tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 18962339
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
12.08.2016
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (11): Chuyến đi thứ hai của Ximbat người đi biển



CHUYẾN ĐI THỨ HAI CỦA XINBÁT NGƯỜI ĐI BIỂN


Sau chuyến đi đầu tiên, tôi đã quyết định sẽ sống bình yên những ngày còn lại của đời mình ở Bátđa, như tôi đã được vinh dự thưa với các vị hôm qua. Nhưng chẳng bao lâu tôi đâm chán cuộc đời ăn không ngồi rồi. Sự ham muốn đi xa và buôn bán đường biển lại xâm chiếm lòng tôi. Tôi tìm mua những hàng hóa hợp với hướng buôn bán của mình, rồi lên đường một lần nữa cùng với các nhà buôn khác mà tôi quen biết và đã hiểu rõ tấm lòng ngay thật. Chúng tôi xuống một chiếc tàu tốt. Phó thác số phận mình cho Thượng đế, chúng tôi bắt đầu chuyến đi.


Chúng tôi đi từ đảo này sang đảo khác và làm những cuộc đổi chác rất có lợi. Một hôm, tàu chúng tôi ghé vào một hòn đảo đầy cây ăn quả nhưng hoang vu. Chúng tôi đi hóng mát ở các bãi cỏ và men theo các con suối chảy qua bãi, mà không hề thấy một ngôi nhà hoặc một bóng người nào.


Trong lúc bọn chúng tôi người này hái hoa giải trí, người kia trảy quả làm vui, tôi lấy thức ăn và rượu nho mang theo. Tôi bày ra cạnh một dòng nước chảy giữa những cây to tỏa bóng mát. ăn xong một bữa khá ngon lành, tôi buồn ngủ rũ cả người. Tôi không biết mình đã ngủ bao lâu, khi tỉnh dậy thì không còn chiếc tàu đậu ở bến nữa.


Rất ngạc nhiên, tôi đứng dậy nhìn khắp tứ phía. Chẳng còn thấy một nhà buôn nào lúc này cùng tôi lên hòn đảo này. Chỉ thấy xa xa thấp thoáng một con tàu giương buồm chạy, nhưng xa đến nỗi chỉ lát sau đã mất hút ngoài tầm mắt tôi.


Quý vị hãy tưởng tượng những ý nghĩ của tôi khi lâm vào một tình thế đáng buồn như vậy. Tôi tưởng có thể chết được vì đau khổ. Tôi thét lên những tiếng kinh khủng. Tôi bò lăn ra đất. Tôi nằm rất lâu như vậy, đầu óc thẫn thờ một mớ bòng bong những ý nghĩ chán ngán. Tôi trăm lần tự trách mình sao không chịu bằng lòng với chuyến đi đầu nó đáng làm cho tôi mãi mãi không còn ham muốn đi chuyến khác nữa. Nhưng mọi tiếc rẻ đều vô ích. Sự hối hận của tôi bấy giờ thật đã quá muộn màng.


Cuối cùng đành tuân theo ý Thượng đế vậy. Chẳng biết số phận mình rồi sẽ ra sao, tôi trèo lên một ngọn cây cao nhìn khắp bốn phía để xem thử có phát hiện được cái gì đưa lại chút hy vọng nào chăng. Nhìn ra phía biển, chỉ thấy có nước và trời. Nhưng nhìn về phía đất liền thấy có một vật gì trăng trắng. Tôi tụt xuống đất, thu góp những thức ăn còn lại, rồi đi về phía cái vật trắng ấy, vì nó ở quá xa cho nên tôi chưa nhận được rõ vật gì.


Đến một khoảng cách phải chăng, tôi nhận ra đấy là một cái khối hình cầu và to kỳ lạ. Tôi đến gần, sờ thấy nó nhẵn thín. Tôi đi vòng, xem có lối vào nào không nhưng chẳng thấy. Tôi đồ chừng không thể nào trèo lên được bởi vì nó trơn tuột. Chu vi của nó vào khoảng năm mươi bộ.


Lúc ấy mặt trời đã sắp lặn. Không gian đột nhiên tối sầm lại như một đám mây dày bao phủ. Nhưng nếu tôi ngạc nhiên vì bóng tối ấy, thì lại càng kinh hoàng hơn nhiều khi nhận ra sở dĩ có bóng tối ấy là do một con chim to lớn dị kỳ đang sải cánh bay về phía tôi. Tôi chợt nhớ đến chuyện một loài chim gọi là đại bàng mà tôi thường nghe các thủy thủ nói tới. Và tôi hiểu ra cái khối hình cầu to mà tôi vừa ngắm nghía ấy chắc hẳn là trứng của con chim này. Quả nhiên nó sà xuống và phủ lên trên như để ấp. Trông thấy nó đến, tôi vội nép thật sát vào quả trứng, thành ra ngay trước mặt tôi là một chân của con chim, chân to bằng cả một thân cây cổ thụ. Tôi tháo tấm vải vốn dùng để quấn làm chiếc khăn đội đầu, buộc mình thật chặt vào cái chân đó, với hy vọng là ngày hôm sau khi con chim lại cất cánh, nó sẽ đưa tôi ra khỏi hoang đảo này.


Đúng như vậy. Sau một đêm trong tư thế đó, trời vừa sáng chim đã bay bổng lên đưa tôi vút lên cao đến nỗi không nhìn thấy mặt đất. Sau đấy đột nhiên nó lao xuống rất nhanh, làm cho tôi gần như mê man. Khi con đại bàng hạ cánh và lao xuống đất, tôi mau chóng rút nút buộc khăn tách mình ra khỏi chân nó. Vừa xong nó đã mổ một con rắn thật dài, cắp lấy và bay vút đi luôn.


Nơi con chim để tôi lại là một thung lũng rất sâu, bốn bề bao bọc núi cao đến nỗi đỉnh khuất trong mây. Núi non quá hiểm trở thành ra không có một lối nào có thể vượt được. Đây lại là một sự lúng túng mới cho tôi. So sánh chỗ này với cái hoang đảo mà tôi vừa rời khỏi, tôi thấy chẳng được lợi gì hơn trong sự đánh đổi này.


Đi trong thung lũng ấy, tôi nhận thấy nó rải rác những kim cương, nhiều viên to một cách kỳ lạ. Tôi ngắm những thứ đó thật thích mắt. Song chỉ lát sau tôi trông thấy đằng xa những vật làm giảm bớt rất nhiều niềm vui thích ấy, và không thể nhìn mà không khiếp đảm. Đấy là một bầy ngồn ngộn những con rắn to và dài đến mức không con nào không đủ sức nuốt chửng cả một con voi. Ban ngày, chúng nó về hang để lẩn trốn chim đại bàng kẻ thù của chúng, chỉ đêm tối mới bò ra. Suốt ngày tôi đi thất thểu trong thung lũng, thỉnh thoảng nghỉ ngơi ở những chỗ thuận tiện nhất. Tuy nhiên mặt trời sắp lặn. Tôi vội rút vào cái hang mà tôi cho là an toàn. Lối vào đã thấp lại hẹp, tôi còn lăn phiến đá khá lớn lấp lại, không để cho rắn chui lọt, nhưng lại không quá khít để có thể cho chút ánh sáng. Tôi ăn một phần thức ăn mang theo trong tiếng động của những con rắn bắt đầu xuất hiện. Tiếng rít ghê tởm của chúng gây cho tôi nỗi kinh hoàng không bờ bến. Và như các vị có thể hiểu, làm sao tôi có thể ngủ yên đêm ấy. Sáng ra, các con rắn bỏ đi. Tôi run rẩy ra khỏi hang. Tôi có thể nói rằng bước chân giẫm lên kim cương mà lòng không hề có chút ham muốn. Cuối cùng tôi ngồi xuống nghỉ lấy hơi. Mặc dù lo âu, nhưng vì suốt đêm qua không chợp mắt, tôi ngủ thiếp đi sau khi dùng thêm một bữa nữa với những thức ăn mang theo. Tôi vừa chợp đi thì một vật gì rơi xuống cạnh gây nên tiếng động mạnh làm tôi tỉnh giấc, đó là một tảng thịt tươi lớn. Cùng lúc ấy tôi nhìn thấy nhiều tảng thịt khác lăn từ trên đỉnh núi xuống ở nhiều chỗ khác nhau.


Xưa nay, tôi vẫn cho chẳng qua là câu chuyện kể cho vui tai những điều mà nhiều lần được nghe các thủy thủ và những người khác nói về thung lũng kim cương. Và về chuyện một số nhà buôn tháo vát tìm cách lấy những viên ngọc quý ấy. Giờ tôi biết là họ nói đúng sự thật. Quả vậy, các nhà buôn ấy đến gần thung lũng này trong thời gian các chim ưng có con. Họ xả thịt, ném từng tảng lớn xuống thung lũng. Thịt rơi vào chỗ nào có kim cương thì kim cương dính vào. Chim ưng ở xứ này khỏe hơn nhiều so với những nơi khác. Chúng bổ nhào xuống những tảng thịt ấy, cắp mang về tổ trên đỉnh núi cao để làm mồi cho chim con. Thế là các nhà buôn chạy đến gần các tổ chim vừa chạy vừa la hét, xua chúng phải lánh đi để cho họ nhặt những viên kim cương dính vào tảng thịt. Họ phải dùng đến mẹo ấy, bởi vì không còn có cách nào khác để lấy kim cương từ dưới thung lũng sâu như vực thẳm không có lối nào xuống được.


Cho đến lúc ấy, tôi vẫn ngỡ là không thể có cách nào thoát ra khỏi cái thung lũng mà tôi đã coi như là mồ chôn mình. Nhưng tôi thay đổi ý kiến. Những điều vừa trông thấy gợi cho tôi nghĩ ra một cách để bảo toàn tính mạng.


Tôi bắt đầu nhặt những viên kim cương to nhất, bỏ đầy túi da vẫn dùng để đựng thức ăn mang theo. Sau đó tôi lấy tảng thịt trông có vẻ dài nhất buộc chặt xung quanh người bằng tấm vải vẫn cuộn làm khăn đội đầu. Trong hình dạng đó, tôi nằm sấp xuống đất, cái túi da buộc chặt vào thắt lưng sao cho không thể nào rơi được.


Tôi vừa mới nằm xuống trong tư thế ấy thì đàn chim ưng bay đến. Mỗi con cắp một tảng thịt mang đi. Con khỏe nhất cắp tôi cùng với tấm thịt cuộn quanh người, bay bổng lên tận tổ của nó trên đỉnh núi cao. Lúc ấy, các nhà buôn la hét to lên để cho chim sợ hãi. Khi con chim bắt buộc phải bỏ mồi lại rồi, một người chạy đến gần. Anh ta hốt hoảng khi trông thấy tôi. Tuy vậy, anh trấn tĩnh lại. Không hỏi do đâu tôi có mặt ở đây, anh lại bắt đầu sừng sộ, nói tại sao tôi chiếm đoạt tài sản của anh ta. Tôi đáp: "Bạn sẽ nói chuyện có tình cảm với tôi hơn nếu bạn biết rõ tôi hơn. Bạn hãy yên trí. Tôi có đủ số kim cương cho bạn và cho cả tôi nhiều hơn tất cả số của các nhà buôn kia cộng lại. Nếu họ có được viên nào thì cũng chỉ do ngẫu nhiên thôi, còn những viên tôi mang trong cái túi mà bạn trông thấy đây là do tự tôi đã chọn lấy được ở thung lũng". Vừa nói tôi vừa đưa cho anh ta xem.


Tôi chưa dứt lời thì những nhà buôn khác cũng xúm đến. Họ rất ngạc nhiên trông thấy tôi và càng ngạc nhiên hơn khi nghe tôi kể chuyện. Họ không những khen cái mẹo tôi nghĩ ra để tự cứu mình mà còn khâm phục hành động táo bạo quá mức mà tôi đã dám làm.


Họ đưa tôi về nơi họ cùng ở chung với nhau. Đến đây tôi mở cái túi ra trước mặt họ. Mọi người đều kinh ngạc về cỡ lớn của các viên kim cương. Họ thú thật ở tất cả các triều đình mà họ đã từng được đến, chưa bao giờ họ trông thấy một viên kim cương nào lớn gần bằng cỡ này.


Tôi yêu cầu nhà buôn chủ cái tổ chim ưng mà tôi được mang đến (bởi vì mỗi người đều có tổ riêng của mình), tha hồ chọn lấy phần của ông, muốn bao nhiêu lấy bấy nhiêu. Ông ta chỉ cần một viên thôi, mà lại lấy trong số những viên không lớn lắm. Khi tôi giục ông ta hãy lấy thêm, đừng sợ làm tôi thiệt, ông ta đáp: "Không, tôi rất thỏa mãn với viên này rồi. Nó khá quý giá đủ cho tôi từ nay về sau đỡ phải vất vả, đỡ phải lặn lội chân trời góc bể hòng kiếm ra một cái vốn nho nhỏ".


Tôi ngủ lại đêm ấy với các nhà buôn. Tôi lại kể một lần nữa câu chuyện của mình để thỏa mãn những người chưa được nghe. Tôi không làm sao kiềm chế được nỗi vui mừng khi nghĩ rằng mình đã thoát khỏi những nỗi gian nguy vừa kể hầu quý vị. Tôi cảm thấy như mình vừa trải qua một giấc mơ. Tôi tin là không còn có gì phải sợ hãi nữa.


Các nhà buôn ném thịt xuống thung lũng đã nhiều ngày rồi. Ai nấy đều có vẻ bằng lòng với số kim cương mình kiếm được. Vì vậy ngày hôm sau tất cả chúng tôi cùng lên đường. Chúng tôi đi qua các ngọn núi cao có những con rắn dài kỳ lạ, mà chúng tôi may mắn tránh được. Chúng tôi đến cái cảng đầu tiên, từ đấy sang đảo Rôha, nơi mọc thứ cây mà người ta chiết xuất chất long não. Có cây to và xum xuê đến mức một trăm người có thể dễ dàng nấp dưới bóng nó. Nhựa để làm long não tiết ra từ một cái hốc ở phần trên của thân cây, chảy vào một cái bình rồi đông lại. Đó là thứ mà ta gọi là long não. Lấy hết nhựa, cây sẽ khô đi và chết.


Trên hòn đảo ấy có tê giác. Đó là những con vật bé hơn con voi nhưng lớn hơn con trâu. Nó có một cái sừng trên mũi, sừng dài bằng một cánh tay. Cái sừng ấy rất cứng và có ngấn ở giữa. Trên sừng có những vệt trắng giống hình mặt người. Tê giác đánh nhau với voi, lấy sừng chọc thủng bụng voi. Nó có thể nhấc bổng cả con voi đội lên đầu. Nhưng vì máu và mỡ voi chảy xuống làm mù mắt nó, nó ngã ra đất, thế là - điều này chắc sẽ làm cho các vị ngạc nhiên - chim đại bàng đến, giơ móng quắp nhấc bổng cả đôi, đưa về cho con nó ăn thịt.


Tôi sẽ không nói thêm nhiều điều đặc sắc khác nữa của hòn đảo ấy, sợ làm quý vị chán tai. đó, tôi đổi một vài viên kim cương lấy nhiều hàng hóa tốt. Từ đấy, qua nhiều thành phố buôn bán trên đất liền, chúng tôi đến Banxôra, từ đó trở về Bátđa.


Trước hết, tôi bố thí rộng rãi cho những người nghèo. Rồi tôi hưởng thụ xứng đáng phần lớn còn lại của những của cải vô hạn mà tôi đã mang về nhờ kiếm được sau khi trải qua xiết bao khổ ải.


Xinbát thuật lại chuyến đi thứ hai của ông như vậy đấy, ông sai đưa cho Hinbát một trăm đồng xơcanh nữa và mời lão ngày hôm sau đến nghe kể tiếp chuyến đi thứ ba.


Khách khứa ra về. Ngày hôm sau vào đúng giờ hẹn đến đông đủ, kể cả lão khuân vác hầu như đã quên đi cảnh nghèo đói trước đây của mình. Mọi người lại ngồi vào bàn tiệc. Và sau bữa ăn, Xinbát xin mọi người hãy lắng nghe để ông thuật lại chi tiết về chuyến đi thứ ba của ông:


 


CHUYếN ĐI THử BA CủA XINBáT NGƯờI ĐI BIểN


Chẳng mấy chốc cuộc sống êm đềm làm tôi lãng quên những nỗi hiểm nghèo đã trải qua hai chuyến đi. Bởi đang tuổi tráng niên, tôi đâm chán cảnh sống an nhàn. Say sưa nghĩ tới những gian nguy mới mà mình sẽ phải đương đầu, tôi rời Bátđa với nhiều sản vật địa phương đắt tiền mà tôi cho mua và chuyển đến Banxôra. đây tôi lại xuống tàu cùng nhiều nhà buôn khác. Chúng tôi tiến hành một chuyến đi biển dài. Trên đường, tàu cập bến nhiều hải cảng để mua bán một số hàng hóa lớn.


Một hôm đang đi giữa biển khơi, chúng tôi bị một cơn bão dữ dội làm mất phương hướng. Bão kéo dài nhiều ngày. Gió đẩy dạt tàu chúng tôi đến trước cảng của một hòn đảo. Viên thuyền trưởng hết sức mong sao có thể tránh không phải ghé vào đây, song chúng tôi bắt buộc phải vào buông neo ở cảng. Khi buồm đã cuốn lại rồi, viên thuyền trưởng bảo: "Đảo này và các đảo lân cận có một giống người dã man mình đầy lông lá. Chúng sẽ đến tiến công chúng ta. Mặc dù chúng lùn tịt, song chúng ta không được kháng cự một chút nào, bởi chúng đông như châu chấu. Nên nhớ nếu chúng ta làm chết một đứa thì tất cả bọn chúng sẽ đổ xô đến làm thịt sạch chúng ta".


Lời viên thuyền trưởng làm cho tất cả mọi người trên tàu hết sức lo lắng. Chẳng mấy chốc chúng tôi được biết những điều ông nói quả đúng sự thật. Chúng tôi thấy xuất hiện một đám đông không thể nào kể xiết những tên man rợ xấu xí, mình mẩy mọc đầy lông màu hung và chỉ cao chừng hai bộ. Chúng nhảy xuống biển bơi. Chỉ một lát sau đã vây quanh chiếc tàu của chúng tôi. Chúng vừa tiến đến gần vừa nói nhưng chúng tôi không hiểu được tiếng của chúng. Chúng bám lấy mạn tàu và các dây dợ rồi từ mọi phía leo lên tới sàn tàu, khéo léo và thoăn thoắt như thể chân không cần chạm vào đâu cả.


Chúng tôi nhìn chúng làm việc đó với một nỗi kinh hoàng chắc các vị có thể tưởng tượng được. Không ai dám chống cự hoặc nói lên một lời nào hòng làm chúng thay đổi ý định, mà chúng tôi ngờ là sẽ tai hại cho mình. Quả nhiên chúng mở buồm ra, cắt dây neo chứ không buồn kéo neo lên nữa, và sau khi cho tàu ghé sát vào bờ, chúng đuổi tất cả chúng tôi lên cạn. Sau đó chúng mang tàu đến một hòn đảo khác, nơi chúng ở. Những người đi biển bao giờ cũng chú ý tránh hòn đảo chúng tôi ghé vào lúc đó, dừng lại chốn ấy rất nguy hiểm bởi lý do mà quý vị vừa nghe. Nhưng chúng tôi không có cách nào khác, đành phải kiên nhẫn chịu đựng điều không may của mình.


Chúng tôi đi xa dần bờ biển, và vừa đi vừa tìm hái vài thứ quả và lá ăn để cố kéo dài giây phút cuối cùng của cuộc đời. Bởi chúng tôi đều tin chắc sẽ lâm vào một cái chết không thể nào tránh khỏi. Đang đi, chúng tôi trông thấy đằng xa có một tòa nhà lớn, liền rảo bước về phía đó. Đấy là một tòa lâu đài rất cao xây dựng khéo léo. Một cái cửa có hai cánh bằng gỗ mun mở ra ngay khi chúng tôi vừa đưa tay đẩy. Chúng tôi bước vào sân. Trước mắt hiện ra một gian nhà rộng. Phía trước có căn trống một bên là một đống xương người, bên kia vô số những cái xiên dùng để quay thịt. Chúng tôi run lên khi nhìn thấy cảnh tượng đó. Nhưng vì đi bộ lâu đã quá mệt mỏi, chân cứ khụy xuống. Chúng tôi ngã lăn ra đất, kinh hoàng khủng khiếp, và nằm đờ ra như vậy rất lâu.


Mặt trời lặn. Trong lúc chúng tôi đang ở trạng thái thảm thương đó, thì cửa gian nhà ầm ầm mở ra. Ngay lúc ấy xuất hiện bộ mặt gớm ghiếc của một tên da đen cao bằng một cây cọ lớn. Nó chỉ có một mắt ở chính giữa trán, đỏ hừng hực như than hồng. Những chiếc răng cửa rất dài và rất nhọn thò ra ngoài cái miệng rộng không kém gì một cái mõm ngựa. Môi dưới của nó xệ xuống tận ngực. Hai tai giống như hai tai voi phủ kín cả vai. Móng tay thì nhọn sắc và dài như thể móng của những con chim to nhất. Nhìn thấy một tên khổng lồ khủng khiếp như vậy, chúng tôi ngất đi và cùng nằm im như chết.


Cuối cùng tỉnh lại, chúng tôi trông thấy con quái vật ngồi dưới mái nhà ngoài. Nó giương mỗi con mắt độc nhất ngắm nghía chúng tôi. Khi đã xem xét chán, nó tiến đến gần chúng tôi và đưa tay túm lấy gáy nhấc bổng người tôi lên lật đi lật lại như một anh đồ tể sờ nắn cái xỏ cừu. Sau khi nhìn kỹ thấy tôi gày gò quá, người chỉ có da bọc xương, nó buông tôi ra. Nó lần lượt túm những người khác và cùng xem xét theo cách ấy. Viên thuyền trưởng là người béo tốt hơn cả bọn. Một tay nó túm lấy ông một cách nhẹ nhàng như cầm một con chim sẻ, tay kia nó lấy cái xiên xuyên suốt qua người ông ta. Rồi nó đốt to lửa lên, quay chín thuyền trưởng và đưa vào nhà trong ăn tối. Ăn xong nó lại trở ra nhà ngoài nằm ngủ, cất tiếng ngáy ầm ầm như sấm cho đến sáng hôm sau. Về phần chúng tôi, không ai có thể nghỉ ngơi được một chút, suốt đêm lo âu sợ hãi đến tột độ. Trời sáng, tên khổng lồ thức dậy đứng lên đi ra, bỏ chúng tôi lại trong tòa lâu đài.


Khi cho rằng nó đã đi xa, chúng tôi phá tan sự im lặng kéo dài cả đêm. Và như thể đua nhau, chúng tôi kêu khóc than vãn vang dậy cả lâu dài. Mặc dù chúng tôi khá đông và chỉ có mỗi một kẻ thù, lúc đầu chúng tôi cũng chưa nảy ra ý nghĩ tìm cách giết chết nó để thoát thân. Việc này khó thực hiện thật đấy nhưng vẫn là việc đương nhiên cần phải làm.


Chúng tôi bàn bạc nhiều cách song không quyết định được cách nào và đành phó thác số phận cho Thượng đế định đoạt. Suốt ngày chúng tôi đi quanh đảo kiếm rau quả để ăn như ngày hôm trước. Chiều đến, chúng tôi cố tìm một chỗ ngủ để che sương nhưng không tìm được, đành phải trở lại tòa lâu đài.


Tên khổng lồ lại trở về. Nó lại chén một người nữa trong bọn chúng tôi, sau đó nó lại lăn ra ngủ và ngáy ầm ầm cho tới sáng. Rồi nó lại bỏ ra đi để chúng tôi lại đấy y như ngày hôm trước. Hoàn cảnh chúng tôi tệ hại quá, đến nỗi nhiều bạn tôi đã định thà nhảy ào xuống biển trầm mình còn hơn là chờ đợi một cái chết kỳ cục.


Những người đó khuyến khích bạn bè cùng làm theo lời họ. Nhưng một người trong bọn tôi cất lời. Anh ta nói: "Chúng ta không được phép tự sát. Và giả dụ là nếu có phải chết chăng nữa, phải là hợp lý hơn không, nếu chúng ta nghĩ cách thoát khỏi tên man rợ này. Nó đang bắt chúng ta chết dần một cách khốn khổ".


Trong trí tôi chợt nảy ra một dự kiến. Tôi liền trao đổi với các bạn tôi. Họ đều tán thành. Tôi liền nói với cả bọn: "Anh em ơi, các anh em đều biết ở ven biển có nhiều gỗ. Nếu anh em nghe lời tôi, chúng ta hãy làm nhiều chiếc bè có thể chở chúng ta. Làm xong sẽ để lại ở bờ, lúc nào cần đến thì dùng. Trong thời gian ấy, chúng ta sẽ thực hiện ý đồ mà tôi đã đề nghị với anh em để giải thoát chúng ta khỏi tay tên khổng lồ. Nếu việc đó thành công, chúng ta có thể chờ cho đến khi có một chiếc tàu nào đến đưa chúng ta ra khỏi hòn đảo tai họa này. Ngược lại nếu thất bại, chúng ta mau mau xuống bè và bơi ra giữa biển. Tôi đồng ý rằng, dấn thân cho sóng dữ trên những chiếc bè mong manh như vậy, có thể có nguy cơ bỏ mạng. Song dù phải chết đi chăng nữa, vùi thân dưới đáy biển chẳng nhẹ nhàng hơn là bị nhốt vào trong bụng con quỷ đã ăn thịt mất hai anh em trong bọn chúng mình hay sao?


Í kiến của tôi được tán thưởng. Chúng tôi bắt tay làm ngay những chiếc bè, mỗi chiếc có thể chở được ba người.


Cuối ngày hôm ấy, chúng tôi lại trở về tòa lâu đài. Một lát sau tên khổng lồ lại đến. Chúng tôi đành phải chịu nhìn nó quay chín một người bạn nữa. Nhưng cuối cùng, chúng tôi trả thù tên khổng lồ như thế này. Sau khi ăn xong bữa tối đáng ghê tởm, nó nằm ngửa ra ngủ. Chúng tôi vừa nghe nó ngáy như thường lệ, thì chín người bạo dạn nhất trong bọn chúng tôi và tôi mỗi người lấy một cái xiên, cho đầu nhọn vào lửa nung đỏ lên, rồi sau đó nhất tề nhằm vào chọc vỡ mắt nó ra.


Tên khổng lồ đau đớn thét lên một tiếng khủng khiếp. Nó vùng dậy, quờ tay ra bốn phía hòng tóm được một người nào đó trong bọn chúng tôi để bóp chết cho hả cơn điên. Nhưng chúng tôi đã kịp chạy ra xa và nằm xuống đất vào những chỗ mà chân tay nó không thể với tới. Sau khi bắt chúng tôi không được, nó dò dẫm tìm cửa ra, vừa đi vừa thét lên những tiếng ghê rợn.


Chúng tôi lập tức rời khỏi lâu đài, đi đến bờ biển, nơi để những chiếc bè. Chúng tôi hạ thủy, rồi chờ cho trời sáng là nhảy lên bè, trong trường hợp tên khổng lồ được một tên đồng loại nào dẫn đường tới đây. Nhưng chúng tôi lại có ý định nếu nó không xuất hiện sau khi mặt trời mọc, và nếu không còn nghe những tiếng nó gào thét nữa, điều chứng tỏ nó đã bỏ mạng, thì trong trường hợp này chúng tôi sẽ trở lại đảo chứ không mạo hiểm bằng bè. Nhưng trời vừa mới sáng, chúng tôi đã trông thấy tên kẻ thù hung ác có hai tên khổng lồ to gần bằng nó đi theo dẫn đường, và trước nó còn có một số khá đông những tên khác bước vội vàng.


Trông thấy cảnh đó, chúng tôi không chần chờ nữa. Tất cả nhảy vội xuống bè, và chèo lấy chèo để ra xa bờ. Bọn khổng lồ nhìn thấy, liền nhặt những hòn đá lớn chạy đến, lội xuống nước đến ngập nửa người rồi ném theo chúng tôi. Chúng ném khéo đến nỗi, trừ chiếc bè của tôi, tất cả những chiếc khác đều vỡ tan, làm cho không một người nào trên đó thoát khỏi chết đuối. Về phần tôi và hai người bạn đồng hành, chúng tôi chèo cật lực cho nên ra xa hơn cả, ngoài tầm ném đá của chúng. Ra khơi, chúng tôi trở thành đồ chơi của gió và sóng, khi bị xô sang bên này, lúc thì bị dạt sang phía kia. Suốt ngày hôm ấy và đêm tiếp theo, chúng tôi sống trong sự đau khổ phân vân, không biết số phận mình rồi sẽ ra sao. Nhưng ngày hôm sau, chúng tôi may mắn giạt vào một hòn đảo và hết sức vui mừng là thoát chết. Ở đây có nhiều loại quả rất ngon, giúp cho chúng tôi lấy lại sức khỏe.


Chiều đến, chúng tôi đang ngủ ở bờ biển thì bị đánh thức dậy bởi tiếng rít của một con rắn dài bằng cả một cây cọ Khi bò trên mặt đất vảy của nó chạm vào nhau và phát ra tiếng rít. Con rắn đã đến rất gần và đớp được một người bạn của tôi, mặc cho anh ta la hét và cố gắng để thoát, nó quẫy anh ta mấy cái rất dữ rồi quật xuống đất và nuốt chửng. Anh bạn còn lại và tôi chạy trốn. Chạy đã khá xa, chúng tôi vẫn còn nghe được một thứ tiếng động mà chúng tôi đoán rằng đấy là tiếng con rắn nhả xương anh bạn đáng thương vừa bị nó ăn thịt.


Quả nhiên, sáng hôm sau chúng tôi ghê rợn nhìn thấy đống xương. "Hỡi Thượng đế! Tôi kêu lên - sao chúng tôi phải trải qua lắm tai ương thế này. Hôm qua chúng tôi vừa mừng thoát được sự hung ác của một tên khổng lồ và cơn giận dữ của sóng nước, thì hôm nay đã lại sa vào một nỗi hiểm nghèo không kém phần ghê gớm?".


Trong khi lang thang, chúng tôi trông thấy một cây cổ thụ rất cao, và dự định đêm tối sẽ leo lên đấy ngủ cho an toàn. Chúng tôi lại đi tìm quả dại để ăn như ngày hôm trước. Tối đến chúng tôi leo lên cây. Chẳng mấy chốc nghe tiếng con rắn, nó vừa bò vừa rít đến tận gốc cây chúng tôi nấp. Nó cất cao mình lên dọc thân cây, bắt gặp anh bạn tôi ở chỗ thấp hơn tôi, nó đớp lấy nuốt chửng và bỏ đi luôn.


Tôi ngồi trên cây cho đến sáng mới dám tụt xuống, sống dở chết dở. Thật vậy, tôi không thể trông chờ một số phận nào khác với số phận hai người bạn đồng hành. í nghĩ ấy làm tôi sợ run lên, tôi bước lên mấy bước toan nhảy xuống biển. Song bởi vì con người bao giờ cũng muốn sống thêm được lúc nào hay lúc ấy, tôi gượng lại không hành động tuyệt vọng và phó thác số phận mình cho Thượng đế định đoạt.


Tuy vậy, tôi vẫn nhặt nhạnh một số lớn những mảnh gỗ nhỏ, dây dợ và gai khô. Tôi bó thành nhiều bó, xếp thành một vòng tròn lớn quanh thân cây và buộc chặt lại. Làm xong, đến chập tối tôi tự nhốt vào giữa vòng tròn, với niềm an ủi đáng buồn là mình đã không bỏ qua bất cứ một việc gì có thể làm để hòng thoát khỏi số phận tai ác đang đe dọa. Con rắn lại đến và bò quanh gốc cây, tìm cách ăn thịt tôi. Nhưng nó không làm được bởi bị cản vì cái lũy tôi tạo nên. Cho tới sáng nó cứ quanh quẩn giống như một con mèo chạy quanh một con chuột nấp ở một nơi không thể chui vào. Cuối cùng sáng ra, nó bỏ đi. Tuy vậy tôi không dám ra khỏi thành lũy của mình trước khi mặt trời mọc hẳn.


Quá mệt mỏi vì những công việc đã làm và quá đau khổ vì chịu đựng cái hơi thở hôi thối của con rắn tôi nghĩ rằng thà chết đi còn dễ chịu hơn là phải chịu sự kinh khủng này. Tôi rời gốc cây và chạy thẳng ra bờ biển định đâm đầu xuống nước.


Thượng đế thương hại cho sự tuyệt vọng của tôi. Đúng vào lúc sắp đâm đầu xuống biển, tôi chợt nhận thấy một chiếc tàu ở cách bờ khá xa. Tôi ráng hết sức kêu và tháo tấm vải khăn đội đầu ra vẫy. Việc đó không phải là vô ích. Người trên tàu nhìn thấy tôi. Thuyền trưởng cho đưa xuồng vào cứu. Khi tôi lên được trên tàu, các nhà buôn và thủy thủ đều vồn vã hỏi do đâu tôi dạt lên hoang đảo. Sau khi tôi thuật lại tất cả những gì đã xảy ra, những người lâu năm nhất cho biết họ đã nhiều lần nghe nói đến những tên khổng lồ sống trên hòn đảo. Người ta quả quyết với họ rằng đấy là những kẻ ăn thịt người. Chúng có thể ăn sống cũng như ăn thịt người đã quay chín. Còn về rắn thì họ nói thêm rằng trên các đảo ấy có rất nhiều. Ban ngày chúng ẩn kín, đến tối mới bò ra. Sau khi vui mừng thấy tôi thoát khỏi bấy nhiêu hiểm nghèo, họ biết tôi đang đói, liền sốt sắng đãi tôi những món ăn ngon nhất. Thấy áo quần tôi rách như xơ mướp, viên thuyền trưởng hào hiệp cho tôi một bộ.


Chúng tôi đi biển một thời gian. Tàu ghé qua nhiều hòn đảo. Cuối cùng đến đảo Xalahát, nơi người ta khai thác đàn hương, một thứ gỗ rất cần dùng trong y học.


Chúng tôi vào cảng và thả neo ở đó. Các nhà buôn bắt đầu dỡ hàng của họ mang đi bán hoặc đổi chác. Trong thời gian ấy, viên thuyền trưởng gọi tôi đến và bảo: "Người anh em ạ, trong kho tôi có nhiều hàng của một nhà buôn trước đây có đi một thời gian trên tàu của tôi. Vì nhà buôn ấy đã qua đời, tôi muốn cho bán đi lấy lãi trao lại cho những kẻ thừa kế ông ta, may ra sau này có lúc nào gặp được". Các kiện hàng đó xếp ở trên tàu. Ông chỉ cho tôi thấy và nói: "Kia là những hàng hóa tôi vừa nói đến. Tôi mong người anh em vui lòng nhận bán hộ. Bạn sẽ được hưởng một phần lãi do công lao vất vả của bạn". Tôi nhận lời và cảm ơn ông đã cho cơ hội để đỡ phải ăn không ngồi rồi.


Thư ký của tàu ghi sổ tất cả hàng hóa và tên chủ hàng. Anh ta hỏi viên thuyền trưởng những hàng giao cho tôi bán nên ghi tên của ai, ông trả lời: "Hãy ghi tên Xinbát người đi biển". Tôi không thể không xúc động khi nghe nói đến tên mình. Nhìn kỹ thuyền trưởng tôi nhận ra chính ông là người trong chuyến đi thứ hai của tôi, đã bỏ rơi tôi trên hòn đảo khi tôi ngủ quên bên bờ suối, ông đã cho tàu nhổ neo mà không chờ đợi hoặc cho người tìm kiếm tôi. Lúc đầu tôi không nhận ra, bởi vì người ông đã đổi khác nhiều kể từ lần tôi gặp.


Về phần ông ta, vì tưởng tôi đã chết cho nên không có gì đáng ngạc nhiên là ông không nhận ngay ra tôi. Tôi hỏi ông: "Thưa thuyền trưởng, có phải là nhà buôn chủ những kiện hàng tên là Xinbát?".


- Vâng, tên ông ta đúng là như vậy. Ông ta vốn là người Bátđa. Ông xuống tàu tôi ở Banxôra. Một hôm, chúng tôi ghé vào một hòn đảo để lấy nước ngọt và nghỉ ngơi, tôi không hiểu đã nhầm lẫn thế nào mà cho tàu chạy, không để ý rằng ông ta chưa trở lại tàu cùng với những người khác. Mãi bốn giờ sau, các nhà buôn và tôi mới nhận ra điều đó. Lúc ấy, gió thổi từ đằng lái tới và gió thổi mạnh đến nỗi chúng tôi không thể nào cho tàu quay vòng trở lại đón ông ta.


- Ông tưởng người ấy chết rồi sao? - Tôi lại hỏi.


- Chắc chắn như vậy - thuyền trưởng đáp.


- Nếu vậy thì, thưa thuyền trưởng, xin ông hãy mở to mắt và nhận ra anh chàng Xinbát mà ông đã bỏ rơi trên hoang đảo. Hôm ấy, tôi ngủ quên bên bờ một con suối, và khi thức dậy thì không còn trông thấy một ai trong đoàn cùng đi trên tàu.


Nghe nói như vậy, thuyền trưởng chăm chăm nhìn tôi.


Sau khi quan sát thật chăm chú, cuối cùng ông nhận ra:


- Tạ ơn Thượng đế! - Ông kêu lên và ôm choàng lấy tôi - tôi rất vui lòng là định mệnh đã sửa chữa sai lầm cho mình. Kia là hàng hoá của ông, tôi vẫn luôn luôn chú ý gìn giữ. Bất cứ cập bến cảng nào tôi cũng đều làm cho nó sinh lợi thêm. Giờ tôi xin trả lại ông với tất cả tiền lãi thu được.


Tôi nhận lại hàng và tỏ lòng biết ơn sâu sắc thuyền trưởng.


Từ đảo Xalahát chúng tôi sang một đảo khác. đây tôi mua đinh hương, quế và nhiều mặt hàng tạp hóa khác.


Lúc rời đảo này, chúng tôi nhìn thấy một con rùa lớn ngang dọc mỗi bề đến hai mươi cánh tay. Chúng tôi cũng thấy có một con cá tương tự như con bò. Nó có sữa, và da thì rắn đến mức người ta thường dùng để làm khiên. Tôi cũng thấy một con cá khác nữa hình dạng và màu sắc giống như con lạc đà.


Sau một chuyến đi dài, cuối cùng tôi về đến cảng Banxôra. Từ đó tôi trở về thành phố Bátđa với rất nhiều của cải, nhiều đến mức tôi cũng không rõ số lượng bao nhiêu. Tôi lại dành một phần đáng kể làm phúc cho những người nghèo, rồi tậu thêm rất nhiều đất đai rộng lớn vào chỗ đã tậu từ trước.


Xinbát chấm dứt ở đây câu chuyện về chuyến đi thứ ba của ông. Ông lại sai đưa biếu Hinbát một trăm đồng xơcanh khác, và mời lão sáng mai lại đến ăn cơm và nghe kể về chuyến đi thứ tư.


Hinbát cùng mọi khách khứa ra về. Hôm sau họ trở lại. Đến cuối bữa ăn Xinbát lại cất lời kể tiếp về những bước đường phiêu lưu trên biển của ông.


(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học liên kết xuất bản cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  


www.trieuxuan.info


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
2. Sự tích trầu cau và vôi - Nguyễn Đổng Chi 11.03.2017
Nghìn lẻ một đêm (13) - Antoine Galland 20.11.2016
Nghìn lẻ một ngày (18) - FRANÇOIS PÉTIS DE LA CROIX 20.11.2016
Nghìn lẻ một đêm (14) - Antoine Galland 20.11.2016
Nghìn lẻ một đêm (11): Chuyến đi thứ hai của Ximbat người đi biển - Antoine Galland 12.08.2016
Nghìn lẻ một đêm (10) - Antoine Galland 26.06.2016
Thạch Sùng còn thiếu mẻ kho hay là sự tích con mối - Nguyễn Đổng Chi 11.05.2016
35. Sự tích núi Ngũ-hành - Nguyễn Đổng Chi 30.03.2016
34. Sự tích thành Lồi - Nguyễn Đổng Chi 29.03.2016
33. Sự tích đá Bà Rầu - Nguyễn Đổng Chi 19.03.2016
xem thêm »