tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 20782250
Những bài báo
12.10.2017
Vũ Truyết
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử



 Trong quá trình tiến hóa của xã hội loài người xã hội Việt Nam cũng vậy, dân tộc ta cũng trải qua các giai đoạn: nguyên thủy, phong kiến, phong kiến nửa thuộc địa có mầm mống tư bản, hiện nay đang đi theo con đường XHCN. Ở xã hội nào các triều đại nào, chính quyền nào cũng không tránh khỏi quy luật: Vô thường, Lượng Chất (khi lượng thay đổi thì chất thay đổi cứ như vậy mà thúc đẩy vạn vật và xã hội phát triển) mà Sinh trụ hoại không, con người thì vô ngã, mà sinh lão bệnh tử . Chính vì vậy mà lúc thịnh dân giàu nước mạnh làm vẻ vang rạng danh dân tộc, lúc suy tất nhiên sẽ đến lúc có một triều đại hay xã hội khác thay thế để thúc đẩy xã hội loài người tiến lên (Xã hội nào phải đạo hợp lòng dân tồn tại phát triển, còn không thì ngược lại). Theo thống kê dân tộc ta từ xưa đến nay đã trải qua khoảng hơn 100 triều đại và chính quyền. Hầu hết các triều đại đều được xã hội và chính sử công nhận, duy chỉ có triều đại nhà Triệu dưới sự trị vì của Triệu Vũ Đế đến năm 1775 với các tác phẩm “Việt Sử Tiêu Án” của Ngô Thì Sĩ và sau này “Lịch sử cổ đại Việt Nam”, “Lịch sử cổ đại Việt Nam và vấn đề An Dương Vương và Âu Lạc” của học giả Đào Duy Anh, không những đề xuất loại kỷ nhà Triệu ra khỏi lịch sử Việt Nam mà còn có những lời lẽ nặng nề xúc phạm đến Người. Trong mấy chục năm gần đây các trang Blog, tạp chí “Xưa và Nay”  với bài viết “Triệu Đà người là ai?” của Hà Văn Thùy, ”Cổ sử Việt Nam tiếp cận một vấn đề”, “Thử viết lại cổ sử Việt Nam”  của Trương Thái Du là những công trình phản biện làm cho dư luận xã hội và trong giới sử học cần phải nghiên cứu. Để đánh giá một triều đại cho khách quan phải căn cứ vào lịch sử, khảo cổ, thư tịch, và những môn khoa học khác... Không những của ta mà còn của cả Trung Quốc và các nước có liên qua rồi đến hình thái, quá trình hình thành, phát triển tồn vong của xã hội đó... Thật là một công việc vô cùng lớn lao và cũng đầy rẫy khó khăn phức tạp đâu phải đơn giản. Qua nghiên cứu là một người bình thường bản thân thấy thực là một việc quá sức nhưng là một người mang dòng máu Lạc Hồng cũng xin phép góp một số ngu ý phản biện dưới đây, nếu có gì sơ suất mong các vị cao minh nhất là trong giới sử học và những nhà tâm huyết nghiên cứu cổ sử đại xá lượng thứ :


1.     VỀ THẾ GIỚI TÂM LINH TRONG VĂN HÓA THỜ PHỤNG DÂN GIAN


   Trong tâm tưởng cũng như tín ngưỡng dân gian của người Việt từ Cổ tới Kim, Người đã hiển thánh được nhân dân sùng, vua chúa tôn là bậc nhân thần: “Các nhân thần có công gắn bó với sản xuất, dựng nước và giữ nước như quan Hoàng Hai cũng là quan lớn Triệu Tường được coi là người mở nước ở phương Nam... Trang 22 “Thờ cúng trong di tích của người Việt” Nhà xuất bản văn hóa thông tin năm 2003. Người là một trong 10 ông Hoàng được nhân dân tôn sùng thờ cúng trong thế giới tâm linh của người Việt.


         Nhiều địa phương nhân dân lập đền, đình thờ Người tiêu biểu:


1/ Đình “Long Hưng Điện” theo những văn bản đã được xuất bản của “Phái viễn đông bác cổ thuộc Pháp” tập VI tác giả LOIS BEZACIR được GS Nguyễn Khắc Viện sưu tầm tặng viện khoa học Việt Nam, Đình được xếp hạng thứ 24/55 công trình kiến trúc cổ có giá trị thuộc đồng bằng bắc bộ, thờ Triệu Vũ Đế tại thôn Xuân Quang, tổng Đông Dư, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh,nay là thôn Xuân Quang, xã Xuân Quang, huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên theo thần phả của dình lưu lại:


-          Thời Bắc thuộc năm 187, Sỹ Nhiếp làm Thái Thú Giao Chỉ hàng năm xuân thu nhị kì đều đến đình tế lễ Triệu Vũ Đế.


-          Khi dấy binh dẹp loạn 12 xứ quân, Đinh Bộ Lĩnh đến dâng lễ xin Triệu Vũ Đế phù trợ đánh giặc. Sau khi thắng lợi lên ngôi năm 968, Người về đình lễ tạ ban cấp 60 mẫu ruộng, 10 người phục dịch cho đình để phụng thờ Người.


-          Đến đời vua Lê Đại Hành vẫn chuẩn ruộng đất người phục vụ như cũ.


-          Vua Lí Anh Tông trước khi xuất binh đánh giặc Ai Lao xâm phạm bờ cõi cũng đến đình cáo yết, thắng trận trở về vua chiếu xuất công quỹ trùng tu đền.


-          Lê Thái Tổ sau khi chiến thắng quân Minh lê ngôi vua ra sắc phong, tăng người phục dịch lên 18.


-          Vua Lê Thánh Tông trước khi đi đánh giặc Chiêm Thành đến đền làm lễ, sau thắng giặc vua về lễ tạ ban thêm 90 mẫu ruộng.


-          Đến triều đại nhà Nguyễn từ vua Gia Long đến Bảo Đại đều có sắc phong và quy định thờ cúng nền nếp như xưa.


-          Đến nay còn lưu lại khoảng 10 đạo sắc phong của các triều đại.


 Do thời gian và những vô thức của con người nên trong điện còn lưu giữ một số hoành phi câu đối tiêu biểu là 2 bức hoành phi, 2 đôi câu đối ở cột trụ biểu tiền môn :


a/ Hoành phi


+ Thượng điện:

















      



    



   



    Chiêu



    Vu



 Thiên




 


Có thể hiểu: So sánh Người ngang với trời


+ Trung điện:


















    



    





       



   Thiên



   Nam



Đế



   Thủy



 Có thể hiểu: Người là bậc đế vương đầu tiên của trời Nam


b/ Hai câu đối ở trụ biểu chính môn:


+ Mặt trước cột :


                                                                      .


           Bạt     địa  nguy    thôi phương thanh bất    Tùy    Tần  Hán    khứ .


                                                                           .


          Suy      thiên           trụ      anh    tiêu    trường    yết    lạc   hồng  lai .


Có thể hiểu:     Bạt đất mênh mông danh tiếng thơm bất khuất thời Tần Hán


                           Động trời khắp chốn chí anh hùng giữ mãi buổi Lạc Hồng


+ Mặt sau cột:


           伿                                                  .


  Nhât    chỉ                 Tần   vạn      khai  niên Mân  Lạc tuyệt .


                                                                .


Lưỡng  lập            nan    Hán   ức  niên xương thủy đế    vương  cơ .


Có thể hiểu:     Một vùng vắng bóng Tần vạn dặm mở ra tuyệt vời Mân Lạc


         Hai ngôi sánh cùng Hán Triệu niên thịnh vững vàng đế vương


Do chất liệu đắp chữ trải qua nhiều năm tháng thời gian, trung tu tam sao thất bản vốn Nho tự có hạn chắc chắn có sai sót mong các bậc nho nhã chỉ giáo.


Trong đình có điều đặc biệt khác với các ngôi đình khác  (thông thường đình chỉ thờ bại vị không thờ tượng) nhưng ở đây lại thờ tượng Triệu Vũ Đế, Hoàng Hậu, Thái tử, các hoàng tử, các công chúa và các quan trong triều, lính gác.


           Người là Đương Cảnh Thành Hoàng của nhân dân Xuân Quang. Hàng năm, xuân thu nhị kỳ nhân dân địa phương đều tổ chức lễ hội  tế bái tưởng nhớ công ơn nhân đức của người. Mùa xuân vào ngày 13,14,15 tháng 2  (AL), mùa thu vào ngày 15 tháng 8  (AL). Những ngày này không chỉ có nhân dân địa phương mà còn có nhân dân nhiều địa phương trong nước đặc biệt con cháu Triệu tộc đều về tri ân chiêm bái Người. Đình đã được nhà nước, bộ Văn Hóa cấp bằng công nhận di tích cấp quốc gia ngày 03/08/2007.


2/ Đền Đồng Sâm


Cùng với các vị thánh tứ bất tử, thánh mẫu, thánh cha,… trong thế giới siêu linh. Ngoài đình Xuân Quang nhân dân cả nước nhiều nơi đều lập đền thờ Người:


1/ Đền Đồng Sâm ở thôn Bắc Dũng, Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình  (từ thời Triệu Vũ Đế là Thao Bồi rồi Cồn Vông sau là Thượng Gia, phủ  Đồng Sâm, Kiến Xương,Thái Bình). Theo các thần tích còn lưu lại trong đền và những truyền tụng trong dân gian, đền được xây dựng từ lâu có thể từ thời Đinh hay Lê hoặc ít nhất  cũng thời nhà Trần vì nhà Trần đã phong cho người : “Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế “. Đến cuối thập kỉ 10 thế kỉ 20 lần trùng tu có lẽ quy mô lớn nhất do tổng đốc Thái Bình Vi Văn Định chủ trì, công trình hoàn thành được qui mô to lớn, hoành tráng, trang nghiêm đến ngày nay.  (Cụ Vi Văn Định quê Lạng Sơn sau cách mạng tháng 8 thành công, cụ về quê an trí được Hồ Chủ tịch gặp mời cụ ra làm việc giúp dân nhưng tuổi cao sức yếu cụ đã cáo lỗi, song con cháu cụ đều tích cực tham gia khánh chiến chống Pháp. Con trai làm đến Trung đoàn trưởng, con cháu rể người đều là những giáo sư tiêu biểu nổi tiếng như: giáo sư Hồ Đắc Di, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng…)


Trên đất Kiến Xương vẫn truyền tụng câu: “Nam thiên tứ bất tử Chân Định tứ linh từ”, tứ bất tử ai cũng biết còn tứ linh từ là: Đền Sóc Lang, Đền vua Rộc, đền Đồng Sâm và đền Lại Trị. Đền thờ người linh thiêng đã có tiếng từ lâu  (ở Đồng Sâm nhiều người biết truyện vào năm 1979 khi xẩy ra chiến tranh biên giới phía bắc có một số cán bộ ấu trĩ về chính trị,không hiểu hết tường tận lịch sử, không hiểu về tín ngưỡng thế giới tâm linh, quá khích  đã cho gần chục thanh niên mở cung khênh tượng hai vợ chồng Người để quăng xuống sông Trà Lý song dù làm thế nào hai bức tượng vẫn  không nhúc nhích, hoảng quá họ đành bỏ cuộc). Trong đền thờ hai vợ chồng người (Triệu Vũ Đế và Trịnh Thị Hoàng Hậu tượng bằng đồng) ngoài ra đến nay còn lưu lại khoảng 15 sắc phong của các triều đại trước, rất nhiều đồ thờ hoành phi câu đối cổ đặc biệt trên dạ tầu trước của đền có 4 chữ:


















    



    



     


  



       



   Nam



   bang



    Đế



    Thủy



 


          Khẳng định người là bậc đế vương đầu tiên của Nam Việt.


         Theo nhân dân địa phương kể lại sinh thời giáo sư Trần Quốc Vượng có lần về thăm đền đọc 4 chữ trên, giáo sư đã thốt lên đại ý: Đế vương đầu tiền của ta đây rồi…


Đến năm 1991 Nhà nước công nhận xếp hạng di tích cấp quốc gia  (có một chuyện không ít người  dân Đồng Sâm không biết đó là vào năm sau hòa bình trước nguy cơ xâm phạm đền của số ít người dân, tướng quân Hoàng Văn Thái khi về quê đã sáng suốt cho cắm biển  :”Di tích lịch sử cấm xâm phạm”, sự xâm lấn chấm dứt đền được bảo tồn và tu tạo như ngày nay.


Trong đền có rất nhiều câu đối xin giới thiệu câu đối tiêu biểu :


                                                                  . 


Ngũ      dương      vương     khí     nghi     hoàng     ốc .


                                                              .


Bách      Việt          hoa      phong     thụ      xích      kỳ.


Có thể hiểu : Ngũ dương phố vượng vàng xe mái .


                      Bách việt gió hoa đỏ ngọn cờ .


           Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức lễ hội vào ngày 1,2,3 tháng 4 AL  (hình thức lễ hội làng nghề nhưng nội dung vẫn tưởng nhớ Triệu Vũ Đế bởi đây là lòng dân). Vào lễ hội: Chiều 30 rước linh vị Trịnh Hoàng Hậu từ đền Hoàng Hậu về đền Đồng Sâm, mùng 3 kết thúc lại rước linh vị Trịnh Hoàng Hậu hồi về đền Thượng Hòa. Nhân dân trong nước nhiều người về lễ hội tri ân chiêm bái Người. Như vậy người không những hiển linh, linh thiêng mà còn in đậm sâu trong lòng dân tộc, trong văn hóa tín ngưỡng tâm linh của người Việt chúng ta.


3/ Đình Văn Tinh: thôn Văn Tinh, Xã Xuân Canh, Đông Anh ngoại thành Hà Nội  thờ Triệu Vũ Đế là đương cảnh thành hoàng làng. Trong đình còn lưu lại nhiều hoành phi câu đối ca ngợi công đức của người bậc đế vương đầu tiên, tiêu biểu là bức hoành phi ở chính điện:


                                                                  .


                                           Việt    Nam     đế    thủy .


          Khẳng định dứt khoát người là đế vương khởi thủy của đất nước Việt Nam chúng ta.


         Theo thần phả nơi đây lúc đương thời Triệu Vũ Đế đã đặt đại bản doanh để tiến công phả thành Cổ Loa. Đình được xây dựng có lẽ từ thời nhà Trần lúc đầu ở ngoài bãi sau chuyển vào trong như ngày nay. Đình được phong trên chục sắc của các triều đại do thời gian hiện còn lưu lại gần chục sắc phong. Vào ngày 7 tháng 3 AL hàng năm, nhân dân địa phương,nhân dân trong vùng tổ chức lễ hội tế bái tri ân công đức người. Lễ hội năm  2015 nhân dân Văn Tinh đón nhận bằng di tích của thành phố Hà Nội đối với đình thờ Người.


Như vậy trong thế giới tâm linh của người Việt chỉ nêu nên mấy ngôi đình đền ở đâu cũng có hoành phi đặt nơi thiêng liêng nhất với ý khẳng định Người là bậc đế vương đầu tiên của tổ quốc chúng ta: “Thiên nam đế thủy, nam bang đế thủy, việt nam đế thủy “.Ngoai ra còn rất nhiều nơi tôn thờ Người là Đương cảnh thanh hoang như : Ở Bắc Ninh có gần chục làng vẫn còn cả các sắc phong thậm chí có cả tượng, ở Ninh Bình, Nam Đinh, Thanh Oai Hà nội …


4/ Đường phố mang tên : Triệu Đà ở phường Hiệp Phú, quận 9,thành phố Hồ Chí Minh đường phố nhỏ khiêm nhường có từ trước 1975, theo tôi được biết có lúc có ý kiến này ý kiến nọ nhưng đến nay hình như tên phố này vấn không đổi .


II/ CHÍNH SỬ ĐÁNH GIÁ VỀ KỶ NHÀ TRIỆU VÀ TRIỆU VŨ ĐẾ


Chính sử là quốc sử có đầy đủ hiệu lực pháp lý của quốc gia dân tộc được các chế độ cũ cũng như chế độ hiện hành công nhận, tiêu biểu là các bộ quốc sử dưới đây:


1/ Các bộ chính sử từ cổ kim đều khẳng định vai trò triều đại, vị trí của Người đối với dân tộc, đất nước chúng ta, trừ:  (Việt sử tiêu án của Ngô Thì Sĩ viết 1775). Còn lại tiêu biểu là hai bộ sử “Đại Việt Sử Kí” và “Đại Việt sử kí toàn thư” … của Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên đều khẳng định vai trò vị trí của kỷ nhà Triệu và Triệu Vũ Đế trong lịch sử nước nhà tồn tại 97 năm  (207-111 TCN) với 5 đời vua: Triệu Vũ Đế, Triệu Vũ Vương, Triệu Minh Vương, Triệu Ái Vương, Triệu Thuật Vương  (trang 228-211 ĐVSKTT). Tiếp sau đó còn có 14 năm kháng chiến chống nhà Hán của Nguyễn Vũ tức tằng tôn của Triệu Vũ Đế tự xưng là Tây Vũ Vương sau thất bại kỷ nhà Triệu mới chính thức chấm dứt.


2/ “An Nam Chí Lược” của Lê Tắc (mặc dù Lê Tắc cùng Trần Kiệm, Trần Ích Tắc theo giặc) song trong giới sử học nghiên cứu cổ sử cho khách quan đều cho là quyền sử cổ xưa nhất, tác giả là người Việt đầu tiên viết ra có nhiều sử liệu cho chúng ta ngày nay nghiên cứu. Khi viết về gia thế của dòng họ trị vì đất nước trang 94 quyển “Đệ thập nhất” đã nghi đầy đủ về gia thế của họ Triệu  (người chân định… họ triệu làm vua được 5 đời cộng 93 năm.)


3/ Trong: “Thiên nam ngữ lục diên ca lịch sử” có thể cho là dài nhất 8136 câu đã được truyền tụng trong dân gian không rõ tác giả và viết vào thời nào được giáo sư Đinh Gia Khánh và ông Nguyễn Lương Ngọc phiên âm và chú giải đã viết riêng một kỷ nhà Triệu từ dòng 34 trang 102... Dòng 14 trang 115 nhà xuất bản văn hóa cục xuất bản bộ văn hóa Hà Nội 1958:”Triệu kỷ- Vũ Hoàng Đế…Thương thay; Lữ gia không ở được trọn nghĩa vua tôi”


4/ Khâm định Việt sử thông giám cương mục  (Quốc sử quáng triều Nguyễn) từ dòng 6 trang 12 :”năm Giáp Ngọ 207 TCN  (Triệu Vũ Vương năm thứ nhất… (Đến lời phê của vua Tự Đức)...


III/ĐÁNH GIÁ CỦA CÁC HỌC GIẢ VÀ CÁC CHÍNH KHÁCH VỀ TRIỆU VŨ ĐẾ.


Từ cổ tới kim các học giả, chính khách nổi tiếng như Lê Văn Hưu, Đức Thánh Trần cách kỷ nhà Triệu gần 1300 năm cách chúng ta gần 800 năm, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du... Ngay thời đại chúng ta tiêu biểu là chủ tịch Hồ Chí Minh cha già dân tộc cũng nói về người và quốc hiệu của kỷ nhà Triệu.


1/ Đánh giá về Triệu Vũ Đế nhà sử học Lê Văn Hưu viết :”Đại Thuấn là người Đông Di là bậc vua giỏi trong Ngũ Đế, Văn vương người Tây Di là bậc vua hiền trong tam Đại. Thế mới biết người giỏi tự nước không kể đất rộng hay hẹp, người Hoa hay người Di xem ở đức mà thôi. Triệu Đà đã khai phá đất Việt tự làm Đế ngang với nhà Hán giữ đế vương Lão phu mở đầu cơ nghiệp đế vương cho đất nước. Với ta công ấy là to lắm, vậy người làm vua nước Việt nên biết bắc chước Vũ Đế để giữ vững bờ cõi thiết lập việc quân quốc giao thiệp với láng giềng phải lấy chữ đạo, giữ ngôi bằng nhân thì bờ cõi được giữ gìn lâu dài… Kinh dịchcó câu : Biết kiêm nhường thì ngội còn mà đức sáng, ngôi thấp mà không ai dám vượt qua vua chính hợp với câu này” (trang 197 ĐVSKTT). Như vậy các học giả uyên thâm trước kia đã đánh giá về Người ngang với vua Nghiêu, vua Thuấn, vua Văn Vương là các bậc vua sáng của lịch sử cổ đại Trung Quốc.


2/ Trong lịch sử hàng ngàn năm của Việt Nam, triều đại nào cũng đều có sắc phong tôn sùng Người, tiêu biểu sắc phong triều Trần:


                                                                         đế/


             Phiên âm: Khai thiên thế đạo thánh vũ thần triết hoàng đế.


Khẳng định Triệu Vũ Đế là bậc vua hiền minh triết của nước Nam Việt trước kia nay là CHXHCN Việt Nam.


3/ Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn anh hùng dân tộc, thánh cha trong tâm linh người Việt, một trong 10 danh tướng thiên tài thế giới, có ảnh hưởng đến tiến trình phát triển của nhân loại. Trước khi người hóa, vua Trần Anh Tông có ngự giá đến thăm thấy ngài bệnh nặng hỏi rằng :”Nếu có điều chẳng may mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách thế nào?”


         Vương trả lời: “Ngày xưa Triệu Vũ dựng nước vua Hán cho quân, nhân dân làm kế thanh dã, đại quân ra Khâm châu đánh vào Trường Sa. Còn đoàn binh thì đánh úp ngược phía sau đó là một thời… có được đội quân một lòng như cha con thì mới dùng được… vả lại khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc đó là thượng sách giữ nước vậy…” (trang 117-118 ĐVSKTT). Như vậy Hưng Đạo Vương rất coi trọng đề cao vị trí vai trò chống quân xâm lược đầu tiên, giữ vững độc lập Tổ Quốc, và coi Người bậc đế vương đầu tiên của dân tộc.Ngày nay có nhiều bài viết khi trích dẫn câu trên họ thường bỏ đoạn trên chỉ dùng đoạn dưới “…có đươc …sách giữ nước” do vậy rất lấy làm bất cấp ví họ đã có ý đồ rồi .


4/ Sau khi chiến thắng quân Minh trong :”Bình Ngô đại cáo” tuyên ngôn lần thứ 2 của dân tộc, áng hùng văn thiên cổ Nguyễn Trãi viết xin được trích dẫn nguyên văn bằng chữ Hán:


                                                                                      


  Việt   Triệu Đinh       Trần   chi  triệu  tạo   ngã  quốc dư  Hán Đường Tống Nguyên nhi     


                    .


Các    đế  nhất  phương .


        Đại Việt sử ký toàn thư dịch: “Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời gây nên độc lập cùng Hán,Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”. Nhưng bao năm nay trong chương trình giảng dậy ở các trường phổ thông lại cắt bỏ kỷ nhà Triệu lấy từ kỷ nhà Đinh trở đi, đây cũng là biểu hện bài kỷ nhà Triệu .


5/ Trong bài tựa: : Lính Nam Chích quái” Vũ Quỳnh (1453 – 1516) đỗ tiến sỹ năm 26 tuổi không chỉ là nhà nho uyên thâm mà còn là nhà toán học nổi tiếng đương thời người làng Mộ Trạch, Đường An, Hải Dương làm quan tới Lễ bộ thượng thư, từ dòng 16 trang 25- dòng 24 trang 26 ông viết :”Nước ta văn minh bắt đầu nổi lên từ  Hùng Vương tràn trề trong các đời Triệu, Ngô, Đinh, Lý Trần, Lê đến nay đã lan khắp nơi… thần Tản Viên linh thiêng trừ loài thủy tộc nêu nên cho hiển hách ai bảo không phải? Than ôi Nam Chiếu là con cháu Triệu Vũ Đế nước mất lại biết phục thù”.


6/ Trong lịch sử hiện đại, chủ tịch Hồ Chí Minh, cha già dân tộc, vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, danh nhân văn hóa thế giới đánh giá về người, tác phẩm “Lịch sử nước ta” trang 54 dòng thứ nhất và thứ hai được in trong cuốn “Thơ ca cách mạng Việt Bắc 1936- 1945 “nhà xuất bản văn hóa dân tộc, xuất bản năm 1977 người viết:


                                                Triệu Đà là vị hiền quân


                                         Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời


Ngoài ra Người còn có 3 lần nhắc tới quốc hiệu Nam Việt, quốc hiệu của tổ quốc chúng ta thời trị vì của triệu Vũ Đế :


-          Đoạn kết của tác phẩm : Lịch sử nước ta


                                    “Mai sau sự nghiệp hoàn thành


                                 Rõ tên Nam Việt rạng danh Lạc Hồng“


-          Trong tác phẩm “Mười chính sách của Việt Minh” in ở cuốn tuyển tập Hồ Chí Minh tập 3  (1930- 1945 trang 206 dòng thứ 20 Người viết :


                                “Rõ tên Nam Việt rạng danh Lạc Hồng“


-          Rồi đến tác phẩm  “Chơi Trăng “viết ngày 21/08/1942 in trong Thơ ca cách mạng Việt Bắc 1936- 1945 trang 48 dòng 15 người cũng viết


                                        “Nam Việt bao giờ thì giải phóng“


Theo thiển kiến của tôi Người đã thừa nhận Triệu Vũ Đế là bậc minh quân và triều đại Nam Việt tồn tại 5 đời. Tác phẩm Lịch sử nước ta đã được kiểm duyệt in ấn phát hành có ai dám bác bỏ cho đây không phải là quốc sử. Hiện nay những người lớn tuổi ở vùng cao, Bắc, Lạng, Thái, Hà, Tuyên vẫn còn thuộc, bên nôi các em bé vẫn còn văng vẳng bên tai tiếng ru hời hời bài này. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ cứu nước với thể thơ lục bát nhẹ nhàng êm đềm sâu lắng dễ dàng thấm sâu vào lòng người cùng với các thơ ca cách mạng 1936-1945, báo chí tuyên truyền khơi ngợi hun đúc thêm lòng yên nước tạo thành sức mạnh vật chất vượt qua mọi khó khăn ác liệt dưới sự lãnh đạo của Đảng và Hồ Chủ tịch đánh thắng hai đế quốc, làm cho non sông đất nước ta không hổ thẹn với tổ tiên mà còn làm rạng danh vẻ vang dân tộc ta với nhân loại ở thế kỉ 20 và sau này.


         Qua nghiên cứu”Hồ Chí Minh tuyển tập 3”của nhà xuất bản chính trị quốc gia lưu truyền tháng 06/1996, tôi thấy trong đó có in bài “Lịch sử nước ta”trang 221-229 có 208 câu lục bát so với bài “Lịch sử nước ta”in trong tập Thơ ca cách mạng Việt bắc 1936-1945 của NXB văn hóa dân tộc xuất bản năm 1977 thiếu mất 2 câu tra cứu biết đó là :


                                                    Triệu Đà là vị hiền quân


                                            Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời.


Không rõ nhóm biên soạn vô tình hay hữu ý mà biên soạn như vậy, hay đã xin ý kiến Hồ Chủ tịch rồi chăng ? Chắc là không vì khi sách phát hành Người đã đi gặp các cụ Mác- lênin cách đó 27 năm cơ mà. Tôi nghĩ đây không chỉ vi phạm bản quyền theo luật mà còn thiếu tôn trọng tác giả được tôn là danh nhân văn hóa thế giới và cũng có phần bài kỷ nhà triệu. mà xem ra bỏ hai câu thơi ấy thì luật của thể thơ lục bát cũng có vấn đề.


7/ Những ý kiến thuận nghịch từ thế kỷ XVIII đến nay :


          Chỉ đến thế kỷ 18 với bài viết “Việt Sử Tiêu án ” (1775) của Ngô Thì Sỹ muốn bác bỏ ký nhà Triệu. trang 13, 14 sau khi giới thiệu toàn bộ kỷ nhà triệu, trong lời bàn ông lên án Triệu Vũ Đế chỉ là kẻ cơ hội, lợi dụng lúc nhà Hán lục đục chiếm cứ ở Lưỡng Quảng chiếm cứ Âu Lạc. Ông viết : “Duy đối với nước ta thì Triệu Đà không có công gì mà còn là mối họa đầu tiên đấy…”và còn nhiều câu nặng nề nữa, đề nghị đưa ra kỷ ngoại thuộc, quan điểm này của ông đã xuất phát do quá thái về quan điểm tự tôn dân tộc không thừa nhận một ông vua có xuất xứ từ Trung Quốc. Nhưng Vua Tự Đức đã bất chuẩn quan điểm này Người vẫn quyết định để kỷ nhà Triệu trong : “Khâm Định Việt Sử thông giám cương mục”kèm theo lời phê là câu trả lời dứt khoát : “Xét chung từ trước đến sau đất đai của nước Việt ta bị mất về Trung Quốc đã đến quá một nửa, tiếc rằng vua sáng tôi hiền các triều đại cùng nhiều người lỗi lạc hiếm có ở trên đời mà vẫn không thể nào lấy lại được một tấc, đó là việc đáng ân hận lắm, thế mới biết việc thu hồi đất đai đã mất từ đời trước đã làm việc khó chứ không những ngày nay mà thôi, thất đáng thương tiếc. “ (trang 20 Khâm Định việt sử thông giám cương mục). Ngay khi vua Gia Long ông nội vua Tự Đức lên ngôi với chính sách hòa hiếu bang giao để giữ vững quyền độc lập dân tộc khi dâng biểu lên vua Thanh lấy tên nước là Nam Việt  (quốc hiệu này có từ thời Triệu Vũ Đế) không phải là ngẫu nhiên, chính vì thế vua nhà Thanh phê ngược lại là Việt nam cũng không phải ngoài ý đồ phủ định nhà nước Nam Việt cổ đại mà Trung Quốc đã chiếm đồng hóa nhiều phần lãnh thổ của ta.


Trong mấy năm gần đây, trên một số trang Bloggr “Dòng Việt Hùng“, “Một thế giới“…”Hành trình tìm lại Cội nguồn nghiên cứu và đối thoại”của Hà Văn Thủy, “Cổ sử Việt Nam một cách tiếp cận vấn đề”của Trương Thái Du những công trình nghiên cứu có nhiều bài khảo luận viết đòi lại công bằng trung thực cho triều đại nhà Triệu và triệu Vũ Đế tiêu biểu là bài viết “Triệu Đà người là ai”của Hà Văn Thùy đăng trên tạp chí “Xưa và nay”trang 253- 254 tháng 2/2006, sau khi nêu lên những luận cứ về lịch sử được tra cứu các tài liệu cổ sử của ta và Trung Quốc, ông đã đưa ra kết luận làm chúng ta phải suy nghĩ : “Nhưng vì nhầm lẫn mà chối bỏ Người khai sáng quốc gia, trối bỏ cả thời đại quan trọng trong lịch sử lại là nỗi đau, nỗi nhục của dân tộc, đã đến lúc vụ án Triệu Đà Trọng Thủy phải được tính lại…“


Trong bài viết “Thử viết lại cổ sử Việt Nam”của Trương Thái Du có nhiều vấn đề rất cần nghiên cứu từ cương giới tới các địa danh, học thuật… như : Ngay trang đầu tiên ông viết : “Nước Văn Lang sơ khai của người Lạc Việt được hình thành tại động Đình Hồ, Hồ Nam, Trung Quốc. Khoảng năm Nhâm Tuất 1199 TCN các vua hùng cuối trong số18 vua Hùng đã chạy Sở băng qua đồng bằng sông Hồng khoảng thế kỉ 7-8 TCN. Địa bàn của người Lạc Việt cổ gồm Hồ Nam, Quảng Tây, Quảng Đông, Bắc Việt Nam, Đảo Hải Nam. Người Lạc Việt gọi tổ quốc mình là đất nước khi phiên dịch qua Hán Tự nó trở thành Âu Lạc…“


         Tiếp đó ông trích dẫn Hán thư do Bàn Cố viết năm 111 TCN : “Nam Việt dĩ bình tọa dĩ kì địa vi Đạm Nhĩ Chu Nhai Nam Hải Thượng Ngô Uất Lâm, Hợp phố, Giao chỉ, Cửu Chân, Nhật nam cửu quận…”tức là : “Bình được Nam Việt chia làm 9 quận : Chu Nhai Đạm Nhĩ thuộc đảo Hải Nam, Nam Hải, Thương Ngô thuộc Quảng Châu, Uất lâm và phần lớn hợp phố thuộc Quảng Tây, Giao Chỉ, Nhật Nam“.


Thật đáng tiếc sau khi dân tộc thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp năm 1945, không hiểu lòng tự tôn dân tộc để đâu, di ngôn của tiền nhân còn vang vọng trong dân gian và chính sử lưu lại : Tiêu biểu là những lời vua Tự Đức ở trên, vua Lê Thánh Tông dạy ở đây : “Phải giữ gìn cẩn thận đừng để ai lấy một phân núi, một tấc sông của ta, lẽ nào lại vứt bỏ, ngươi phải tranh biện chớ cho họ lấn dần, nếu không nghe còn có thể sai sứ sang phương Bắc trình bày điều ngay ý gian. Nếu ngươi đem một thước núi một tấc sông của Thái Tổ làm mồi cho giặc thì tội phải chu di.. “. Vào năm 1473 trong chiếu gửi cho quan tổng trấn biên cương phía Bắc. Ấy thế mà giới sử học Việt Nam vẫn có một nhóm người theo thuyết “Bản địa của văn hóa văn minh Việt Nam“, theo tư duy cũ của Ngô Thì Sỹ đứng đầu là học giả Đào Duy Anh người thầy của các nhà sử học đương thời. Trong tác phẩm “Lịch sử cổ đại Việt Nam”ông viết : “Nhà Triệu không phải Quốc triều… Triệu Đà là vua nước Nam Việt ở miền Quảng Đông, Quảng Tây đối với nước Âu lạc mà nghĩ xâm lược chỉ là một tên giặc cướp nước chứ không phải một đế vương chính thống.. “. Với câu này ông đã bác bỏ thẳng thừng kỉ nhà Triệu và Triệu Vũ Đế. Trong tác phẩm “Lịch sử Cổ đại Việt Nam giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến”ông còn viết : “Đầu năm thứ 5 (183) Triệu Đà chống lại nhà Hán và tự xưng là Nam Việt Đế nhưng sau khi Cao Hậu chết Triệu Đà lại thuần phục nhà Hán…”theo tôi đây là sách lược bang giao giữa các quốc gia trong khoảng 23 lần xâm lược nước ta, ta đều chiến thắng nhưng sau đó chúng ta lại phải hòa hiếu bảo đảm an bình cho xã tắc để có điều kiện xây dựng dân giàu nước mạnh, vì chúng ta là một nước nhỏ cạnh một nước lớn tránh nỗi thống khổ cho dân  (Có ai mà không biết chuyện trả nợ Liễu Thăng, ngay Hoàng Đế Quang Trung sau khi giệt xong 20 vạn quân Thanh chiến thắng lẫy lừng, quan quân nhà Thanh vỡ mật, bạt vía, kinh hồn, kết thúc vua vẫn phải cử Phạm Công Trị(1788) đóng thay mình sang yết kiến Càn Long cơ mà…)


Song gần đây có nhiều ý kiến của các văn hóa trong và ngoại giới sử học đã lên tiếng  phê phán quan điểm của học giả Đào Duy Anh, tiêu biểu là ý kiến của nhà nghiên cứu cổ sử Việt Nam Trương Thái Du. Trong tác phẩm “Cổ sử việt Nam một cách tiếp cận vấn đề ”trang 24 đã nhận xét đánh giá quan điểm của giáo sư Đào Duy Anh : “Lời lẽ nặng nề của Đào Duy Anh ở trên xét cho cùng mang khẩu khí chính trị nhiều hơn là tinh thần nghiên cứu trung thực khách quan vốn luôn hiện hữu ở nhiều công trình mang tên ông…“


Trong tác phẩm “Cổ sử Việt nam vấn đề an dương vương và nước âu lạc”công bố tập san đại học văn khoa Hà Nội 1957 ông đã dẫn giải, trích dẫn các thư tịch cổ Việt Nam Trung Quốc gần chục lần khẳng định nguồn gốc Thục Phán là người Ba Thục  (các trang 10,12,18,20). Tiêu biểu là câu : “Nếu An Dương Vương tức Thục Phán vốn là người nước Thục…”câu 21 trang 28  (Thục Vương tử xin cứ gọi Thục Vương tử  cho hợp với giao Châu ngoại vực kí…). Như vậy Thục Phán và Triệu Đà đều có nguồn gốc Trung Quốc, có khác là khi lên ngôi Triệu Đà xưng đế ngang hàng Hán Vũ Đế nhưng Thục Phán  thì ông khẳng định : “Thục phán có công chiến thắng  (Vua hùng thứ 18) và dựng nước xây dựng tổ chức nhà nước đầu tiên thì rất xứng đáng được nêu làm vua sáng lập triều đại đầu tiên trong lịch sử tuyệt nhiên không có vấn đề gì ?  (dòng thứ 22 trang 91) Còn Triệu Đà thì : “Đối với dân tộc ta, Triệu Đà là kẻ xâm lược mà lịch sử của nhà Triệu ở nước Nam Việt không thể năm trong phạm vi lịch sử của Việt Nam” (dòng 22 trang 93). Hai người có cùng nguồn gốc, hành động như nhau  (Thục Phán giết vua Hùng cướp nước Văn Lang) với học giả như ông, người ông tôn làm vương, người ông lại chỉ mặt đặt tên là kẻ xâm lược, thực tâm không phải tôi mà mỗi chúng ta không cần có kiến thức cao sang cũng khó mà có thể chấp nhận được. Xin lưu ý thêm vào năm 2005 NXB Văn Hóa thông tin xuất bản cuốn “Tóm tắt Niên Biểu lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư – Trần Hồng Đức trang 15 ; “Phong kiến Trung Hoa thống trị lần thứ nhất (207-39),97 năm quốc hiệu Nam Việt, kinh đô Phiên Ngung  (Quảng Châu, Trung Quốc) “Từ cổ tới nay, ngay như Ngô Thì Sỹ người khởi xướng cho đến giáo sư Đào Duy Anh gay gắt kiên quyết cũng có giám đưa kỉ nhà Triệu vào phong kiến Trung Hoa thống trị lần thứ nhất đâu, mới chỉ là ý kiến còn dè dặt mà thôi.


Đánh giá về kỷ nhà Triệu và Triệu Vũ Đế theo thiển ý của tôi đến ngày nay có lẽ thuộc về hai quan điểm giữa lịch sử và phi lịch sử mang màu sắc chính trị của các nhà chính khách và các học giả trong ngoài giới sử học. Chân lý chưa sáng tỏ nên lâu nay kỉ nhà Triệu ít nhắc đến trên các văn bản hành chính, diễn đàn xã hội, ngay trong chương trình lịch sử bậc phổ thông cũng đưa hẳn kỉ nhà Triệu đưa ra ngoại kỷ…Truyện dân gian Trọng Thủy Mị Châu có nhiều điều thêu dệt li kì vẫn còn hiện hữu đã gieo vào lòng trẻ thơ không khách quan, làm xói mòn đức tri ân của con người . Đánh giá về Triệu Vũ Đế còn thiếu minh bạch nếu vẫn không đúng trên quan điểm sử học chân chính.


Mới đây vào năm 2002 NXB Khoa học xã hội xuất bản cuốn “Việt Nam và cội nguồn trăm họ”của giáo sư Bùi Văn Nguyên. Đây là một công trình khoa học,bước đầu chúng ta thấy Triệu Đà họ Nguyễn nguồn gốc con cháu Vua Hùng tên là Nguyễn Cẩn, tên chữ Phúc Thịnh con đầu của Hùng Dực Công gọi  Hùng Duệ Vương là bác ruột  (Hùng Duệ Vương vua hùng thứ 18 bị Thục Phán gốc Ba Thục, Tứ Xuyên lập mưu giết và cướp ngôi kết thúc 18 đời vua Hùng trong lịch sử thượng cổ dân tộc). Quê gốc Từ Liêm Hà Nội song đây chỉ là một công trình khoa học của một cá nhân chưa đủ chứng lý để khẳng định về mặt pháp lý của lịch sử.


IV/ TRONG CÁC SỰ TÍCH, ĐIỂN TÍCH DÂN GIAN :


           Chính sử có ý nghĩa về pháp lý còn sự tích điển tích trong dân gian có ý nghĩa thực tế xuất phát từ lòng dân minh bạch và góp phần vào khởi thủy cho quốc sử của dân tộc :


1/ Dân ở vùng Đồng Sâm ai cũng biết sự tích Triệu Vũ Đế kết duyên cùng thôn nữ Trịnh Thị Phương Dung sau này trở thành hoàng hậu của triều đại nhà Triệu.


2/ Nhân dân xã Xuân Quan có đình Long Hưng Điện ai cũng hiểu sự tích rồng thăng lên ở đất Hưng Long sau này đến nay là Hưng Long Điện đang tọa lạc thờ Triệu Vũ Đế ở địa phương.


3/ Nhân dân xã Xuân Canh, Đông Anh ngoại thành Hà Nội mọi người cũng am hiểu thần tích trên quê hương mình đã từng được Triệu Vũ Đế làm đại bản doanh khi công phá thành Cổ Loa.


4/ Chuyện dân gian trọng Thủy, Mị Châu chuyện thiên tình ca tình bi thảm oan trái đó chỉ là kết quả âm mưu chính trị hóa của các thế lực chính trị đương thời, được truyền tụng trong dân gian còn được người đời thêu dệt bôi nhọ nhân cách Người.


Trong các thần tích của các đến, đình thờ Người trên đất nước tiêu biểu: Đền Đồng Sâm, Đình Vân Tinh, đình Hưng Long Điện... có nhiều điển tích về triều đại nhà Triệu và Người. Đây là những kho tư liệu quý giá không những được tham khảo mà nó là sử liệu cơ sở ban đầu và còn được bổ sung có ý nghĩa cho chính sử thêm chính xác, xác đáng, trung thực hơn.


V/ TRONG THƯ TỊCH CỔ:


             Do trình độ có hạn nên chỉ được tiếp xúc một số thư tịch cổ: “Việt điện u linh, Kiến văn tiểu lục, cônh chi tạp ký…”tiêu biểu trong đó :


1/ “Lĩnh Nam Chích Quái”xin phép nêu trích dẫn một số nội dung : nói về chuyện phục thù của con cháu Triệu Vũ Đế lập nước Nam Chiếu đứng đầu là Triệu Ông Lý chống lại các triều đại phương Bắc từ Hán, Tấn đến Lương  (trang 143-145) mấy trăm năm sau mới chấm dứt.


2/ Với “Thiên Nam ngữ lục”là diễn ca lịch sử cũng là cổ sử dài  8136 câu nhà Triệu cũng được viết một kỷ riêng  (như đã giới thiệu ở phần chính sử)


VI/ VỀ CƯƠNG GIỚI:


Lịch sử thượng cổ theo tục truyền vua Đế Minh cháu 3 đời vua Thần Nông đi tuần phương nam đến núi Ngũ Lĩnh thuộc Hồ Nam ngày nay lấy con gái Vu Tiên sinh Lộc Túc. Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng Đế Nghi làm vua phương Bắc, Lộc Túc làm vua phương nam xưng là Kinh Dương Vương thủy quốc tổ của chúng ta theo sử sách. Người lên ngôi vào khoảng năm 2879 TCN cách ngày nay khoản 4892 năm. Hiện nay lăng mộ người còn lưu giữ bên bờ sông Dương thôn A Lu, xã Đại Đồng Thanh, huyện Thuận Thành, Bắc Ninh. Quốc hiệu là Xích Quỷ, phía bắc giáp Động Định Hồ, Phía Nam tới Hồ tôn nước Chiêm Thành, tây giáp Ba Thục Tứ Xuyên, đông giáp bể Hải Nam. Sau này Lạc Long Quân con trai của Kinh Dương Vương mở đầu cho triều đại các vua Hùng nước ta khi đó quốc hiệu là Văn Lang thì cương giới cũng nói rõ trang 175 DVSKTT: “Đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, Bắc đến hồ Động Đình, Nam giáp nước Hồ Tôn tức Chiêm Thành nay là Quảng Nam…“


Trong “Việt Nam sử lược ”của Trần Trọng Kim  (NXB tổng hợp TP Hồ Chí Minh) trang 50 in bản đồ Trung Quốc thời Tam Quốc thì biên giới nước ta phía bắc tới sông Tây Giang. Nhưng trong “Lịch sử cổ đại Việt Nam vấn đề an Dương Vương và nước Âu lạc”giáo sư Đào Duy Anh lại căn cứ vào “Quảng dư kí sử học bị khảo”viết tay của Đặng Xuân Bảng: “Nói rằng các phủ Từ Thành, Khánh Viễn, Tư Ân, Thái Bình, Điền Châu, Tự Minh tỉnh Quảng tây đều thuộc  quận Giao chỉ thời Hán thì thấy rằng nước Âu Lạc tất bao gồm một phần miền nam Quảng tây“. Không đả động đến Quảng Đông liệu có phải chăng Quảng Đông có phiên Ngung nơi Triệu Vũ Đế đóng đô không? Trong kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta, nhiều người biết thông tin qua các cuộc nói chuyện thời sự, lúc dẫn chứng về sự ủng hộ của Đảng, Chính phủ nhân dân Trung Hoa với ta có nhắc đến chuyện khi Hồ Chủ tịch gặp Mao chủ tịch có gợi ý định trả lại Việt Nam hai tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây đề tăng cường nhân vật lực đánh Mỹ nhưng Bác đã từ chối khéo.


Từ cổ tới kim chủ quyền lãnh thổ gồm đất liền và hải đảo là vô cùng thiêng liêng và bất khả xâm phạm, quốc gia nào cũng căn cứ vào cương giới tất nhiên phải dựa trên lịch sử. Để nói lên quan điểm của mình tôi xin trích dẫn lời Trương Thái Du ở trang 25 trong tác phẩm “Cổ sử Việt Nam một cách tiếp cận vấn đề: “Như vậy nếu nhìn cương giới của người dân Việt trước thời Triệu Đà gồm Quảng Đông, Quảng Tây và bắc bộ Việt Nam thì việc nhà Triệu tiếp nối An Dương Vương như một triều đại chính thống là hợp lý. Bản thân An Dương Vương cũng đã cướp nước vua Hùng kia mà. Nếu đã loại Triệu Đà nên chăng loại luôn An Dương Vương cũng xếp luôn họ vào kỉ ngoại thuộc”.


Về vấn đề Thục Phán An Dương Vương trang 176-177 ĐVSKTT tập 1 ghi rõ :”cuối thời Hùng Vương vua có người con gái là Mỵ Nương nhan sắc xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng đến cầu hôn vua muốn gả nhưng Hùng hầu can ngăn :”Họ muốn chiếm nước ta, chỉ lấy việc hôn nhân làm cớ mà thôi. Thục vương vì chuyện ấy để bụng oán hận. Mỵ Nương đã lấy Sơn Tinh, Thục Vương tức giận, dặn lại con cháu diệt văn Lang mà chiếm lấy nước. Đến đời cháu là Thục Phán  dũng lược bèn đánh lấy nước”. Đâu có phải là đấng quân tử hảo Hán gì cho cam, nói như Trương Thái Du là phải đạo.


Với góc độ của người bình thường ngoại đạo tôi xin mạo nêu mấy ngu ý nhận định đơn giản góp vào tiếng nói phản biện chung về kỷ nhà Triệu và Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử sau đây:


Thứ nhất: Triệu Vũ Đế là nhân vật lịch sử có thật, kỳ nhà Triệu tồn tại 97 năm với 5 đời vua, nhà Hán đã cử sứ giả Lục Giả sang yết kiến. Triệu Vũ Đế tiếp sứ giả theo tác phong, phong tục người Việt có nghĩa nhà Hán đã thừa nhận. Vào giai đoạn lịch sử đó nước ta còn nhỏ bé, dân ít, nghèo nàn, lạc hậu  (chúng coi ta là dân Man Di) bên cạnh nướcTrung Quốc hùng mạnh. Hán Vũ Đế vừa diệt Tần, Sở thống nhất Trung Quốc. Dưới sự trị vì của Người, dân tộc ta đã vững vàng tồn tại trên dưới 100 năm góp phần vào việc xây dựng nước Việt Nam có nền kinh tế chính trị văn hóa mang bản sắcViệt riêng. Nếu không có Người xuất hiện và những công lao đóng góp của Người dân tộc ta có tránh khỏi họa thôn tính đồng hóa như các dân tộc trong bách Việt anh em không? Không đủ cho chúng ta tự hào về Người và kỷ nhà Triệu hay sao? Dù ở đâu nơi nào có lập đền hay đình thờ người đều có hoành phi khẳng định Người là đế vương khởi thủy của trời Nam hay nước Nam ta.


Thứ hai: không chỉ có chỉnh sử của ta, các triều đại của ta hạ sắc phong tôn sùng Người, mà ngay cả chính sử Trung Quốc cũng công nhận nhà Triệu là một triều đại của một quốc gia chứ không phải một cơ quan, một trấn, một châu nào của Trung Quốc như sử ký Tư Mã Thiên  (145 TCN) đương thời cùng vị vua thứ 5 của nhà Triệu, trong: “Nam Việt Úy Đà Liệt truyện” viết:  “Vua Nam Việt họ Triệu tên Đà người Châu Định…” (661 sử ký Tư Mã Thiên).


Các bậc Nhã nho, Đại nho như: Lê Văn Hưu, Ngô Sỹ Liên sử học gia, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du danh nhân văn hóa thế giới trong: “Đại Việt sử ký, đại việt sử ký toàn thư, Bình Ngô đại cáo, Triệu Vũ Đế quá cảnh”. Đặc biệt trong thời đại Hồ Chí Minh, người cũng có cái nhìn đánh giá trùng hợp với các bậc tiền nhân:


“Triệu Đà là vị hiền quân


Quốc danh Nam Việt trị dân năm đời ”


Như đã nêu ở trên.


Thứ ba : Theo thông lệ quốc tế, một người nhập cư lấy vợ ở một nước nào đó thì đương nhiên sẽ mang quốc tịch nước đó  (Vợ người Trịnh Thị Hoàng Hậu húy danh  Phương Dung ở Đường Thâm, Giao Chỉ nay là làng Thượng Cát  (Đồng Xâm), Hồng Thái, Kiến Xương, Thái Bình). Nếu nhìn nhận về xa xưa người cũng mang trong mình một phần dòng máu Việt Thường cơ mà. Ngày nay dưới ánh sáng của di truyền học, qua ADN được công bố của các nhà khảo cổ lịch sử di truyền…kể cả những nhà khoa học Trung Quốc chứng minh người Hán là sản phẩm giữa người Mông và người Việt Thường. Vào thập niên 70 giáo sư Lương Kim Đính đã đưa ra thuyết nguồn gốc Nho tự phải là Việt Nho chứ không phải Hán nho. Rồi trong : ” Việt Nam cội nguồn trăm họ” của giáo sư Bùi Văn Nguyên cũng chứng minh lên tiếng về vấn đề này đòi lại bản quyền  (Tứ thư, ngũ kinh)… Trọng Thủy con người đã mang trong mình một phần dòng máu Việt, cháu của Người thì chúng ta khỏi phải bàn nữa. Dòng máu đã truyền không những 5 đời vua mà còn cho đến tận ngày nay.


Thứ tư : Trong tác phẩm ” Cổ sử Việt Nam một cách tiếp cận vấn đề ” Trương Thái Du đã đưa ra một ví dụ về lịch sử loài người đã có tiền lệ không phải là không có người nước này làm vua nước kia như Thái Lan thế kỷ 18 có vua là : Trịnh Quốc Anh là người Hán. Ngay nước ta thôi các vua có xuất xứ từ Trung Quốc đâu có hiếm như nhà Trần, nhà Hồ… mà lịch sử hiện đại ngày nay là quá phổ biến.


Thứ Năm : xét về lịch sử thượng cổ qua nhiều truyền thuyết và các kết quả khảo cổ  của nước ta và nước ngoài vào thời kỳ chưa có nước Trung Hoa dân Văn Lang với họ Hồng Bàng đã là một dân tộc phát triển tiến hóa sớm ở Phương Đông với trung tâm là hồ Động Đình, cương giới từ nam sông Dương Tử đất Cổ Nam xuống tới tận Hà Tĩnh ngày nay. Các nhà sử học gọi đây là nền văn minh Thần Nông bao gồm hàng trăm thị tộc chủ quyền thuộc nước Văn Lang do đó mới gọi là Bách Việt, trùng với truyền thuyết Lạc Long Quân, Âu Cơ sinh 100 trứng làm chúng ta rất ngạc nhiên mà sử Trung Quốc cũng gọi như vậy. Sau đó bi dân tộc Mông ở Trung nguyên xâm chiếm và đồng hóa có thời kỳ chỉ còn tồn tại :  Đông Việt ở Triết Giang, Mân Việt ở Phúc Kiến, Nam Việt ở Quảng Đông, Quảng tây, bắc bộ nước ta tới Hà Tĩnh, sau này cho đến ngày nay chỉ còn duy nhất Lạc Việt  (tức Việt Nam tổ quốc chúng ta) không bị Hán hóa. Còn từ bắc sông Dương Tử đất cổ bắc thuộc trung nguyên của dân tộc Mông Nguyên thuộc nền văn minh Hoa Hạ  (tư liệu có từ trang 22- 27 trong sách Việt Nam cuội nguồn trăm họ). vào thời kỳ cuối của chế độ nguyên thủy và sơ khai của chế độ phong kiến các bộ lạc, bộ tộc, cương giới thiết lập chỉ là tương trưng, các tiểu vương quốc thường thôn tính lẫn nhau là bình thường. Nếu ai đã từng nghiên cứu lịch sử Trung Quốc ở thời thượng cổ, sử sách chép ở đầu thời Chu có 1800 nước, đến Xuân Thu còn 70 nước sang chiến quốc chỉ còn 7 nước. Sau đó Doanh chính  (Tần Thủy Hoàng) đã diệt 6 nước : Hán, Ngụy, Vệ, Yên, Sở, Tề thống nhất Trung Nguyên trích dẫn : trang 693  thuộc chương kinh lễ trong ngữ văn Hán Nôm tập 2 ngũ kinh). Bộ lạc, bộ tộc thôn tính lẫn nhau, triều đại này thay triều đại khác đã phản ánh đúng sự chi phối không thể khác của các quy luật : Vô thường, Lượng chất  (sinh thành trụ hoại) đó là quy luật tiến hóa của tự nhiên và xã hội, nói theo cách khác thì cũng thuận thiên mà thôi. Thực ra biên giới giữa ta và Trung Quốc hiện trạng như ngày nay chỉ được xác định đầu thiên niên kỷ thứ 2 TCN, đến hiệp ươc Pháp Thanh 1887- 1895 cắt hai tinh Lai Châu, Điên Biên … đây là vấn đề lịch sử.


Thứ sáu :Trong đời sống xã hội Việt Nam có rất nhiều dòng họ đếu có nguồn gốc từ Trung Quốc như : Vũ, Trần, Đào, Hồ… đâu chỉ có Triệu tộc. học giả Đào Duy Anh nói người có nguồn gốc người Hán ở nam việt miền Quảng Đông, Quảng Tây thì gốc gác nhà Trần ở đâu ? xin nêu một ví dụ trang 7 tập 2 Đại Việt sử ký toàn thư viết : Trước kia tổ tiên vua là người Mân  (Mân Việt) có người nói người Quế Lâm có tên là Kinh đến ở hương Tức mạc phủ Thiên Trường sinh ra Hấp, Hấp sinh ra Lý, Lý sinh ra Thừa, họ Hồ, rồi họ Vũ thủy tổ là Vũ Hồn người Hán sang làm Thứ sử Giao Chỉ thế kỷ 9 (825) và còn nhiều dòng họ khác nữa cũng có nguồn gốc từ Trung Quốc. với lập luận của ông đúng như Trương Thái Du đánh giá là quá thiên cưỡng.


Thứ bảy : Xin phép bàn qua chuyện Trọng Thủy- Mỵ Châu chỉ là chuyện dân gian chứ không phải là chuyện ghi bằng văn tự, qua miệng người đời đã thêu dệt lên nhiều điều có ý thị bôi nhọ nhân cách của Người  (kể cả trên sân khấu). Thực ra thì trên chính trường có hay không đây chỉ là thủ đoạn chính trị của các bậc đại trượng phu trong hành sự thuận theo quy luật ” hưng suy ” của xã hội  (triều đại này suy vong tất nhiên có triều đại khác thay thế) để thúc đẩy sự phát triển xã hội loài người. trong lịch sử loài người không thiếu gì chuyện nói về thủ đoạn chính trị kinh thiên động địa như : Chuyện buôn vua của Lã Bất Vi, kế nam mỹ nhân của Lý Phật Tử dùng con trai Nhã Lang lấy Cảo Lương con gái Triệu Việt Vương cướp ngôi dẫn đến triều đại thứ II của Triệu tộc phải chấm dứt, đất nước lại rơi vào thời kỳ đô hộ của nhà Lương. Rồi đến Trần Thủ Độ dùng mối tình của Trần Cảnh và Lý Chiêu Hoàng tiến đến cướp ngôi nhà Lý... Trước đó để thực hiện âm mưu thủ đoạn của mình ông đã cùng chú hiến dâng Trần Thị Dung người yêu của mình cho thái tử Sản, thủ đoạn tàn bạo độc ác của ông trong Đại Việt sử ký toàn thư còn ghi rõ ở trang 16 tập 2 ” Trần Thủ Độ giết hết tôn thất nhà Lý. Khi ấy Thủ Độ chuyên chính lâu ngày, đã giết Huệ Tông tôn thất nhà Lý đều bùi ngùi thất vọng. Mùa đông năm ấy nhân họ Lý làm lễ tế các vua Lý ở Thái Đường Hoa Lâm Thủ Độ ngầm đào hố sâu làm nhà lên trên, đợi khi mọi người uống rượu say giật máy chôn sống chết ”, sau lại lấy Trần Thị Dung. Thủ đoạn chính trị trên luôn hiện hữu được xã hội, chính trường thừa nhận : ” Chính trị là các  mối quan hệ, thủ  đoạn của các giai cấp trong xã hội ”. Công bằng mà nói thì Trần Thủ Độ cũng có công : Đã xóa bỏ một triều đại đến lúc suy tàn trong hòa bình, giảm thiểu được những cảnh nhồi da nấu thịt, huynh đệ tương tàn đau khổ khốn cùng cho đất nước. Loại nguy cơ mất nước và đồng hóa của Trung Nguyên. Xây dựng một triều đại mới văn võ thịnh trị làm cho đất nước hùng mạnh : 3 lần đánh thắng quân Nguyên mặc dù vó ngựa của chúng đã rầy xéo khắp châu Á, Âu, làm vẻ vang dân tộc ta đến nay và còn truyền đến muôn thủa.


Nếu các chính khách, các học giả nhìn nhận một cách biện chứng lịch sử khách quan thì làm gì có chuyện xúc phạm thậm trí còn có trường hợp khuyến khích người đời xúc phạm Người một cách thiên lệch. Vụ án Triệu Đà- Trọng Thủy – Mỵ Châu và nhân cách công lao đức độ của Triệu Vũ Đế là của lịch sử, sớm hay muộn rồi lịch sử sẽ phán xét đúng bản chất lịch sử, lịch sử là chân thực lòng dân là quang minh từ cổ tới kim dù cho thế nào đi chăng nữa lịch sử bao giờ cũng công bằng, chân lý sẽ sáng tỏ công lao đức độ nhân cách của Người đối với dân tộc nhất định sẽ được trả lại như xưa. Thương tuần tháng 7/ 2017 «  Trung tâm nghiên cứu văn hóa minh triêt «  đã xuất bản cuốn sách : « Nhà Triệu mấy vấn đề lịch sử «,do các giáo sư tiên sỹ của các ngành lich sử, khảo cổ, bảo tàng,nhà nghiên cứu cổ sử …viết, theo : Số xác nhân ĐKKHXB1532-2017CXBIPH/13HNV và số quyết định xuất bản552/NXBHVlN, đây là lần đâu tiên một quyển sách phản biện của các  nhà trí thức trong nước được nhà nước cấp phép, thật là vô cùng ý nghĩa về thực tiễn và lịch sử . Một sự ủng hộ về mặt  pháp lý, đạo lý, nhân văn và tinh thần cho con cháu họ Triệu hướng hành theo chân lý « Uống nước nhớ nguồn «, đòi lại sự công bằng chân chính cho thủy tổ hơn hai ngàn năm trước  .


Để kết thúc bài phản biện này tôi xin trích dẫn lại câu của chủ tịch Hồ Chí Minh nói về Người trong diễn ca  Lịch sử nước ta: Trệu Đà là vị hiền quân/ Quốc danh nam Việt trị dân năm đời…


Hà Nội, 11 tháng 10 năm 2017


 Vũ Truyết


Tác giả gửi www.trieuxuan.info


___


TÀI LIỆU THAM KHẢO


1/Đại việt sử ký toàn thư của Ngô Sỹ Liên


2/ An Nam chí lược của Lê Tắc


3/ Việt Sư tiêu án của Ngô Thì Sỹ


4/ Lịch sử cổ đại Việt Nam, vấn đề An Dương Vương và nước Âu lạc và giai đoạn quá độ sang chế độ phong kiến của Đào Duy Anh


5/ Đại Việt thông giám của Lê Quý Đôn


6/ Thần phả đình Long Hưng Điện Xuân Quang, Văn Giang, Hưng Yên


7/ Thần phả đền Đồng Sâm, Kiến Xương, Thái Bình


8/ Thần phả đình Vân Tinh, Đông Anh, Hà Nội


9/ Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim


10/ Sử ký của Tư Mã Thiên


11/ Thiên nam ngữ lục


12/ Tuyển tập Hồ Chí Minh Tập 3


13/ Thơ ca cách mạng Việt Bắc 1936-1945


14/ Khâm định việt sử tuộng giám cương mục


15/ Triệu Đà người là ai của Hà Văn Thùy


16/ Hành trình tìm về cội nguồn  nghiên cứu và đối ngoại của Hà Văn Thùy


17/ Cổ sử Việt Nam tiếp cận một vấn đề của Trương Thái Du


18/ Thử viết lại cổ sử Việt Nam của Trương Thái Du


19/ Đồ thờ cúng trong di tích của người Việt của Trần Lâm Biền


20/ Lĩnh Nám chích quái của Vũ Quỳnh


21/ Việt Nam cội nguồn trăm họ của Bùi Văn Nguyên


22/ Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam của Phan Huy Lê và Đinh Xuân Liêm


23/ Lịch Triều hiến chương loại chú của Phan Huy Chú


24/ Kinh dịch đạo đức của người quân tử của Nguyễn Hiến Lê


25/ Tinh Hoa trí tuệ của Lão tử của Thu Giang Nguyễn Duy Cần


26/ Cơ sở văn hóa Việt Nam của trần Quốc Vượng


27/ Tóm tắt niên biểu lịch sử Việt Nam của Hà Văn Thư, Trần Hồng Đức


28/ Nguyễn Trãi toàn tập


29/ Việt Nam văn hóa sử cương của Đào Duy Anh


30/ Văn khắc Hán nôm Việt Nam


31/ Lễ tục của Bùi Xuân Mỹ


32/ Thành Hoàng của Vũ Ngọc Khánh


33/ Kinh Lễ.


bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tác phẩm mới cần đọc ngay: Nhà Triệu - Mấy vấn đề lịch sử - Nguyễn Khắc Mai 19.10.2017
Chuyện Đông chuyện Tây và chuyện An Chi chưa kể hết - Tư liệu 17.10.2017
Con chim trong tay ta đây còn sống hay đã chết? - Nguyễn Quang Thiều 16.10.2017
Về hệ thống Trường học sinh Miền Nam ở Miền Bắc - Nhiều tác giả 16.10.2017
Xót thương Đinh Hữu Dư – nhà báo trẻ đầy tâm huyết vừa đi xa - Tư liệu 16.10.2017
Tác phẩm: Nhà nước Xích Quỷ từ huyền thoại tới hiện thực - Trương Sỹ Hùng 13.10.2017
Kỷ nhà Triệu & Triệu Vũ Đế trong dòng chảy lịch sử - Vũ Truyết 12.10.2017
Cái “tôi” của người Việt - Từ Thức 12.10.2017
Không thể được! Thưa Tổng thống Pháp! - Nguyễn Huy Toàn 12.10.2017
Hãy tha cho hai chữ “nhân dân”! - Ngô Minh 11.10.2017
xem thêm »