và nhà cửa đều đầy ắp cơ man là người cả nam lẫn nữ, có trẻ có già. Họ từ khắp nơi trong thành phố, tò mò đổ xô về xem mặt tôi, bởi vì có lời đồn đại rất nhanh rằng hoàng đế vừa chọn một con khỉ làm tể tướng. Trên đường đến hoàng cung, tôi làm cho dân chúng ấy không ngớt xôn xao và ngạc nhiên, vì cái cảnh tượng họ trông thấy trước mắt quả mới lạ quá chừng.


Nhà vua đang ngồi trên ngai vàng, chung quanh có các triều thần. Tôi vái ba vái. Vái xong tôi quỳ xuống hôn mặt đất trước mặt Người. Sau đó tôi lại ngồi lên theo lối ngồi của loài khỉ. Tất cả cử tọa không ngớt ngợi khen tôi. Không ai hiểu làm sao một con khỉ lại có thể biết làm mọi lễ tiết đối với bậc hoàng đế. Hoàng đế lại càng ngạc nhiên hơn bất cứ ai. Tóm lại, buổi lễ triều kiến có lẽ sẽ đầy đủ trọn vẹn nếu tôi có thể kèm theo các cử chỉ của mình những lời chúc tụng. Nhưng loài khỉ chẳng biết nói bao giờ, và cái ưu thế từng được làm người cũng chẳng cho tôi được có thêm chút nào cái đặc ân đó.


Hoàng đế truyền bãi triều. Còn lại cùng với Người chỉ có viên chỉ huy đội quan hoạn, một tên nô lệ nhỏ rất trẻ, và tôi. Nhà vua rời phòng thiết triều sang hậu cung và truyền dọn thức ăn. Nhà vua ngồi vào bàn và ra hiệu bảo tôi tiến đến gần và cùng ăn với Người. Để biểu lộ sự tuân phục, tôi hôn mặt đất, đứng lên ngồi vào bàn. Tôi ăn rất lễ phép và khiêm tốn.


Trước khi người ta thu dọn bàn ăn, tôi chợt trông thấy một cái bàn viết, tôi ra hiệu bảo mang lại. Người ta đưa đến, tôi tựa vào đấy viết lên một quả đào mấy câu thơ vừa sáng tác để nói lên lòng biết ơn đối với hoàng đế. Đọc xong bài thơ viết lên quả đào tôi đưa dâng, hoàng đế càng ngạc nhiên hơn. Bàn ăn thu dọn xong, quân hầu mang đến một loại nước uống đặc biệt. Nhà vua sai rót cho tôi một cốc. Tôi uống, rồi lại viết lên trên cốc những câu thơ khác diễn tả tình cảnh của mình sau khi trải qua bao bước gian truân. Hoàng đế xem xong, nói: "Một con người nào có khả năng làm được như thế này, thì còn tài hoa hơn cả những bậc vĩ nhân tài hoa nhất".


Nhà vua sai mang ra một bộ quân cờ và ra hiệu hỏi tôi có biết đánh cờ và có muốn chơi với Người hay không. Tôi hôn mặt đất, rồi đặt tay lên đầu tỏ ý là sẵn sàng nhận vinh dự đó. Nhà vua thắng tôi ván đầu. Song tôi được ván thứ hai và ván thứ ba. Nhận thấy điều đó làm cho nhà vua hơi có vẻ không vui, để an ủi Người, tôi làm một bài thơ tứ tuyệt dâng lên. Qua thơ tôi nói với Người rằng hai đạo quân hùng mạnh chiến đấu rất hăng say suốt cả ngày, nhưng đến tối, họ giảng hòa và cùng nhau nghỉ qua đêm một cách yên tĩnh trên chiến trường.


Bấy nhiêu điều vượt qua tất cả những gì mà hoàng đế từng trông thấy hay từng nghe nói về sự khéo léo và trí thông minh của loài khỉ. Người không muốn chỉ có một mình chứng kiến những sự kỳ diệu ấy. Người có một công chúa vẫn được gọi tên là Người Đẹp. Vua bảo viên đứng đầu các quan hoạn chuyên hầu hạ công chúa, lúc ấy có mặt ở đấy: "Hãy đi mời công chúa đến đây, ta muốn cho con gái ta được cùng thưởng thức điều thú vị này".


Viên đứng đầu các quan hoạn ra đi và lát sau mời công chúa đến. Nàng để mặt trần không che mạng. Song vừa bước chân vào buồng, nàng đã vội kéo tấm mạng xuống, che mặt và nói với hoàng đế: "Tâu bệ hạ, có lẽ bệ hạ sơ ý chăng? Con rất ngạc nhiên thấy Người cho gọi con đến ra mắt trước sự có mặt của những người đàn ông xa lạ".


- Con bảo sao, chính con vô ý thì có, con gái ta ạ. - Nhà vua đáp. - Ở đây chỉ có tên nô lệ nhỏ, viên quan hoạn thầy dạy của con, và cha là những người được tự do nhìn thấy mặt con. Ấy thế mà con lại kéo mạng che mặt, và làm như thể cha đã phạm trọng tội khi cho gọi con đến đây


- Tâu bệ hạ, - công chúa lại nói, - bệ hạ sẽ rõ là con không nhầm. Con khỉ mà Người trông thấy kia tuy mang hình khỉ, nhưng chính là một hoàng tử trẻ tuổi, con trai quốc vương một nước lớn. Chàng bị hóa thành khỉ do phép yêu ma. Một thần linh, cháu ngoại của Ebơlít, đã làm nên cái trò quái ác này sau khi đã tàn nhẫn giết hại công chúa đảo Gỗ Mun, con gái vua Epitimarút.


Nghe nói, hoàng đế ngạc nhiên quay về phía tôi. Vua không ra hiệu nữa mà cất lời hỏi tôi điều công chúa vừa nói có đúng hay không. Vì không thốt được ra lời, tôi đành đặt tay lên đầu để chứng tỏ rằng công chúa đã nói sự thật. Vua liền hỏi:


- Làm sao con có thể biết hoàng tử đây bị phép yêu bắt hóa thân thành khỉ?


Công chúa Người Đẹp đáp:


- Tâu bệ hạ, chắc Người còn nhớ thời con hết tuổi ấu thơ, có một bà cụ trông nom con. Đó là một pháp sư rất tài giỏi. Bà ta đã truyền cho con bảy chục phép thần, nhờ đó con có thể trong nháy mắt dời thủ đô của bệ hạ ra đặt chính giữa đại dương mãi bên kia dãy núi Côcadơ. Nhờ phép thần đó, chỉ nhìn qua mặt người, con đã có thể biết được kẻ nào bị ma làm, con còn có thể biết rõ họ là ai và đã bị kẻ nào hóa kiếp. Bởi vậy, xin bệ hạ chớ có ngạc nhiên khi thấy con đã nhận ra ngay vị hoàng tử trẻ này, mặc dù phép yêu đã buộc chàng không thể giữ nguyên hình dạng như trời sinh khi được đến chầu bệ hạ.


- Con ạ, thật cha không ngờ con tài giỏi đến vậy.


- Tâu bệ hạ, đó là những điều kỳ diệu, biết được thì cũng tốt, nhưng con vẫn nghĩ rằng con không nên lấy đó mà khoe khoang.


- Nếu quả như vậy, - vua lại nói, - thì con có cách giải phép yêu cho hoàng tử này chứ?


- Tâu bệ hạ vâng, con có thể làm cho chàng trở lại nguyên hình như cũ.


- Vậy thì con hãy trả lại nguyên hình cho chàng đi. - Hoàng đế ngắt lời. - Con sẽ làm cho cha vui thích không gì bằng, bởi vì cha muốn phong cho chàng làm tể tướng và cho phép chàng kết hôn với con.


Công chúa đáp:


- Tâu bệ hạ, con sẵn sàng tuân theo tất cả những gì bệ hạ phán bảo.


Công chúa Người Đẹp trở về buồng riêng và mang ra một thanh đao trên lưỡi có khắc những chữ Do Thái. Tiếp đó, nàng mời hoàng đế, viên đứng đầu các quan hoạn, tên nô lệ nhỏ và tôi cùng đến một cái sân sau ở trong cung. Đến đấy, nàng mời chúng tôi dừng lại trong hành lang chạy quanh sân, còn nàng tiến ra giữa sân, vạch một vòng tròn lớn, và vẽ vào đấy nhiều chữ A Rập và Ai Cập cổ.


Khi đã vẽ xong và sửa sang cái hình tròn cho hợp ý muốn của mình, nàng bước vào đứng chính giữa vòng rồi niệm chú và đọc nhiều đoạn kinh Côran. Tự dưng trời đất tối sầm lại như đang đêm và như thể cả guồng máy tạo hóa sắp tan tành. Chúng tôi hết sức kinh hoàng.


Nỗi kinh hoàng ấy càng tăng thêm khi đột nhiên thấy hiện lên lão hung thần, cháu ngoại Ebơlít, xuất hiện dưới dạng một con sư tử to kinh khủng.


Công chúa trông thấy con quái vật ấy liền lên tiếng mắng: "Đồ chó má, đáng lẽ phải bò lên trước mặt ta, mày lại dám hiện lên dưới hình dáng ghê tởm này. Mày tưởng có thể dọa nạt ta ư?".


- Thế còn mày, - sư tử đáp, - sao mày không sợ làm trái điều giao ước đã được xác nhận bằng một lời thề long trọng giữa chúng ta, là sẽ không bên nào gây thiệt hại cho bên nào?


- A, đồ súc sinh! - Công chúa nói. - Chính ta phải trách mày như vậy mới phải.


Con sư tử thô bạo ngắt lời nàng:


- Mày sẽ phải trả giá về việc phiền ta cất công đến nơi đây.


Vừa nói, nó vừa há to cái mõm khủng khiếp và tiến tới định vồ công chúa. Nhưng nàng đã thủ thế, nhảy lùi một bước, và kịp nhổ một sợi tóc, niệm vài ba tiếng biến nó thành một thanh gươm sắc bén, chém ngang con sư tử, xả thân nó ra thành hai mảnh.


Hai mảnh xác sư tử biến mất, chỉ còn lại cái đầu. Đầu sư tử biến thành một con bò cạp lớn. Lập tức công chúa hóa thành rắn, quần nhau kịch liệt với bò cạp. Bò cạp kém thế, đành biến thành một con ó và vỗ cánh bay đi. Nhưng con rắn đã kịp hóa thành một con ó đen khỏe hơn và đuổi theo. Cả hai con ó biến khỏi tầm mắt chúng tôi.


Một lát sau, mặt đất trước mặt chúng tôi mở ra và một con mèo khoang trồi lên, lông lá bù xù, miệng gào khủng khiếp, một con sói đen đuổi theo con mèo rất sát. Cấp bách quá, mèo liền biến thành một con sâu nằm bên cạnh một quả lựu tình cờ vừa rụng từ cây lựu trồng bên bờ lạch nước hẹp nhưng khá sâu. Con sâu nhanh chóng đục thủng quả lựu và chui vào bên trong. Quả lựu phồng lên, to bằng một quả bí bay bổng lên mái hành lang, lăn mấy vòng rồi rơi xuống sân và vỡ ra thành nhiều mảnh.


Trong thời gian ấy, chó sói đã lại hóa thành một con gà trống, sà xuống mổ cắp hạt lựu và nuốt chửng hết hạt này đến hạt khác. Khi không còn hạt nào nữa, nó dang rộng đôi cánh ầm ĩ chạy đến gần chỗ chúng tôi, như thể muốn hỏi xem còn sót hạt nào nữa chăng. Còn sót một hạt bên bờ lạch nước. Gà trống trông thấy, chạy vội đến, song lúc nó vươn đầu sắp mổ thì hạt lựu đã lăn xuống lạch và biến thành một con cá con. Gà trống lao theo xuống lạch và biến thành một con cá măng đuổi sát con cá nhỏ. Hai con cá quần nhau hai tiếng đồng hồ liền dưới nước. Chúng tôi chẳng biết chúng ra sao rồi thì bỗng nghe những tiếng kêu ghê rợn làm cho mọi người run lên. Một lát sau, thấy hung thần và công chúa hiện ra, cả hai đều bốc lửa, hai người há miệng phun lửa vào nhau rồi lại xông vào đánh giáp lá cà. Thế là hai ngọn lửa càng bốc lớn và phả ra một làn khói dày nóng rực. Lửa phụt lên khá cao. Chúng tôi sợ nó đốt cháy mất cung điện. Trong nháy mắt, chúng tôi lại càng lo hơn nữa vì tên hung thần vừa thoát ra được khỏi tay công chúa, chạy xộc đến tận hành lang nơi mấy người đang đứng xem và phun ra hàng cuộn lửa. Chúng tôi có lẽ đã chết sạch rồi nếu công chúa không kịp chạy đến thét to, buộc hung thần phải lùi xa để giữ thế thủ. Tuy nhiên, công chúa dù đã vội vã hết sức vẫn không sao kịp cứu hoàng đế khỏi bị cháy mất bộ râu và bỏng mặt. Viên đứng đầu các quan hoạn chết ngạt và cháy thành than trong nháy mắt. Còn tôi một tia lửa bén vào mắt bên phải làm cho tôi hóa thành chột. Hoàng đế và tôi đang chờ chết thì nghe tiếng kêu: "Thắng rồi! Thắng rồi!".


Thế là bỗng nhiên công chúa hiện nguyên hình và bước đến. Còn lão hung thần đã cháy còn một đống tro.


Công chúa tiến đến gần chúng tôi. Không để mất thì giờ, nàng gọi lấy một cốc nước. Tên nô lệ trẻ không bị thương tích gì vì ngọn lửa, mang nước lại. Nàng nâng cốc nước, niệm mấy câu thần chú, rồi đổ vào tôi và nói: "Nếu ngươi bị hóa thành khỉ vì phép yêu, thì hãy đổi dạng và trở lại thành người như trước". Nàng vừa nói xong, tôi đã trở lại thành người, toàn vẹn như trước khi bị hóa thân, chỉ khác có mỗi một điều là mắt bị chột.


Tôi định cất lời cảm tạ công chúa nhưng nàng không để cho tôi có đủ thời giờ. Nàng thưa với vua cha: "Tâu bệ hạ, con đã chiến thắng hung thần, như bệ hạ vừa trông thấy. Nhưng đây là một chiến thắng phải trả giá đắt. Con chẳng còn sống được bao lâu nữa, và cha chẳng có được niềm vui trông thấy con thành gia thất như cha suy tính đâu. Lửa đã bén vào người con qua trận chiến đấu dữ dội vừa rồi. Con cảm thấy lửa đang thiêu đốt con dần dần. Điều đó hẳn không xảy ra nếu hồi nãy con nhìn thấy hạt lựu cuối cùng và mổ nuốt nó như đã nuốt các hạt khác khi con hóa thành gà trống. Hạt lựu ấy là nơi ẩn náu cuối cùng của tên hung thần. Làm được như vậy thì con đã thắng trọn vẹn mà không gặp nguy hiểm gì. Sai lầm đó buộc con phải dùng đến lửa và chiến đấu với thứ vũ khí ghê gớm này, như con đã chiến đấu ở giữa đất và trời, trước mặt cha. Bất chấp sức mạnh của yêu thuật đáng sợ và kinh nghiệm của lão, con đã cho tên hung thần ấy thấy là con hơn hẳn nó. Con đã chiến thắng. Con đã biến nó thành tro bụi. Nhưng con không thể thoát được cái chết đang đến gần".


Hoàng đế nghe công chúa Người Đẹp thuật lại trận đánh, khi nàng dứt lời, giọng biểu lộ nỗi đau đớn sâu sắc: "Con ơi, con thấy rõ tình cảnh của cha đây. Hỡi ôi! Cha ngạc nhiên sao mình còn sống! Viên hoạn nô thầy học của con đã chết. Hoàng tử mà con giải được bùa yêu thì đã mất đi một con mắt". Vua không thể nói thêm được nữa, nước mắt và tiếng thở dài làm vua nghẹn lời. Công chúa và tôi cực kỳ xúc động trước nỗi buồn của hoàng đế. Chúng tôi cùng khóc với Người.


Trong lúc ai nấy đều vô cùng buồn bã thì công chúa bỗng thét lên: "Tôi cháy đây! Tôi cháy đây!". Nàng cảm thấy ngọn lửa ngấm ngầm cuối cùng đã đốt cháy hết thân thể. Nàng lớn tiếng kêu: "Tôi cháy đây!" rồi ngã ra chết, chấm dứt những cơn đau đớn không thể nào chịu đựng nổi. Ngọn lửa thật là mạnh mẽ kỳ lạ. Chẳng mấy chốc nàng đã hóa thành tro, giống hệt như lão hung thần.


Thưa bà, tôi sẽ không nói lại rằng tôi đã xúc động sâu sắc đến mức nào trước cảnh tượng tang tóc ấy. Thà tôi cam làm khỉ hay làm chó suốt đời, còn hơn là nhìn thấy ân nhân của mình thiệt mạng một cách đau đớn đến vậy. Về phần hoàng đế, người buồn bã quá mức tưởng tượng. Người vừa kêu khóc thảm thiết vừa đấm mạnh vào đầu vào ngực cho đến khi gục xuống và ngất đi vì tuyệt vọng, làm cho tôi đâm lo, e tính mạng của Người có thể lâm nguy chăng.


Trong lúc ấy các hoạn nô và quan hầu nghe tiếng hoàng đế kêu khóc, đều chạy bổ đến nhà vua, tôi không cần phải kể lể dài dòng về việc vừa xảy ra. Hai đống tro tàn vốn là thi thể của công chúa và của hung thần, đủ để cho họ hiểu. Hoàng đế không đứng vững nữa, phải tì lên các quan hầu lê bước trở về hậu cung.


Khi tiếng đồn về sự kiện bi thảm ấy vượt ra cung cấm và lan khắp thành phố, mọi người đều thương tiếc cho công chúa Người Đẹp bất hạnh và thông cảm với nỗi đau buồn của vua cha. Người ta để tang suốt bảy ngày, tổ chức nhiều buổi tang lễ. Tro tàn của hung thần bị tung ra theo gió, còn tro tàn của công chúa thì được thu và cất giữ trong một lọ quý đặt trong một cái lăng đẹp xây ngay tại chỗ thu nhặt tro tàn.


Nỗi buồn mất con làm hoàng đế sinh bệnh và ốm liệt giường suốt một tháng ròng. Chưa bình phục hẳn. Người đã cho gọi tôi đến và bảo: "Hoàng tử hãy nghe lệnh của ta đây, và phải thi hành nếu không sẽ mất mạng". Tôi quả quyết rằng tôi sẽ xin triệt để tuân lệnh của Người. Nhà vua nói tiếp: "Từ trước tới nay ta vẫn sống trong hạnh phúc toàn vẹn và chưa bao giờ bị bất kỳ một tai họa nào khuấy động. Hoàng tử đến làm tan vỡ niềm vui ta đang hưởng. Con gái ta qua đời. Thầy dạy con ta thiệt mạng. Ta còn sống được đây cũng là chuyện may mắn diệu kỳ. Chính ngươi là nguyên nhân gây nên tất cả những tai họa đó, những tai họa mà ta không bao giờ có thể quên. Bởi vậy, ta cho phép hoàng tử ra đi êm thấm, nhưng hãy đi biệt xứ. Có lẽ ta cũng đến chết mất nếu ngươi còn có mặt ở đây, vì ta tin chắc sự có mặt của ngươi mang theo tai họa. Đó là tất cả những gì ta truyền cho ngươi. Hãy đi đi, và chú ý, chớ có bao giờ xuất hiện trên đất nước này. Dù lòng của ta có quý trọng ngươi đến đâu cũng không thể ngăn cánh tay ta trừng phạt ngươi".


Tôi định phân trần, nhưng nhà vua đã cắt ngang bằng những lời giận dữ. Thế là tôi đành từ giã cung điện của Người mà ra đi.


Bị tất cả mọi người ghét bỏ, bị xua đuổi, bị bỏ rơi và không biết thân phận mình rồi sẽ ra sao, trước khi ra khỏi kinh thành, tôi vào một nhà tắm, cho cạo râu và gọt lông mày, rồi mặc áo quần khất sĩ. Tôi cất bước ra đi, lòng khóc than cho nỗi khốn cùng của mình thì ít mà xót thương cái chết của hai công chúa xinh đẹp do mình gây nên thì nhiều. Tôi đi qua nhiều nước mà không để cho ai nhận ra mặt. Cuối cùng tôi quyết định đến Bátđa, với niềm hy vọng là sẽ xin triều yết Đấng thống lĩnh các tín đồ và khêu gợi lòng thương của Người bằng cách kể lại câu chuyện quá đỗi lạ lùng. Tôi vừa đến kinh thành này tối nay. Người đầu tiên mà tôi gặp khi mới đến, là khất sĩ đồng đạo của tôi kia, người vừa kể câu chuyện hầu bà trước tôi. Thưa bà, bà đã hiểu rõ câu chuyện rồi đó: tại sao tôi được vinh hạnh có mặt tại nhà bà.


Khi khất sĩ thứ hai kể xong câu chuyện về mình, nàng Zôbêít bảo: "Được rồi. Anh hãy đi đi, muốn đi đâu tùy ý, ta cho phép đó". Nhưng khất sĩ không đi mà cũng yêu cầu thiếu phụ vui lòng cho chàng được ở lại như đã đồng ý cho khất sĩ trước, rồi chàng đến ngồi xuống bên cạnh người này.


Chàng khất sĩ thứ ba, thấy đến lượt mình phải nói, cũng như hai người trước, liền hướng về nàng Zôbêít và kể chuyện theo cách sau đây.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học liên kết xuất bản cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  Edited: Nhà văn Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sự tích cây nhãn (Em bé và Rồng con) - Phạm Hổ 28.08.2017
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 06.07.2017
Bụng làm dạ chịu hay là truyện thầy hít - Nguyễn Đổng Chi 06.07.2017
Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non - Nguyễn Đổng Chi 22.06.2017
Nữ hành giành bạc - Nguyễn Đổng Chi 22.06.2017
Bò béo bò gầy - Nguyễn Đổng Chi 22.06.2017
2. Sự tích trầu cau và vôi - Nguyễn Đổng Chi 11.03.2017
Nghìn lẻ một đêm (13) - Antoine Galland 20.11.2016
Nghìn lẻ một ngày (18) - FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX 20.11.2016
Nghìn lẻ một đêm (14) - Antoine Galland 20.11.2016
xem thêm »