tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 19683285
Những bài báo
07.04.2017
Nhiều tác giả
Nhân kỷ niệm 5 năm ngày mất của nhà báo - Nghệ sỹ Nguyễn Hải Tùng (Út Nghệ)



Vĩnh biệt Nhà báo, Nghệ sĩ sân khấu Nguyễn Hải Tùng - Một người “sống vì lẽ phải và tình thương”!


Ông Nguyễn Hải Tùng viết nhiều kịch bản sân khấu. Riêng vở hài kịch “Ba Gật” mà ông sắm vai chính, một nhân vật phản diện, a dua, cầu an, nắng bề nào che bề nấy, được khán giả tán thưởng nhiệt liệt. Vở kịch diễn lưu động (Đoàn Văn công xã Tân Thuận, sau này là Đoàn Văn công huyện Ngọc Hiển) hàng trăm buổi.


Về đóng góp của ông Nguyễn Hải Tùng cho sân khấu cách mạng, ông Lê Duy Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam nói: “Trong cuộc sống và trong lĩnh vực sân khấu, anh thường tự nguyện lùi về sau, nhường chỗ cho các thế hệ nghệ sĩ; anh chăm lo, dìu dắt, đào tạo tài năng sân khấu của miền Tây Nam Bộ, đặc biệt là Đoàn cải lương Hương Tràm, Đoàn cải lương Cao Văn Lầu…


Chúng tôi không thể nào quên hình ảnh của anh, anh Út Nghệ, anh Út của chúng tôi!” (trích trong bộ phim tài liệu “Nguyễn Hải Tùng, sâu nặng một tình yêu”, Đài Truyền hình Cà Mau sản xuất, năm 2011).


Trong nhiều bài thơ Cách mạng của ông, bài “Từ trái tim em” viết về người nữ biệt động Hồ Thị Kỷ đã dũng cảm hy sinh khi ấn nổ kíp mìn diệt Mỹ ngụy trước ty Cảnh sát Cà Mau đã được đưa vào chương trình văn học ngoại khóa ở nhà trường.


Bốn câu thơ cuối bài thơ âm hưởng mãi vút cao “Từ trái tim em bừng tiếng nổ/ Cuối trời Tổ quốc lửa dâng cao/ Từ trái tim em nung thép đỏ/ Chảy vào mạch sống vạn đời sau”. Ông còn là người viết nhiều thơ hài hước, trào phúng từ cuộc sống trong kháng chiến.


Đối với những người làm báo chúng tôi, ông Nguyễn Hải Tùng viết hàng trăm bài báo, tất cả đều được viết bằng tấm lòng, bằng cái tâm của một người “Sống vì lẽ phải và tình thương”(tên tập tùy bút được tái bản nhiều lần của Nguyễn Hải Tùng).


Riêng với bạn đồng nghiệp của anh, dù với cương vị nào anh cũng tận tình góp ý, chân tình chu đáo. Cách đây gần 28 năm, tôi có viết một cuốn sách giới thiệu về lịch sử, con người ở vùng đất Bạc Liêu, Cà Mau mà lúc bấy giờ gọi là Minh Hải, do bận ra Hà Nội công tác, anh không trực tiếp góp ý về nội dung cuốn sách ấy với tôi được, anh viết cho tôi một bức thư dài đầy tình nghĩa.


Anh Út ơi, tôi vẫn còn giữ nguyên bức thư anh viết cho tôi tại Bạc Liêu ngày 30-12-1984. Trong giờ phút chia tay anh, tôi xin phép anh trích ra một vài đoạn ở bức thư đó, bức thư chỉ có anh và tôi biết.


… Tôi chưa thấy ở tác giả những sơ hở gì lớn. Chỉ biết sự hạn chế mà không thể nào khắc phục được là Trần Thanh Phương không có mặt ở tỉnh nhà trong các giai đoạn cách mạng sôi sục nhất. Và có lẽ vì không có được hơi thở nóng bỏng của cuộc sống vĩ đại ấy mà các bài viết chưa có sự rung cảm sâu sắc của trái tim mình…


… Người đọc không thể đòi hỏi mọi cuốn sách phải viết theo ý mình. Song, tôi chỉ được nói cái thèm khát ở tác giả có những xúc cảm mạnh mẽ hơn và dừng lại lâu hơn các chỗ, các đoạn cần làm cho nó nổi bật. Cái đó không thể có nó ở bất cứ chỗ nào khác được. Chẳng hạn như Đồng Nọc Nạn, Làng rừng, hạm đội nhỏ trên sông, con đường mòn Hồ Chí Minh trên biển… Nhiều cái độc đáo nữa, tôi cảm thấy nó hơi mờ nhạt, cả những nhân vật thời đại, cũng chỉ thấy loáng thoáng, lướt qua…


Cuộc đời hơn 60 năm hoạt động Cách mạng, ông Nguyễn Hải Tùng dành gần hết tâm lực cho công tác quản lý văn hóa văn nghệ.


Nhà văn Nguyễn Thanh, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cà Mau, trong bài viết“Khiêm tốn một Nguyễn Hải Tùng, sống và viết” (đăng trên Tuần báo Văn nghệ, ngày 9/2/2012) đã đúc kết tố chất người quản lý Văn học Nghệ thuật ở ông Nguyễn Hải Tùng là: “Có kiến thức chuyên môn. Có sức chịu đựng. Bản lĩnh. Biết quý trọng, san sẻ từng trang viết, từng công trình của mỗi cá nhân văn nghệ sĩ; sống hết mình vì họ. Chăm chút xây dựng mối đoàn kết trong cơ quan, trong giới. Tránh thêu dệt cá nhân. Sống đẹp. Sống kẻ sĩ…".


Nay phải vĩnh biệt ông, tôi xin được lập lại câu nói mà soạn giả Lê Duy Hạnh đã nói: “Chúng tôi không thể nào quên hình ảnh của anh, anh Út Nghệ, anh Út của chúng tôi!”.


Trần Thanh Phương


 Nguyên Phó TBT báo Đại Đoàn kết. Tác giả quyển sách MINH HẢI ĐỊA CHÍ


 


Nguyễn Hải Tùng, tên khai sinh: Trịnh Hồng Phương, tên thường gọi Út Nghệ.; sinh năm 1933, tại xã Tân Đức, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Nguyên quán: Xã Định Thủy, huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.


Hội viên Hội Nghệ sĩ Sân Khấu Việt Nam; Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Cà Mau. Hội viên Hội Nhà báo Việt Nam. Nguyên Ủy viên Ban Tuyên huấn Khu ủy Khu Tây Nam Bộ - Trưởng Tiểu ban Văn nghệ; Trưởng đoàn Văn công Khu Tây Nam Bộ; Bí thư Tỉnh Đoàn, Giám đốc Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Minh Hải; Phó Chủ tịch UBND tỉnh Minh Hải; và nhiều chức vụ khác.


Được tặng thưởng: Huy hiệu 50 năm tuổi Đảng, Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất, Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng nhất, Huân chương Quyết thắng hạng nhất.Huân chương Giải phóng hạng nhất, Huân chương Độc lập hạng nhì, Huân chương Lao động hạng nhất.


Tác phẩm xuất bản: Đã in 7 tập tùy bút, bút ký, truyện ký, 2 tập thơ (một tập thơ trào phúng) và nhiều vở kịch, kịch bản phim tài liệu…


Do tuổi cao và lâm trọng bệnh, mặc dù đã được thầy thuốc tận tình cứu chữa, tổ chức cơ quan và gia đình hết lòng chăm sóc, nhưng không qua khỏi,. Ông đã qua đời vào  8 giờ 40  phút ngày 31 tháng 3 năm 2012 (nhằm ngày 10 tháng ba năm Nhâm Thìn), thọ 80 tuổi.


Nguyễn Hải Tùng - một nhân cách, một tấm gương


Lực lượng văn nghệ báo chí Cà Mau, ĐBSCL và TP. Hồ Chí Minh vừa thương tiếc tiễn biệt Nhà báo - Nhà thơ - Nhà hoạt động văn hóa xuất sắc Nguyễn Hải Tùng đã ra đi vào cuối tháng 3 vừa qua, thọ 80 tuổi.


Nguyễn Hải Tùng - tên khai sinh Trịnh Hồng Phương, tên thân mật là Út Nghệ. Cái tên Út Nghệ là do anh quá nổi tiếng trong hoạt động văn nghệ kháng chiến nhưng nhiều người dân không biết tên thật của anh (thời chiến cán bộ hay bí mật tên và gọi bằng thứ) nên bà con cứ kêu đại là “Ông Út mần văn nghệ”, “Anh Út trưởng đoàn văn nghệ” riết rồi chết danh luôn!


Trịnh Hồng Phương sinh ngày 23-11-1933 tại làng Tân Thuận, Đầm Dơi, Cà Mau - vùng đất nổi tiếng là căn cứ địa cách mạng từ trước Khởi nghĩa Nam kỳ 1940, nơi đây hội tụ nhiều giá trị văn hóa truyền thống, đặc biệt là văn hóa kháng chiến nên Trịnh Hồng Phương trưởng thành rất sớm.


Trong giới hạn một bài báo khó có thể nói hết những đóng góp của Nguyễn Hải Tùng trên các lĩnh vực văn học, thơ và báo chí. Anh lại là người khiêm tốn nên nhiều tác phẩm văn học, bài báo, bài nói chuyện của anh từ trong chiến tranh vẫn tươi nguyên giá trị hiện thực cho hôm nay chưa được phổ biến. Do anh dành hết thời gian cho công tác quản lý nên nhiều đề cương kịch bản có giá trị nghệ thuật và lịch sử rất sâu sắc còn đang dang dở, ngay cả hồi ký của mình anh cũng mới viết được phần mở đầu. Nhà xuất bản Mũi Cà Mau từ hơn 20 năm trước có chủ động in một số đầu sách của anh. Tuy rất khiêm tốn về số lượng nhưng trong đó có nhiều tác phẩm thơ, bài báo, bài nói chuyện của anh làm lay động lòng người. Trong bài thơ ca ngợi Anh hùng Hồ Thị Kỷ (ôm mìn cảm tử giết giặc) anh viết:


Từ trái tim em bừng tiếng nổ


Cuối trời Tổ quốc lửa dâng cao


Từ trái tim em nung thép đỏ


Chảy vào mạch sống vạn đời sau!


Tôi có dịp sống và làm việc gần gũi với anh nên chứng kiến nhiều buổi anh nói chuyện với thanh niên, học sinh và trí thức trẻ. Nguyễn Hải Tùng có một sức hút mãnh liệt với mọi người. Anh không chỉ là nhà lãnh đạo văn hóa thao lược dạn dày kinh nghiệm, có tài hùng biện xuất sắc mà sức hút của anh nằm ngay ở cái tâm và tấm lòng đầy yêu thương, trách nhiệm đối với con người. Cùng với trí thông minh và sự sâu sắc, tinh tế trong cách nhìn nhận vấn đề, đánh giá con người và cuộc sống, Nguyễn Hải Tùng chinh phục được mọi người kể cả những người khó tính nhất. Trong tất cả các tác phẩm và những bài nói chuyện của anh tràn ngập nghĩa tình với quê hương xứ sở và tình con người. Cả khi anh lên án cái xấu hay phê phán một ai đó đều đứng ở góc nhìn của một nhà hiền triết để “cứu sống” con người, vực dậy tài năng bằng lòng tin và tình thương yêu. Anh kêu gọi “Sống vì lẽ phải và tình thương” (đầu đề bài nói chuyện với lực lượng trí thức khối văn hóa - xã hội tỉnh Minh Hải ngày 5- 8-1984) đã tạo một sức mạnh tinh thần to lớn. Cho đến tận bây giờ “Sống vì lẽ phải và tình thương” đã trở thành tâm niệm sống của nhiều người. Ở Cà Mau, khi nhắc đến Út Nghệ nhiều người quen miệng gọi anh là “Ông lẽ phải và tình thương”! Và anh, suốt cuộc đời đã sống bằng tình thương và lẽ phải!


Với bản tính hiền lành khiêm tốn, đầy trách nhiệm và xả thân, Nguyễn Hải Tùng đã có 55 năm tuổi Đảng trong sạch liêm khiết. Anh luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bằng những đóng góp không nhỏ cho quê hương đất nước. Thế nhưng Nguyễn Hải Tùng luôn luôn đứng bên lề của những hào quang và bổng lộc... Ngay cả khi là phó chủ tịch tỉnh, xong việc về nhà anh vẫn mặc quần đùi giúp vợ nấu cơm, tắm cho bầy heo, anh sống giản dị, thanh bạch, ngẩng cao đầu trước mọi thách thức khắc nghiệt của cuộc sống bằng bản lĩnh, tài năng và đức độ của một Nhà Báo - Nhà Nghệ Sĩ - Một Con Người chân chính!


Chia tay anh về cõi vĩnh hằng nhưng những gì anh để lại cho lớp trẻ, cho quê hương Cà Mau, cho đất nước là còn mãi với thời gian!


Đạo diễn Lâm Quang Tèo - Hội viên Hội Nghệ sĩ sân khấu VN.


Nhà báo Nguyễn Hải Tùng - chân dung một con người bình dị


Khi tôi đặt bút viết bài này thì gia đình vừa làm lễ giỗ tròn 1 năm của nhà báo Nguyễn Hải Tùng - bác Út Nghệ đáng kính của bao thế hệ làm báo, làm văn nghệ vùng đất Tây Nam bộ.


Nhớ lại ngày này năm ngoái do bận chuyến công tác ở Bình Thuận mà tôi không về được để thắp một nén nhang tiễn đưa ông khiến lòng tôi luôn day dứt...


Nhà báo Nguyễn Hải Tùng còn có tên thật là Trịnh Hồng Phương, từng giữ cương vị Giám đốc Sở Văn hóa và Thông tin tỉnh Minh Hải rồi Phó Chủ tịch UBND tỉnh Minh Hải, nhưng cái tên Út Nghệ được người ta biết nhiều hơn cả, bởi cái tên ấy gắn liền với ông và mọi người từ thời "nóp với giáo lên vai" vào bưng biền kháng chiến theo tiếng gọi "cứu quốc" của đất mẹ.


Với công tác báo chí, trong thời kỳ bao cấp, khi người ta còn lo ăn, lo chạy ấy vậy mà ông quyết định xin giấy phép thành lập tờ báo ảnh cho tỉnh lấy tên là Báo ảnh Đất Mũi - tờ báo ảnh duy nhất của địa phương xét trên bình diện toàn quốc mà sức sống của nó vẫn còn mạnh mẽ cho đến tận bây giờ. Cũng chính có tờ báo đặc biệt này mà tỉnh Minh Hải trước đây và Cà Mau, Bạc Liêu bây giờ có một đội ngũ nhiếp ảnh gia đông đảo, phần lớn được công nhận là nghệ sĩ nhiếp ảnh Việt Nam và đoạt nhiều giải thưởng ảnh quốc gia và cả quốc tế.


Ông cũng là người đặt nền móng cho nhiều công trình để đời của tỉnh Minh Hải như lặn lội ra tận Hà Nội xin máy móc, thiết bị để xây dựng đài phát thanh Cà Mau; là người đầu tiên xây dựng ngành in Cà Mau - một “nhà in” in bằng “công nghệ” viết giấy sáp trên bảng kẽm, in ấn kéo mực bằng quai guốc, bẹ chuối mà phát hành tờ báo Hòa Bình, Thống Nhứt. Ông làm mọi việc từ mở đài phát thanh chép tin đọc chậm rồi trực tiếp viết trên giấy sáp “chế bản in”. Do phải viết nhiều, bàn tay ông chai sần vì viết nhiều nhưng tuyệt nhiên chữ viết lại rất đẹp.


Những bài báo của ông đều rất chân phương dễ đọc, dễ nhớ và cũng dễ hiểu. Các bài viết của ông thường là thể loại chính luận phục vụ nhiệm vụ chính trị của địa phương nhưng nó được viết bằng cảm xúc trong tim của người nghệ sĩ trải qua chiến tranh, kinh nghiệm từ thực tiễn cho nên người đọc thấy văn phong của ông gần gũi, trong sáng dung dị nhưng có hồn thật. Ở đó thể hiện từ một người nhìn thấy nhiều sự kiện vì hoạt động văn hóa xuyên suốt nên ông đúc kết nhiều sự kiện văn hóa có tính khái quát cao như viết về nghệ sĩ Cao Văn Lầu - người đã để lại cho đời bài Dạ Cổ Hoài Lang bất hủ, đánh giá về nhân vật Bác Ba Phi, hay câu chuyện về Làng Rừng hoặc cuộc đấu tranh cho công lý và lẽ phải trong vụ án Đồng Nọc Nạn, ông đều có những kiến giải một cách thuyết phục.


Hay bài thơ “Từ trái tim em” ông viết vào năm 1972 về nữ biệt động Hồ Thị Kỷ trở nên quen thuộc với nhiều thế hệ độc giả, bài thơ đã đi vào nhạc, vào phim, vào điệu múa và được đưa vào chương trình dạy của một số trường phổ thông trung học của tỉnh Cà Mau. Tôi thích nhất mấy câu trong bài thơ đó viết: “Từ trái tim em bừng tiếng nổ/ Cuối trời Tổ quốc lửa dâng cao/ Từ trái tim em nung thép đỏ/Chảy vào mạch sống vạn đời sau!”.


Với lớp trẻ cầm bút làm nghiệp báo, ông thường chỉ bảo chí tình. Bản tính ông rất trầm lặng nhưng cái “trầm” ấy là để bình tĩnh soi xét mọi việc, để nhận thức đúng đắn bản chất của hiện tượng, sự việc. Còn nhớ vào khoảng đầu những năm 2000, ở Cà Mau có một vị Chủ tịch tỉnh bị khởi tố nhưng tội danh quy kết thì không rõ ràng, nhiều tờ báo cùng nhau đưa tin bài bất lợi cho ông cựu Chủ tịch. Áp lực của dư luận mạnh đến nỗi nhà trường nơi hai con gái ông này theo học buộc phải cách chức luôn chức lớp trưởng. Chúng tôi về Cà Mau để viết về vụ án này. Tuy nhiên, khi nói chuyện với bác Út Nghệ chúng tôi mới thấy phía sau vụ án này có điều gì ấy mờ ám. Nhưng bác Út không nói thẳng ra điều mờ ám ấy là gì mà chỉ khuyên chúng tôi: Nhận định của người làm báo là tối quan trọng vì nó định hướng dư luận, nghề nghiệp khác có sai thì hậu quả có khi còn sửa chữa kịp nhưng với nhà báo mà viết sai thì có khi sẽ hủy hoại một đời người có khi cả một gia đình hay một tập thể. Cho nên viết về cái sai của đồng chí mình, thì nên dùng ngôn từ gì để thấy rằng cái sai đó bắt nguồn từ nguyên nhân nào để cảnh báo cho xã hội tránh vấp phải những sai lầm khuyết điểm tương tự chứ không phải viết theo kiểu “truy cùng, giết tận”. Có như vậy mới là nhà báo chân chính.


Phải nói là sau lần nói chuyện với bác Út Nghệ, tâm trạng chúng tôi xáo trộn vô cùng. Chúng tôi lại tìm tư liệu theo hướng ngược lại, chứng minh, ông Chủ tịch tỉnh không phạm tội. Sau đó, nhiều tờ báo của Trung ương đăng bài khẳng định vị ông Chủ tịch này vô tội. Vụ án được đình chỉ, ông cựu Chủ tịch được minh oan. Sau khi nghỉ hưu, bây giờ ông làm Chủ nhiệm Đoàn Luật sư tỉnh Cà Mau. Có lẽ ông này cũng không bao giờ được biết có một nhà báo lão thành đã âm thầm bênh vực ông - bênh vực cho lẽ phải.


Những người tham gia kháng chiến cùng thời với bác Út Nghệ thì đều cho rằng phong trào văn hóa cách mạng ở miền Tây Nam bộ trong kháng chiến do ông lãnh đạo phát triển hết sức mạnh mẽ. Phong trào dùng “Tiếng hát át tiếng bom” rồi hàng loạt các đoàn văn công từ cấp xã đến tỉnh ra đời. Lời ca, tiếng đàn văn công là món ăn tinh thần cho đồng bào vùng kháng chiến, là liều thuốc giảm đau cho thương binh và cũng là lời kêu gọi binh lính bên kia chiến tuyến mang súng quay về với cách mạng. Những câu chuyện các đoàn văn công về địa phương vận động tòng quân không cần làm công tác chính trị tư tưởng, đọc hiệu triệu gì cả mà chỉ qua một vở kịch, một bài hát kêu gọi là lớp lớp thanh niên lên sân khấu ghi tên tòng quân làm bộ đội mà không kịp về nhà để xin cha mẹ; hay những trận công đồn địch chỉ cần bắc loa gần đồn các cô văn công đàn hát là binh sĩ trong đồn đã rệu rã tinh thần buông súng về với vợ con, gia đình hoặc theo cách mạng.


Ở những năm cuối đời dù bị tai biến, đi lại khó khăn nhưng ông đã dành thời gian hoàn thành quyển hồi ký “Ngày ấy lùi xa”. Tên quyển hồi ký giống như tính cách của ông khi luôn hoài niệm về quá khứ dù ở đó có quá nhiều khó khăn nhưng lại đầy ắp tình người - thời hào hùng của lịch sử dân tộc. Là người từng nắm giữ vị trí then chốt, quan trọng trong công tác lãnh đạo văn nghệ miền Tây Nam bộ một thời nên những trang viết của ông tươi rói với đầy ắp sự kiện, kỷ niệm sống động về đời và người cho một giai đoạn chuyển mình của lịch sử. Vì thế, có thể nói đây là một tập sách bổ ích, nhiều tư liệu quý cho bạn đọc nếu muốn tìm hiểu, nghiên cứu về những ngày tháng kháng chiến ở vùng châu thổ đồng bằng sông Cửu Long.


Nhà văn Bích Ngân, con gái cố nhà báo ghi lại những dòng đầy cảm xúc khi nhớ lại tờ di chúc ông làm trước lúc đi xa khiến người đọc không khỏi chạnh lòng về lối sống quá đỗi chân thành mà chung thủy nghĩa tình của ông: “Và về “hậu sự”, ông dặn: “Để má, các con, bà con và cơ quan đoàn thể đỡ phải tốn kém, ba muốn thân xác mình được hỏa thiêu”. Tôi nhớ, khi đọc đến đoạn này, tôi đã buông rơi tờ di chúc, bật khóc, rồi nói: “Không, ba sửa di chúc lại đi. Hỏa thiêu nóng lắm, tụi con không chịu nổi đâu! Ba phải có một nơi chốn…”, tôi lại khóc, không nói tiếp được”.


Có lẽ nước mắt của đứa con gái đầu lòng đã làm ba thay đổi ý định. Còn “nơi chốn” của ba, dĩ nhiên là đã được “dành phần” trang trọng ở nghĩa trang của tỉnh Cà Mau. Nhưng nếu ba “đi trước” thì ông sẽ nằm ở đó một mình, còn má tôi, sẽ phải “nằm” chỗ khác, lẻ loi. Mà ba thì muốn lúc nào cũng được ở bên cạnh má, ngay cả khi “về nơi chín suối”. Rồi ông dí dỏm nói: Cả đời ba sống cùng tập thể, sống vì tập thể, đến lúc thành người thiên cổ, tụi con đừng để ba má phải xa nhau”.


Cuộc đời hơn 60 năm hoạt động cách mạng, nhà báo Nguyễn Hải Tùng dành gần hết tâm lực cho công tác quản lý văn hóa văn nghệ. Từ những hạt mầm làm công tác văn hóa văn nghệ cách mạng do ông gây dựng đến nay một thống kê chưa đầy đủ ở tỉnh cực Nam của Tổ Quốc này đã có 150 hội viên các chuyên ngành Văn học nghệ thuật Trung ương. Tác giả Lê Duy Hạnh, Phó Chủ tịch Hội Nghệ sĩ Sân khấu Việt Nam đúc kết: “Trong cuộc sống và trong lĩnh vực sáng tạo nghệ thuật, anh Út thường tự nguyện lùi lại phía sau, nhường chỗ cho các thế hệ nghệ sĩ. Anh chăm lo, dìu dắt, đào tạo tài năng sân khấu của miền Tây Nam bộ”.


Nhà văn Nguyễn Thanh, nguyên Chủ tịch Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Cà Mau, trong bài viết “Khiêm tốn một Nguyễn Hải Tùng, sống và viết” (đăng trên Tuần báo Văn Nghệ, ngày 9/2/2012) đã nhận xét về ông Nguyễn Hải Tùng: “Có kiến thức chuyên môn. Có sức chịu đựng. Bản lĩnh. Biết quý trọng, san sẻ từng trang viết, từng công trình của mỗi cá nhân văn nghệ sĩ; sống hết mình vì họ. Chăm chút xây dựng mối đoàn kết trong cơ quan, trong giới. Tránh thêu dệt cá nhân. Sống đẹp. Sống kẻ sĩ…"


Quang Trung.


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Biển Đông lại sắp…dậy sóng!? - Nguyễn Hồng Lam 22.06.2017
Nhà báo Nguyễn Công Khế nói về những 'điều cấm kỵ' - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
Nghề báo lắm hiểm nguy - Nguyễn Công Khế 22.06.2017
‘IS đã chính thức thừa nhận thất bại’ - Nhiều tác giả 22.06.2017
Thủ tướng Hun Sen đi bộ qua biên giới, thăm lại 'đường cứu nước' - Nhiều tác giả 21.06.2017
Kiếp sau tôi vẫn chọn nghề báo - Trần Thị Sánh 21.06.2017
Muôn lần bất diệt con người! - Lưu Trọng Văn 19.06.2017
Tôi là dân Quận 3 - Sơn Trà - Võ Kim Ngân 19.06.2017
Làm báo thuở thanh xuân - Trịnh Bích Ngân 19.06.2017
Từ Trường thi Gia Định đến Nhà văn hóa Thanh niên - Hồ Tường 18.06.2017
xem thêm »