tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 21055836
Những bài báo
02.11.2017
Tư liệu sưu tầm
văn hóa Ẩm thực: Cá vược



Cá vược


Là một tên gọi chỉ chung của nhiều loài cá khác nhau cùng chia sẻ cái tên này. Thuật ngữ cá vược đề cập đến cả các loài cá nước ngọt và cá biển, tất cả đều thuộc một bộ cá lớn hơn đó là Bộ Cá vược (Perciformes).


Cá vược có nhiều điểm tương đồng với cá rô, trong tiếng Anh cũ, thuật ngữ cá vược (bass) có nghĩa là cá rô Cá vược là một đặc sản cho giá trị kinh tế cao bởi dinh dưỡng mà cá vược mang lại vượt trên nhiều loại cá khác, cá vược đã được thuần hóa để nuôi cả trong nguồn nước mặn và nước ngọt. Cá vược còn là loài cá phổ biến trong việc câu cá giải trí hay câu cá thể thao, đặc biệt là ở Bắc Mỹ với các loài cá vược đen.


Các loại Cá vược đen (chi Micropterus, của họ Cá Thái dương (Centrarchidae), như:


Cá vược miệng rộng (Micropterus salmoides)


Cá vược miệng nhỏ (Micropterus dolomieu)


Cá vược mắt đỏ (Micropterus coosae)


Cá vược đốm (Micropterus punctulatus)


Cá vược bãi cạn (Micropterus cataractae)


Cá vược Choctaw (Micropterus haiaka)


Cá vược Guadalupe (Micropterus treculii)


Cá vược Suwannee (Micropterus notius)


Các loại Cá vược ôn đới (họ Moronidae) như:


Cá vược châu Âu (Dicentrarchus labrax)


Cá vược sọc (Morone saxatilis)


Cá vược trắng (Morone chrysops)


Các loại Cá vược châu Á (họ Lateolabracidae), như:


Cá vược Nhật Bản (Lateolabrax japonicus)


Cá vược vây đen (Lateolabrax latus)


Nhiều loài cá khác cũng được gọi là "cá vược" như:


Cá vược Úc (Macquaria novemaculeata) thuộc họ Percichthyidae


Cá vược biển đen (Centropristis striata) thuộc họ Serranidae


Cá vược Chile (Dissostichus eleginoides) thuộc họ Nototheniidae


Cá vược khổng lồ (Stereolepis gigas) thuộc họ Polyprionidae


Cá vược công (Cichla ocellaris) hay cá hoàng đế thuộc họ Cichlidae


Cá chẽm (Lates calcarifer) ở Việt Nam còn được gọi là cá vược hay cá vược trắng.


Họ cá Acropomatidae đôi khi cũng được gọi là cá vược (cá vược biển ôn đới)


Đặc trưng chung cho các loài cá vược trong thể loại này là loài cá sinh sống được cả ở nước ngọt và nước lợ những con Cá vược có cơ thể dài, miệng rộng, không cân, hàm trên kéo tới tận sau mắt. Đầu nhọn, nhìn bên lõm phía lưng (hình dạng lưng lõm) và lồi ở phía trước vây lưng. Vẩy dạng lược rộng. Chiều dài tối đa: 200 cm, cân nặng 60 kg.


Nhiều loài cá vược có kích thước khổng lồ. Cá vược cỡ lớn có con đến 50 kg hoặc 70 kg, chẳng hạn như có cá vược nặng tới 112 kg, chiều dài hơn 1,8m tại Uganda. Kỉ lục hiện hành thuộc về con cá vược nặng 103,5 kg hay như có con cá vược nặng 6,5 kg trên sông Hương ở Việt Nam, có chiều dài hơn 75 cm, vòng bụng hơn 70 cm, cân nặng đúng 6,5 kg, đây là con đạt trọng lượng cao nhất từ trước đến nay.


Màu sắc cá có hai giai đoạn, giai đoạn giống cá thường có màu nâu Oliu ở phía trên với màu bạc ở hai bên lườn và bụng, khi cá sống trong môi trường nước biển và màu nâu vàng trong môi trường nước ngọt, giai đoạn trưởng thành cá có màu xanh lục hay vàng nhạt ở phần trên và màu bạc phần đuôi. Cá vược là loài cá dữ, thức ăn ưa thích là các loại cá tạp, tôm, không ăn thực vật và các loài giáp xác khác nhau như cua, cáy.


Cá vược là loài thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, ít dịch bệnh, dễ thích nghi với môi trường sống và có thể nuôi ở cả khu vực ao đầm nước ngọt, mặn hoặc lợ. Trong môi trường tự nhiên, loài này đẻ trứng quanh năm nhưng mùa sinh sản chủ yếu vào tầm tháng 4, tháng 5. Là loài cá sinh trưởng và phát triển nhanh, cá vược thường đạt bình quân từ 3–5 kg sau 2-3 năm chăm sóc. Không chỉ có ưu điểm vượt trội về tốc độ tăng trưởng nhanh, tỷ lệ sống cao, cá vược còn là một trong những loài có giá trị kinh tế cao, được thị trường tiêu dùng ưa chuộng.


Một số nơi ở Việt Nam đã nuôi thành công cá vược thương phẩm, với số lượng 5.000 con, cỡ 7– 8 cm, sau 9 tháng nuôi, cá đạt trọng lượng bình quân 0,9 kg/con, tỷ lệ sống đạt 71%. Nhiều người đã nuôi cá vược bằng lồng trên đầm phá, đạt hiệu quả kinh tế khá tốt. Trung bình mỗi kg cá vược nuôi có giá từ 180.000 đến 200.000 đồng. Còn cá vược bắt được trong tự nhiên giá bán cao hơn từ 30 đến 50% so với giá cá vược nuôi. Hay mô hình nuôi cá vược theo hình thức quảng canh, lợi nhuận thu được từ cá vược thường cao gấp 5-6 lần so với một số loại cá khác như cá mè, cá chép, cá trắm.


Cá vược được dùng là nguyên liệu để chế biến nhiều món ăn như cá vược hấp bia ăn kèm với bánh đa nem gói chấm mắm chua cay, lẩu cá vược, cá vược hấp, cá vược nướng, cá vược ướp riềng mẻ nướng than. Phần lớn cá vược của Australis được xuất khẩu đi Mỹ và Canada, người ta chọn lựa chọn cá vược của Autralis để chế biến những bữa ăn. Trong đó có thưởng thức bốn món ăn đặc biệt được chế biến từ cá vược gồm Cá vược nướng bơ chanh; Cá vược chiên sốt hoa quả; Cá vược hấp xì đầu; Cá vước chiên sốt gừng tỏi.


Câu cá vược là một trò câu cá thể thao giải trí khá phổ biến trên thế giới như ở Mỹ. Ở Việt Nam, người câu cá thể thao ở Huế đã câu được nhiều cá vược ở phía hạ lưu sông Hương, trọng lượng mỗi con khoảng từ 0,5 kg đến 3 kg. Ngoài ra, thay vì phải ngồi trên thuyền và thả câu hàng giờ, một người ngư dân đã lựa chọn cách đơn giản hơn là dùng tay để câu cá, dùng tay thả một con cá nhỏ xuống nước. Trong vài giây, con cá vược xuất hiện và đớp mồi trên ngón tay.


Người ta đặt tên cho cá vược là "cọp nước" hay cá trặc vì sức mạnh của nó, cá vược được ngư dân xem như là bá chủ cả vùng sông nước. Cá vược bị lưới bủa quanh sẽ quẫy đuôi rất hung tợn. Người săn cá phải tỉnh táo để cho cá vùng vẫy, mặc sức tông vào lưới, đến khi nào cá quật lên ngang mặt lưới thì dùng tay chộp nhanh, ấn hai móng tay mạnh vào hai mang cá. Một buổi săn cá vược thường mất cả giờ đồng hồ, đòi hỏi thợ săn phải có tính kiên trì. Trước khi đi săn, các ngư phủ dày dạn kinh nghiệm thường ngủ lại một đêm trên đầm phá.


CÁ VƯỢC:  Tên chung của một nhóm cá xương, họ Cá mú (Serranidae). Thân dài, dẹt bên, vẩy lược dầy. Bơi nhanh, khoẻ. Ăn động vật (cá con, giáp xác). Sống ở biển, nhưng cũng vào vùng nước lợ và nước ngọt. Phân bố khá rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới, từ Ấn Độ, Đông Nam Á đến Trung Quốc, Nhật Bản. Trong nhóm này, thường gặp loài CV Nhật Bản (Lateolabrax japonicus), loài CV mõm nhọn (Psamdoperca waigiensis). CV Nhật Bản có thân màu nâu nhạt, có nhiều chấm đen ở nửa thân trên, vây lưng và nửa trên vây đuôi, khi lớn mất dần đi; kích thước thường gặp 173 - 310 mm. CV mõm nhọn có thân màu trắng bợt, mép vây lưng thứ hai và vây đuôi màu tro, thường gặp cỡ dài  167 - 220 mm. Thịt CV rất ngon. Là loài cá được ưa chuộng, thường dùng ăn tươi. Một số nơi nuôi CV trong ao, đầm nước lợ, cho ăn bằng cá con. Do đặc điểm hình thái, nên thường dễ lẫn lộn với các loài cá chẽm (Lates calcarifer), có nơi còn gọi CV trắng. (bachkhoatoanthu.vass.gov.vn)


Tư liệu sưu tầm


 


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Nhân Ngày Nhà Giáo VN 20/11/2017: Những điều ít biết về Thầy tôi – Nhà thơ Thúc Hà - Nguyễn Văn Thanh 18.11.2017
Thuyết trình khoa học với chủ đề: Tính hiện đại của tiểu thuyết M. Proust - Tư liệu 13.11.2017
Tàu sân bay Mỹ sẽ đến thăm cảng Việt Nam - Tư liệu 12.11.2017
Hoàng Như Mai văn tập - Đoàn Lê Giang 12.11.2017
hai bài của GS Trần Hữu Tá viết về GS, NGND Hoàng Như Mai - Trần Hữu Tá 12.11.2017
DONALD TRUMP phát biểu tại APEC, Đà Nẵng, ngày 10-11-2017 - DONALD John Trump 11.11.2017
Kiểm dịch "Luận chiến văn chương" (quyển 4) của Chu Giang, Nguyễn Văn Lưu - Kiều Mai Sơn 07.11.2017
Cụ Triệu Thái - cùng thời Nguyễn Trãi - Danh nhân đất Việt - Vũ Truyết 06.11.2017
Cát Bà & huyện Cát Hải, Hải Phòng - Nhiều tác giả 05.11.2017
Tỷ phú cá vược Trương Văn Trị - Tư liệu sưu tầm 02.11.2017
xem thêm »