tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 23640362
Những bài báo
15.10.2008
Triệu Xuân
Tư liệu: Núi Bài Thơ ở thành phố Hạ Long

Núi Bài Thơ là ngọn núi đá vôi đẹp thuộc trung tâm Tp. Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Trên núi này còn lưu lại các bài thơ chữ Hán của Lê Thánh Tông khắc trên đá năm 1468, và của Trịnh Cương năm 1729. Các bài thơ này đã đem lại tên gọi cho núi. 
Đây là một di tích có giá trị văn hoá lịch sử quan trọng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều bài thơ khắc trên đá của một số vị vua đi kinh lý, cảm hứng trước vẻ đẹp thần tiên của Vịnh Hạ Long đã làm thơ.
Một ngọn núi đá vôi cao 108 m nằm ở trung  tâm  thành phố Hạ Long, kề ngay bên vịnh Hạ Long, nhìn xa trông như một toà lâu đài khổng lồ với ba ngọn tháp nhấp nhô trên những bức tường thành kiên cố. Đó là núi Bài Thơ. Xưa kia núi còn có tên là núi Truyền Đăng.


Lịch sử hình thành


Núi hình thành từ kỷ Đê-vôn, trong cuộc vận động tạo núi Indonesia. Đỉnh cao nhất của núi có hình ngọn mác chĩa lên trời, đấy là cốt + 168 m, phía dưới có nhiều ngọn, nhiều mỏm chông chênh, vách đá dựng đứng, những lèn đá tai mèo nhọn hoắt làm cho núi có một vẻ cổ kính, huyền bí.


Từ nhiều góc độ người ta nhìn thấy núi có lúc dáng như hổ phục, lúc có dáng như sư tử vờn mồi, lúc có dáng như con rồng sắp cất cánh.


Núi Bài Thơ thuở xưa có tên núi Rọi Đèn, tên chữ là Truyền Đăng Sơn. Tương truyền rằng, ngày xưa lính thú gác trên núi hễ có giặc giã đến thì đốt lửa báo về kinh thành. Từ đó xuất hiện tên núi Truyền Đăng.


Năm 1468, vào dịp mùa xuân, năm Quang Thuận thứ 9, đời vua Lê Thánh Tông, cháu nội của Lê Lợi, đưa quân đi tuần ở vùng biển Đông Bắc, có dừng thuyền ở chân núi Truyền Đăng, phía giáp với Vịnh Hạ Long, để uống rượu ngâm thơ. Xúc động trước cảnh đẹp sơn thủy hữu tình của thiên nhiên, nhà thơ - nhà vua Lê Thánh Tông đã cho khắc một bài thơ lên vách đá tạm dịch ý như sau:


Nước lớn mênh mông, trăm sông chầu vào


Núi non, la liệt rải rác như quân cờ, vách đá liền trời


Có tráng trí, nhưng lúc mới dựng nghiệp vẫn theo người, như quẻ


Hàm hào cửu tam (đã định)


Nay một tay mặc sức tung hoành, quyền uy như thần gió


Phía bắc, bọn giặc giã như hùm beo đã dẹp yên


Vùng biển phía đông, khói chiến tranh đã tắt


Muôn thuở trời Nam, non sông bền vững


Bây giờ chính là lúc giảm việc võ, tu sửa việc văn.


 


Bài thơ này được khắc trên một vách đá khá phẳng, cách mặt đất chừng 2,5 m, gồm 56 chữ Hán, khắc liền một mạch, không phân câu như hiện nay chép lại. Trong 56 chữ trên có 21 chữ đã mờ hẳn, không thể đọc nổi, những chữ còn lại rất mờ. Trước phần thơ có phần lạc khoản (đề tựa) gồm 49 chữ, cũng bị phân hóa gần như hoàn toàn. May mắn, bài thơ trên có chép trong thư tịch cổ, nên đó chính là chỗ dựa của các nhà nghiên cứu.


261 năm sau, vào năm 1729 chúa An Đô Vương Trịnh Cương, một nhà thơ có tiếng thời Lê - Trịnh, cũng đem quân đi tuần qua đây. Ông cho đóng quân đồn trú dưới chân núi Truyền Đăng. Đọc thấy bài thơ của vua Lê Thánh Tông, chúa Trịnh bèn họa lại bằng một bài thất ngôn bát cú, lấy theo vần "yên" của bài trước, dùng lại 4 chữ "thiên" "quyền" "yêu" "niên" trong bài của Lê Thánh Tông. Bản dịch của Hà Minh bài thơ họa của Trịnh Cương:


Biển rộng mênh mang, nước dâng đầy


Núi chìm xuống nước, nước tràn mây


Bàn tay tạo hóa sao khéo dựng


Cảnh đẹp thần tiên một chốn này.


Mùi tanh giặc thác còn đâu đó


Cỏ hoa sương khói vẫn còn đây


Ba quân tướng sĩ đều vui vẻ


Bữa tiệc biển khơi chén rượu đầy.


 


Bài thơ của Trịnh Cương được khắc theo lối chữ hành, trên một vách đá nghiêng xuống đất, nên tránh được hủy hoại của nước mưa, đến nay còn rõ nguyên, rất dễ đọc.


Đến đầu thế kỷ 20 nhiều tao nhân, mặc khách đi du ngoạn vùng Hạ Long, gặp bài thơ này lại cho khắc 7 bài thơ nữa, có bài chữ Hán, có bài chữ Quốc ngữ trên những vách đá lân cận. Tổng số bây giờ có chín bài thơ còn lưu truyền trên vách đá.


 (Nguồn: Wikipedia)

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thiếu úy Lữ Anh Dồi bị Trung tá công an Nguyễn Ngọc "giết người diệt khẩu! - Nhiều tác giả 18.08.2018
Diễn từ của GS. Trần Văn Thọ: Huân chương Thụy Bảo của Thiên hoàng Nhật Bản - Tư liệu 17.08.2018
Phê bình bài Đôi điều về Văn hóa Việt Nam – đối sánh văn hóa Trung Quốc- của Trần Quốc Vượng - Hà Văn Thùy 15.08.2018
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - cách dùng mẫu/ mẹ và An Nam Mít (phần 10) - Nguyễn Cung Thông 10.08.2018
Về tiểu thuyết Đẻ sách của nhà văn Đỗ Quyên - Nhiều tác giả 05.08.2018
Thiếu lương thiện trước Quốc hiệu “Việt Nam” - Nguyễn - Chương 04.08.2018
Về Triệu Vũ Đế - Triệu Đà - & nước Nam Việt rộng lớn - Nguyễn - Chương 04.08.2018
Tiếng Việt thời LM de Rhodes - vài nhận xét về tên gọi và cách đọc (P 11) - Nguyễn Cung Thông 02.08.2018
Tình yêu tiếng Việt - Đỗ Anh Vũ 24.07.2018
Đám đông của chúng ta - Dạ Ngân 24.07.2018
xem thêm »